Download miễn phí Đề tài So sánh sự khác biệt giữa Báo cáo tài chính của doanh nghiệp với Báo cáo tài chính của công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng thương mại
Cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được quy định trong chuẩn mực kế toán. Tuy nhiên, kinh doanh bảo hiểm là một hoạt động đặc thù, thuộc lĩnh vực tài chính có những đặc điểm và yêu cầu quản lý riêng nên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp bảo hiểm có các đặc trưng cơ bản khác với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường như sau:
Tài sản:
Tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn với nhiều hình thức khác nhau như: tiền gửi có kỳ hạn, các khoản cho vay, các khoản đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, Bên cạnh đó các tài sản không co khả năng chuyển đổi thành tiền ( như là các chứng khoán rủi ro khó chuyển đổi ra tiền, giá trị còn lại của tài sản vô hình, các khoản phải thu của đại lý và các khoản thu tái bảo hiểm đã quá hạn,.). Không được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán vì chúng không được coi là tài sản khi xác định khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2015-07-30-de_tai_so_sanh_su_khac_biet_giua_bao_cao_tai_chinh_cua_doanh.cNAlarph3s.swf /tai-lieu/de-tai-so-sanh-su-khac-biet-giua-bao-cao-tai-chinh-cua-doanh-nghiep-voi-bao-cao-tai-chinh-cua-cong-ty-chung-khoan-cong-79134/ Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn. Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn
Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Đề bài: So sánh sự khác biệt giữa báo cáo tài chính của doanh nghiệp với báo cáo tài chính của công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng thương mại.
Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hay thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong các thời kỳ nhất định; đồng thời được giải trình, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để ra các quyết định phù hợp.
Hệ thống báo cáo tài chính nước ta bao gồm:
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bản thuyết minh các báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp, cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định.
Kết cấu của bảng được chia thành hai phần: tài sản và nguồn vốn, được trình bày dưới dạng một phía (bảng cân đối báo cáo) hay hai phía (Bảng cân đối kế toán). Mỗi phần được bố trí các cột “mã số” để ghi mã số của các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán, cột “số đầu năm”, “số cuối kỳ” để ghi giá trị từng tài khoản tài sản, nguồn vốn tại các thời điểm đầu năm và cuối kỳ báo cáo. Cả hai phần tài sản và nguồn vốn đều bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài chính phát sinh, phản ánh từng nội dung tài sản và nguồn vốn.
Các chỉ tiêu được sắp xếp thành từng mục, khoản theo một trình tự logic, khoa học, phù hợp với yêu cầu quản lý và phân tích tài chính doanh nghiệp.
Sự khác nhau trong Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chủ yếu là do sự khác nhau trong Bảng cân đối kế toán.
Sự khác nhau giữa doanh nghiệp sản xuất và ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại và doanh nghiệp sản xuất đều là các doanh nghiệp với khoản mục tài sản, nguồn vốn để từ đó góp phần cho hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Nhưng khác ở chỗ: doanh nghiệp sản xuất thì kinh doanh chủ yếu các mặt hàng vật tư, hàng hóa và các sản phẩm do họ sản xuất ra, còn ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Do vậy mà Bảng cân đối kế toán của chúng có những đặc điểm khác nhau sau:
Khoản mục tài sản:
Trong doanh nghiệp sản xuất do tính chất kinh doanh hàng hóa vật tư nên khoản mục tài sản được chia thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong đó tài sản ngắn hạn gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho. Tài sản dài hạn gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định và các khoản đầu tư tài chính dài hạn. Nói chung tất cả các tài sản cả hữu hình và vô hình phục vụ cho hoạt động sản xuất ra hàng hóa của doanh nghiệp, trong đó có thể phần tài sản cố định chiếm phần lớn.
