Vai trò của Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường hiện nay - pdf 19

Download miễn phí Đề tài Vai trò của Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường hiện nay



MỤC LỤC
 
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Khái niệm NHTW
2. Chức năng, nhiệm vụ của NHTW trong nền kinh tế thị trường
2.1. NHNN là Ngân hàng phát hành
2.2. Ngân hàng của Chính Phủ
2.3. Ngân hàng của các Ngân hàng
2.4. NHTW và việc thực hiện chính sách tiền tệ
CHƯƠNG II: NHNN VIỆT NAM TRONG SỰ CHUYỂN ĐỔI TỪ NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC.
1. Sự cần thiết phải xây dựng các thể chế tài chính hữu hiệu trong nền kinh tế chuyển tiếp.
2. Vai trò của khu vực Ngân hàng.
3. Việt Nam trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống Ngân hàng
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦNG CỐ VÀ HỖ TRỢ VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
1. Một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động của NHTW.
2. Một số giải pháp khắc phục
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
 
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

g không thể bắt các ngân hàng phải đi vay. Hơn nữa các nghiệp vụ thị trường tự do dễ dàng được đảo ngược lại hơn là đảo ngược những thay đổi trong chính sách chiết khấu, việc can thiệp vào thị trường mở sẽ được ưa chuộng hơn kỹ thuật tái chiết khấu vì nó mềm dẻo hơn.
Đối với các nghiệp vụ tái chiết khấu, chính các NHTW đóng vai trò bị động, do phải đáp ứng nhu cầu hàng ngày của NHTW. Trong hệ thống thị trường mở, NHTW đóng vai trò chủ động bởi vì chính NHTW yêu cầu vốn khả dụng cho thị trường tiền tệ. cách thị trường mở không chỉ cung cấp vốn khả dụng cho các NHTM trên thị trường tiền tệ mà còn rút vốn khả dụng ra khỏi thị trường tiền tệ. Điều đó giúp NHTW kiểm soát tốt hơn lượng vốn khả dụng ngân hàng và lãi suất trên thị trường.
Cũng cần nói thêm rằng, tuy hai công cụ trên đều có những mặt ưu nhược điểm riêng nhưng chúng đều có mục đích là đảm bảo tái cấp vốn của NHTW cho NHTM.
Ngoài hai công cụ trên, NHTW còn sử dụng công cụ là quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Rd)
+ Dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền mặt với các khoản ký gửi mà NHTW yêu cầu NHTM phải duy trì.
Khoản dự trữ bắt buộc là khoản tiền dự trữ cần thiết để NHTM có thể ứng phó với những luồng tiền mặt rút ra bất ngờ.
Nếu một khoản dự trữ bất buộc đang có hiệu lực, các NHTM có thể giữ lượng tiền mặt cao hơn dự trữ tiền mặt theo yêu cầu nhưng không được giữ ít hơn. Nếu lượng tiền mặt của họ giảm xuống xuống thấp hơn lượng bắt buộc, họ phải vay tiền mặt ngay, thường là vay của NHTW để khôi phục lại tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Khi NHTW quy định một khoản dự trữ bắt buộc cao hơn tỷ lệ dự trữ mà các ngân hàng thận trọng phải duy trì trong bất kỳ tình hình nào thì hậu quả của nó là giảm bớt việc tạo ra những khoản ký gửi của các ngân hàng, làm giảm giá trị của thừa số tiền và giảm lượng cung tiền đối với bất kỳ cơ số tiền bất định nào.
Một khoản dự trữ bắt buộc có tác dụng như một khoản thuế đánh vào các ngân hàng bằng cách bắt buộc họ phải duy trì một khoản dự trữ cao hơn trong tổng số các khoản có dưới dạng dự trữ ngân hàng và một tỷ lệ thấp hơn của các khoản cho vay có lãi suất cao.
Hệ thống dự trữ bắt buộc tạo nên một mối quan hệ máy móc giữa tạo tiền do NHTM thực hiện (bằng việc làm xuất hiện tiền gửi) và nhu câù tái cấp vốn tại NHTW. Hệ thống này rất mềm dẻo vì tuỳ theo mục đích của chính sách tiền tệ và tuỳ theo mức vốn khả dụng ngân hàng, NHTW có thể điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đặc biệt, việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể điều hoà vốn khả dụng ngân hàng khi có nguồn thu ngoại tệ lớn. Hệ thống này có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng bởi vì nó áp dụng không phân biệt mọi ngân hàng trong toàn hệ thống.
