Download miễn phí Đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương I: Lý thuyết chung về phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả tài chính 3
1.1. Một số vấn đề chung 3
1.1.1. Cơ sở phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính 3
1.1.2. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.1.3. Đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp 7
1.2. Phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp 9
1.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính 9
1.2.2. Phân tích tài chính theo phương pháp tỷ số 10
1.2.2.1. Các tỷ số thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán 11
1.2.2.2. Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh 15
1.2.2.3. Các tỷ số về đòn cân nợ - Đánh giá về năng lực cân đối vốn 18
1.2.2.4. Các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi 20
1.2.3. Đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính bằng phương pháp phân tích Dupont – Phương pháp phân tích Dupont 23
1.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 25
Chương II: Phân tích tình hình tài chính của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam– Vietnam Airlines 27
2.1. Khái quát về đặc điểm hoạt động của Vietnam Airlines 27
2.1.1. Khái quát về Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines 27
2.1.2. Quy trình vận chuyển bằng đường hàng không của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines 31
2.1.3. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Hãng hàng không Việt Nam – Vietnam Airlines những năm gần đây 33
2.2. Phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả tài chính của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines 44
*Bảng công khai tài chính của Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam và Tổng công ty Hàng không Việt Nam trong các năm 2003 – 2005 45
2.2.1. Khái quát tình hình tài chính của Vietnam Airlines 48
2.2.2. Phân tích tài chính 52
2.2.2.1. Các tỷ số thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán 52
2.2.2.2. Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh 56
2.2.2.3. Các tỷ số về đòn cân nợ - Đánh giá về năng lực cân đối vốn 60
2.2.2.4. Các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi 63
2.2.3. Phân tích, đánh giá hiệu tài chính của Vietnam Airlines theo phương pháp DUPONT 68
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của Vietnam Airlines.
3.1. Những định hướng lớn của Vietnam Airlines từ nay đến 2010 70
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của Vietnam Airlines 72
3.2.1. Giải pháp nâng cao năng lực thanh toán của Vietnam Airlines 72
3.2.2. Giải pháp nâng cao năng lực cân đối vốn 74
3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực tuần hoàn vốn của Vietnam Airlines 75
3.2.4. Giải pháp nâng cao năng lực sinh lợi 76
3.3. Nâng cao hiệu quả tài chính theo phương pháp DUPONT 77
3.4. Một số kiến nghị đối với Vietnam Airlines 81
PHẦN KẾT LUẬN 84
http://s1.liketly.com/flash/edoc/web-viewer.html?file=jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-demo-2016-02-05-de_tai_giai_phap_nang_cao_hieu_qua_tai_chinh_cua_hang_hang_k_jdpBsqiDgh.png /tai-lieu/de-tai-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-tai-chinh-cua-hang-hang-khong-quoc-gia-viet-nam-vietnam-airlines-89494/ Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn. Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn
Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
đối với các loại hình dịch vụ mà các hãng hàng không cung cấp cho khách hàng. Việt Nam khuyến khích hoạt động của các hãng hàng không giá rẻ như là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển thị trường hàng không Việt Nam, phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng, Việt Nam thực hiện chính sách nhất quán, rõ ràng không có sự phân biệt loại hình hãng hàng không chi phí thấp. Bất kỳ hãng hàng không quốc gia nào khai thác thị trường Việt Nam đều phải đáp ứng các yêu cầu chính sau, ngoài các yêu cầu khác, đó là: được chỉ định khai thác vận chuyển hàng không và cấp phép khai thác phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế; tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an ninh, an toàn hàng không, mua và duy trì bảo hiểm tàu bay, trách nhiệm dân sự của nhà chuyên chở theo quy định của pháp luật; đối với các trường hợp các hãng hàng không của Việt Nam sử dụng tàu bay thuê vận chuyển hành khách, tàu bay phải đảm bảo yêu cầu có tuổi không quá 20 năm tính từ ngày xuất xưởng.
Bên cạnh đó, Việt Nam ủng hộ việc xác định danh sách các hãng hàng không không đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn khai thác tàu bay và bị cấm hoạt động cho đến khi khôi phục lại năng lực của mình theo quy định về an toàn hàng không trên cơ sở thuân tuý về kỹ thuật đối với năng lực khai thác an toàn tàu bay của hãng hàng không liên quan, không xét theo các yếu tố thương mại, chính trị hay quốc tịch của các hãng hàng không.
Hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về vận tải hàng không của Việt Nam trong năm 2005 ngày càng hoàn thành tốt chức năng Chủ tịch nhóm công tác vận tải hàng không ASEAN, các thoả thuận song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước thực hiện trong năm qua theo hướng tự do hoá để hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hãng hàng không nước ngoài duy trì và phát triển hoạt động của mình ở thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, thực hiện chính sách khuyến khích các hãng hàng không nước ngoài khai thác đến Hà Nội và Đà Nẵng trong khi tiếp tục điều tiết tần suất, tái cung ứng của các hãng hàng không nước ngoài khai thác có hiệu quả cơ sở hạ tầng của ba sân bay quốc tế.