Đối với ngân hàng thương mại thì phần lớn tài sản của ngân hàng là các tài sản tài chính gồm các hợp đồng cho vay, hợp đồng thuê và thuê mua, chứng khoán, các khoản tiền gửi,… Một phần nhỏ trong số tài sản của ngân hàng là tài sản cố định. Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức khác nhau, vì những mục tiêu khác nhau song đều đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng. Khoản mục tài sản gồm:
Ngân quỹ (tiền mặt trong két, tiền gửi tại ngân hàng khác)
Chứng khoán (gồm chứng khoán Chính phủ, chứng khoán của ngân hàng khác, các công ty tài chính, chứng khoán của các công ty khác)
Tín dụng (hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng thương mại. trong hoạt động tín dụng, mục tiêu chủ yếu của ngân hàng là kiếm được lợi nhuận, trên cơ sở phục vụ nhu cầu tín dụng của cộng đồng. Loại tài sản này được phân chia thành nhiều loại theo các tiêu thức khác nhau như: tín dụng ngắn hạn, trung hạn,, dài hạn; theo hình thức tài trợ tín dụng được phân thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê,… tín dụng phân loại theo rủi ro,…).
Tài sản khác: gồm các tài sản ủy thác, phần hùn vốn (liên kết) và các tài sản khác (tài sản cố định, máy móc thiết bị: bao gồm giá trị tài sản ngân hàng như nhà cửa, trang thiết bị cần thiết dành cho các hoạt động của ngân hàng).
Vậy sự khác nhau là:
Khoản mục tiền gửi ngân hàng đối với doanh nghiệp sản xuất thì chỉ gửi tiền tại các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác chứ không gửi tiền tại ngân hàng Nhà nước giống như các ngân hàng thương mại. Sự khác biệt này là do ngân hàng thương mại phải thực hiện dự trữ bắt buộc và nhiều ngân hàng trung ương yêu cầu ngân hàng thương mại phải duy trì dự trữ bắt buộc dưới hình thức tiền gửi tại ngân hàng trung ương.
Sự phân biệt giữa số dư tiền gửi tại ngân hàng tại các ngân hàng khác và tại các đơn vị khác trên thị trường tiền tệ với tiền gửi khách hàng là thông tin cần thiết vì cho biết mối liên hẹ, sự độc lập của ngân hàng với các ngân hàng khác cũng như đối với thị trường tiền tệ. Do vậy ngân hàng phải trình bày tách biệt các khoản:
Số dư tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước.
Các khoản tiền gửi tại các ngân hàng khác.
Các khoản tiền gửi tại các nơi khác trên thị trường tiền tệ.
Các khoản tiền gửi của các ngân hàng khác.
Các khoản tiền gửi của các đối tượng khác trên thị trường tiền tệ.
Đây là điểm khác biệt so với Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sản xuất.
Cách phân loại tài sản và nợ phải trả của ngân hàng là phân loại theo bản chất và sắp xếp theo tính thanh khoản tương ứng với kỳ đáo hạn của chúng. Các khoản mục tài sản và nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn không được trình bày riêng biệt vì phần lớn tài sản và nợ phải trả của ngân hàng có thể được thực hiện hay thanh toán trong tương lai gần. Ngoài các yêu cầu của chuẩn mực kế toán khác.
Nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là từ hoạt động mua bán, các khoản phải thu, từ hàng tồn kho,… Trong khi đó nguồn hình thành tài sản của các ngân hàng thương mại chủ yếu là từ tín dụng.
Do đặc trưng kinh doanh tiền tệ tài chính nên trong Bảng cân đối kế toán của ngân hàng không có khoản mục hàng tồn kho.
Khoản mục nguồn vốn
Trong Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại, bộ phận lớn nhất thuộc nguồn vốn của ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Các chỉ tiêu cụ thể như sau:
Tiền gửi theo yêu cầu (thanh toán của khách hàng): là loại tiền gưiir có thể rút ra bất cứ lúc nào cho nhu cầu thực tế. Loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi phát hành Séc. Loại tiền gửi này luôn đáp ứng cho chủ tài khoản các giao dịch thanh toán của họ.
Tiền gửi tiết kiệm là cách phổ biến nhất đối với công chúng, phản ánh trong các tài khoản tiết kiệm. Những loại ký thác này có thể rút ra bình thường bất cứ lúc nào, nhưng về phương diện kỹ thuật, tại một số ngân hàng theo quy định của họ cần có thời gian nhất định.
Tiền gửi của thị trường tiền tệ: tiền gửi của khách hàng ho...