Ba công cụ kể trên đây có tác dụng tổng quát là kiểm soát khối lượng cho vay của ngân hàng, mức lãi suất và khối lượng tiền tệ nói chung. Nhưng ngân hàng trung gian còn thoải mái ở chỗ cho ai vay tuỳ sự xét đoán của mình, điều đó có nghĩa là ba công cụ nên chưa ảnh hưởng đến cơ cấu tín dụng mà ngân hàng trung gian cấp cho khách hàng. Nếu NHTW không áp dụng chính sách kiểm soát tín dụng, ngân hàng trung gian sẽ chỉ hướng vào những nơi có thể thu được lợi nhuận cao ít chú trọng tới những ngành có hoạt động lợi ích xã hội nhiều hơn. Chính sách kiểm soát tín dụng sẽ giới hạn mức tối đa cấp cho những ngành hoạt động nào được xem như ưu tiên, cần yểm trợ tín dụng mạnh hơn. Chính sách kiểm soát tín dụng gồm hai nội dung chính là hạn mức tài sản và quản lý lãi suất.
chương II
ngân hàng nhà nước Việt Nam trong sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
1. Sự cần thiết phải xây dựng các thể chế tài chính hữu hiệu trong nền kinh tế chuyển tiếp
Qua qua trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường là hết sức khó khăn và phức tạp. Kinh tế trong giai đoạn chuyển tiếp có khu vực kinh tế tư nhân nhỏ nhưng phát triển rất nhanh và nhanh chóng và khu vực kinh tế Nhà nước ngày càng co lại. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp kinh tế tư nhân không xuất hiện ngay lập tức mà dần theo thời gian và khu vực kinh tế Nhà nước cũng không hề có biểu hiện mất ngay.
Với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, xây dựng được một hệ thống tài chính vững chắc, lấy thị trường làm có sở để đảm bảo cho các thành phần kinh tế hoạt độngtốt là một việc làm hết sức cần thiết.
Trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường các nhà ra quyết định phải đối mặt với những mâu thuẫn giữa các mục tiêu đã đề ra; mặc dù sự chuyển đổi hướng tới nền kinh tế thị trường hàm ý rằng Chính phủ cần rút khỏi vị trí thống trị của mình trong nền kinh tế nhưng mặt khác cũng cần có hoạt động của Chính phủ để giải quyết những nhiệm vụ mới suất hiện. Một trong số những nhiệm vụ đó là xây dựng một hệ thống tài chính vững chắc hữu hiệu, lấy thị trường làm cơ sở, thực thi một chính sách tiền tệ có hiệu quả.
Những nền kinh tế này thiếu hầu hết những tổ chức quan trọng của kinh tế thị trường, thị trường cạnh tranh cho các nhân tố, các hàng hoá và dịch vụ, một hệ thống tài chính cạnh tranh và được đầu tư vốn đầy đủ, một cơ cấu pháp luật và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho hệ thống tài chính.
Trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, hệ thống tài chính đều ở trạng thái tồi tệ. Tài chính hầu như chỉ đóng vai trò ghi chép, lưu giữ thụ động, trong khi việc phân bố các nguồn lực do chính kế hoạch tập trung kiểm soát
Các quyết định tín dụng đều đã được lên kế hoạch trước. Hệ thống ngân hàng bị suy kiệt vì nguồn vốn thấp, một số lượng lớn các khoản nợ không hoạt động của các quốc doanh, các khoản cho vay gián tiếp tập trung theo khu vực địa lý và khu vực ngành, ngân hàng tiết kiệm có mạng lưới chi nhánh nhỏ bé. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng hầu như không có lãi, được Nhà nước bù lỗ. Các nhà quản lý lại có rất ít kinh nghiệm trong việc đánh giá các đơn xin vay, trong việc tính toán và giải quyết các rủi ro. Thị trường cổ phần và thị trường trái phiếu thì hay là không tồn tại hay là rất nhỏ bé và không linh hoạt trong việc chuyển đổi ra tiền mặt hay trên có sở trao đổi và các doanh nghiệp đã tạo nên một mạng lưới rộng rái tín dụng giữa các hãng vỡi nhau.
Những khó khăn trên đây đặt ra những yêu cầu rất lớn đối với hệ thống tài chính.
Như trên đã nêu, xây dựng được một hệ thống tài chính vững chắc là việc làm cần thiết song nó cũng đòi hỏi chúng ta luôn luôn phải thận trọng trong từng bước đi không vội vã và có thể dẫn đến sự đổ bể của cả nền kinh tế. cần nắm vững những di sản để lại từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Không nên áp đặt đột ngột việc kiềm chế tín dụng gắt gao đối với cá...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status