Hầu hết các hãng hàng không nước ngoài giữ vững được lịch bay thường lệ tới Việt Nam. Đáng chú ý là một số hãng đã củng cố và mở rộng năng lực khai thác của mình. Hãng Air France đã khai thác trở lại đường bay thẳng Pari – Hà Nội và Paris – T.P Hồ Chí Minh từ tháng 10/2005. Nhiều hãng hàng không tăng tần suất khai thác đến T.P Hồ Chí Minh. Bên cạnh Tiger Airways và Thai AirAsia, ba hãng hàng không khác lần đầu tiên khai thác đến Việt Nam là: Silk Air (Singapore) khai thác đường bay Singapore – Xiêm Riệp (Campuchia) – Đà Nẵng – Singapore; Royal Khmer Airlines (Campuchia) khai thác đường bay Phnômpênh – Hà Nội. Tuy nhiên,có ba hãng hàng không tạm thời dừng khai thác đến Việt Nam. Aerflot (LB Nga) dừng bay; Lion Air (Indonesia) dừng bay; Far Eastern Air Transport (Đài Loan) dừng bay đến Đà Nẵng. Hãng United Airlines (UA là hãng hàng không đầu tiên của Hoa Kỳ chính thức khai thác đến Việt Nam ngày 10/12/2004. Trong năm 2005, UA duy trì tần suất 7 chuyến/tuần trên đường bay Sanfrancisco - Hồng Kông – Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.
Các hãng hàng không Việt Nam đã có sự phát triển tích cực cả về năng lực khai thác và năng lực cạnh tranh. Một mặt tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy phạm, tiêu chuẩn chuyên ngành, tăng cường giám sát an toàn bảo dưỡng, sửa chữa và khai thác các loại tàu bay, hiện có của các doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam. Cục hàng không Việt Nam hỗ trợ các doanh nghiệp duy trì năng lực theo các Chung co khai thác tàu bay (AOC) đã cấp, tiếp tục xây dựng năng lực để được cấp AOC làm điều kiện tiến quyết cho việc chuyển từ khai thác tàu bay theo hình thức thuê ướt sang hình thức thuê khô. Cho đến nay, Vietnam Airlines đã được cấp AOC khai thác các loại tàu bay B777,B767,A320/321, ATR72,F70 và đang có kế hoạch để xin cấp AOC đối với loại tàu bay A330 trong năm 2006. Pacific Airlines đã được cấp AOC khai thác loại máy bay A320 và đang trong giai đoạn xin cấp AOC đối với loại tàu bay B737 trong năm 2005 để chuyển sang khai thác khô loại máy bay này trong giai đoạn 2006 – 2010. Công ty bay dịch vụ Việt Nam (VASCO) được cấp AOC khai thác tàu bay AN-2, B-200, đặc biệt Tổng công ty hàng không Việt Nam có định hướng chuyển giao từng bước đội bay ATR72 cho VASCO khai thác một số đường bay trong nước giúp cho công ty này thực sự trở thành một hãng hàng không thương mại trong tương lai gần.
Trong năm 2005, Vietnam Airlines thuê mới dài hạn 4 tàu bay Boeing 777 để bổ sung, thay thế một số tàu bay thuê dài hạn đến kỳ phải trả, nâng tổng số tàu bay lên, khai thác trong năm là 38 chiếc. Về khai thác quốc tế, so với năm 2004, Vietnam Airlines đã mở thêm 2 đường bay thẳng từ Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tới Frankfurt (Đức) và từ TP Hồ Chí Minh tới Nagoya (Nhật Bản) trong tháng 7/2005. Bên cạnh đó, Vietnam Airlines đã tăng thêm 4 tần suất thành 11 chuyến/tuần trên đường bay Hà Nội – Viêng Chăn (Lào) và tăng tần suất thành 42 chuyến/tuần trên đường bay TP Hồ Chí Minh – Xiêm Riệp (Campuchia). Trong nước, Vietnam Airlines đã mở thêm đường bay TP Hồ Chí Minh – Chu Lai từ tháng 3/2005 và đảm bảo duy trì lịch bay thường lệ trên 23 đường bay tới 18 sân bay tại 17 địa phương trong cả nước. Tỉ lệ tăng trưởng về khách là 13,7% so với năm 2004, trong đó vận chuyển nội địa đạt mức tăng trưởng là 19,3%.
Từ tình hình kinh tế - xã hội chung trên thế giới, của Việt Nam, của ngành vận tải hàng không Việt Nam, có thể đưa ra một số thuận lợi và khó khăn của Vietnam Airlines:
* Những thuận lợi:
- Ngành vận tải hàng không là một ngành còn non trẻ nhưng có vai trò ngày càng quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay. Chính vì vậy, ngành vận tải hàng không luôn được quan tâm và ưu tiên lên hàng đầu, luôn được coi là ngành mũi nhọn có tầm chiến lược lớn và Hàng không Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Với tốc độ phát triển rất nhanh và khá ổn định, Hàng không dân dụng Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân.
- Do tầm quan trọng của vận tải hàng không nên Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm chú trọng việc hoạch định các chính sách thu hút vốn đầu tư thông qua sửa đổi luật đầu tư nước ngoài để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào. Đồng thời, vận tải hàng không là ngành độc quyền dưới sự quản lý của Nhà nước nên được nhà nước đầu tư rất lớn. Do đó, ngành vận tải hàng không là ngành có vốn đầu tư lớn, có phương tiện và cơ sở vật chất hiện đại: máy bay cỡ lớn hiện đại A321, B777 hàng hiệu USD, xây dựng các cảng hàng không tầm cỡ như Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất.
- Cùng với sự phát triển kinh tế của toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng, nhu cầu về vận tải bằng đường hàng không ngày càng tăng nhằm mục đích giao thương kinh tế, giao lưu văn hoá, và du lịch. Trong đó, bằng các chương trình cụ thể được xây dựng, tổ chức rộng khắp trong cả nước: Festival Huế với khẩu hiệu “ Việt Nam, điểm đến của thiên niên kỷ mới”, các chương trình du lịch sinh thái, tour du lịch theo mùa,nh...