Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ - pdf 28

Download miễn phí Đề tài Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ



Lời mở đầu 1
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu 3
1.1. Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu 3
1.1.1. Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu 3
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 4
1.1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp 5
1.1.2.2. Xuất khẩu uỷ thác 5
1.1.2.3. Gia công quốc tế 6
1.1.2.4. Buôn bán đối lưu 6
1.1.2.5. Tạm nhập tái xuất 6
1.1.2.6. Xuất khẩu tại chỗ 7
1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân 7
1.1.3.1. Xuất khẩu tạo vốn cho nhập khẩu 8
1.1.3.2. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 8
1.1.3.3. Xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tạo thu nhập, tăng mức sống và thoả mãn nhu cầu của người dân 9
1.1.3.4. Xuất khẩu là điều kiện thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại 9
1.2. Vị trí, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 9
1.2.1. Vị trí và vai trò của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 9
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 11
 





Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn.

Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


ới sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam không hề giảm mà lại tăng đáng kể. Tuy nhiên, Mỹ cũng đang chuẩn bị khởi kiện vụ bán phá giá tôm và áp dụng rào cản kiểm tra dư lượng kháng sinh. Đây cũng là một thách thức lớn đối với hàng thuỷ sản của Việt Nam .
*Thị trường Nhật.
Thị trường Nhật vẫn giữ vị trí thứ hai, chiếm 26,57% thị phần với khối lượng là 96,3 tấn và giá trị đạt 537,5 triệu USD, tăng 15,36% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là thị trường truyền thống với các mặt hàng như tôm đông lạnh đạt 345,4 triệu USD (chiếm 64,26%), cá đông lạnh đạt 33,58 triệu USD (chiếm 6,25%). Mực, bạch tuộc đông lạnh đạt 64,7 triệu USD (chiếm 12,03%) và các mặt hàng khác như cá ngừ, mực khô. Từ giữa năm 2002 Nhật cũng đã có những động thái kiểm tra dư lượng kháng sinh và tuyên bố sẽ chú ý đến vấn đề này.
*Thị trường Trung Quốc- Hồng Kông.
Thị trường này đạt 77,2 nghìn tấn đạt 302 triệu USD, chiếm 14,93% thị phần, tăng 13,19% về khối lượng nhưng lại giảm 4,67% về giá trị. Các mặt hàng chính là cá đông lạnh đạt 107,9 triệu USD (chiếm 35,75%), tôm đông lạnh đạt 26,14 triệu USD nhưng chủ yếu xuất vào thị trường Hồng Kông, ngoài ra còn mực khô, mực đông lạnh, cá ngừ... Riêng thị trường này, lượng hàng thuỷ sản xuất theo tiểu ngạch cũng khá nhiều, trong đó có mực, bạch tuộc, cá rô phi và các hàng thuỷ đặc sản khác như baba, ếch, cá biển tươi sống.
Ngoài ra còn có một số thị trường khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo và một số nước Châu Âu, Châu Mỹ khác. Hiện các doanh nghiệp dưới sự chỉ đạo của hiệp hội VASEP đã tiến hành phát triển thị trường Nga, Đông Âu, Nam Mỹ, Trung Đông và mở rộng sang các thị trường láng giềng như Campuchia, Lào.
Biểu đồ 2.2: Các nước nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam 2002
Mỹ : 32,38%
Nhật Bản : 26,57%
TQ + HK : 14,93%
EU : 3,6%
Các nước khác: 22,52%
Nguồn: Trung tâm Thông tin Thuỷ sản - Bộ Thuỷ sảnError! Not a valid link.
2.2.2.4- Giá cả xuất khẩu.
Từ những năm 1995 trở lại đây, giá thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng lên nhưng nhìn chung giá hàng thuỷ sản của nước ta vẫn thấp, chỉ bằng khoảng 70% mức giá cùng loại của Thái Lan và Inđonêxia. Mặc dù, Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu như tài nguyên thuỷ sản phong phú, điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi, giá lao động rẻ... nhưng trình độ khoa học và công nghệ thấp, cơ sở hạ tầng yêu kém và thiếu kinh nghiệm trong quản lý khiến cho lợi thế so sánh trong xuất khẩu thủy sản giảm sút nhiều và xuất khẩu đạt hiệu quả không cao. Do vậy, để tăng sức cạnh tranh về giá của sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu cần tập trung vốn vào đầu tư các dây truyền công nghệ bảo quản, chế biến hiện đại hơn.
Tóm lại, ngành thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu rất khả quan về xuất khẩu thuỷ sản. Và nó đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất góp phần không nhỏ vào quá trình CNH-HĐH nền kinh tế, đưa Việt Nam hội nhập nhanh hơn vào khu vực và thế giới, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế...Tuy nhiên xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam còn bộc lộ các tồn tại chính sau:
- Mặt hàng xuất khẩu : Chủng loại sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu bao gồm chủ yếu là tôm, mực đông lạnh sơ chế (chiếm hơn 80% về mặt khối lượng), tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng cao là thấp, chất lượng sản phẩm chưa phù hợp với yêu cầu của các nước nhập khẩu lớn.
- Thị trường xuất khẩu: Là một thị trường tiêu thụ có nhiều tiềm năng song lại thiếu ổn định. Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào các thị trường lớn vì vậy mức độ rủi ro trong xuất khẩu còn cao.
- Giá sản phẩm xuất khẩu: Nhìn chung thấp chỉ bằng khoảng 70% mức giá sản phẩm cùng loại của Thái Lan và Inđonêxia nhưng vẫn không cạnh tranh được với mặt hàng của nước khác. Tuy Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu: tài nguyên thuỷ sản phong phú, điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi, giá lao động rẻ... nhưng trình độ khoa học công nghệ thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, và thiếu kinh nghiệm trong quản lý khiến cho lợi thế so sánh trong xuất khẩu thuỷ sản giảm sút nhiều và xuất khẩu không đạt được hiệu quả mong muốn vì giá thấp.
- Mạng lưới các kênh phân phối: Trong xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường chính thì mạng lưới kênh phân phối chưa tốt, chủ yếu xuất qua trung gian, môi giới và trung tâm tái xuất như Xingapo, Hồng Kông. Xuất khẩu chủ yếu theo điều kiện FOB, chưa đủ khả năng bán hàng theo điều kiện CIF và các điều kiện có hàm lượng dịch vụ bán hàng cao hơn. Hiện tại, chưa sử dụng được hình thức đại lý bán hàng thuỷ sản ở các nước tiêu thụ lớn như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ... nên không tận dụng được các cơ hội thị trường để đẩy mạnh xuất khẩu .
- Xúc tiến xuất khẩu: Chưa có được một kế hoạch và chương trình tổng thể xúc tiến hàng thuỷ sản Việt Nam ở nước ngoài, mặc dù có tiến hành một số hoạt động xúc tiến như việc tham gia các hội chợ thương mại và việc cử các đoàn cán bộ đi khảo sát ở nước ngoài nhưng nhìn chung hoạt động này còn mang tính tự phát và chưa thể coi là hoạt động xúc tiến xuất khẩu thực sự.
- Nguồn nguyên liệu: Để đảm bảo chất lượng cho hoạt động chế biến xuất khẩu thì nguồn nguyên liệu còn thiếu, không đồng bộ, đồng đều và kịp thời.
2.2.3- Hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ.
2.2.3.1- Khái quát về thị trường thủy sản Mỹ.
Với dân số trên 270 triệu người, lại có mức sống cao, nước Mỹ hàng năm tiêu thụ hàng tấn thuỷ sản các loại. Theo số liệu của viện nghề cá quốc gia Hoa Kỳ (NFI) mức tiêu thụ thuỷ sản thực phẩm bình quân của người Mỹ năm 2000 đạt 7,02 Kg. Bởi vậy, mặc dù là nước có tiềm năng về thuỷ sản (là một trong 10 nước có sản lượng thuỷ sản cao nhất thế giới), hàng năm Mỹ vẫn phải nhập khẩu rất nhiều các mặt hàng thuỷ sản xuất nhiều nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu.
Trong thập kỷ qua, Mỹ luôn đứng vị trí thứ ba, thứ tư thế giới về tổng lượng thuỷ sản với mức khá ổn định từ 5,5-5,9 triệu tấn/năm. Thuỷ sản của Mỹ có chất lượng cao, phong phú về chủng loại với nhiều sản phẩm như cá hồi, cá tuyết, cá ngừ, tôm hùm, sò, điệp, cá nheo...Tuy nhiên, mức độ như trên mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước hiện nay, người tiêu dùng Mỹ rất ưa chuộng các sản phẩm tinh chế như tôm nõn, philê, hộp cá, thịt cua, các sản phẩm ăn liền... Mặt khác, thị hiếu của người Mỹ hiện nay là có thay đổi về chất lượng và nghiêng về các sản phẩm cao cấp rất đắt như tôm he, tôm hùm, cá ngừ, cá hồi, cua biển, cá basa...là những thứ Mỹ có rất ít và không đáp ứng được nhu cầu ngày càng gia tăng. Chính điểm này là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy ngoại thương thuỷ sản Mỹ phát triển toàn diện cả xuất - nhập khẩu.
a/ Về nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ.
ã Kiểm soát nhập khẩu thuỷ sản.
Mỹ nhập hơn 100 mặt hàng thuỷ sản các loại từ cao cấp nhất đến thấp nhất và đủ mọi loại giá cả khác nhau. Các sản phẩm thuỷ sản muốn xuất khẩu vào thị trường Mỹ đều phải tuân theo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (HACCP), các tiều chuẩn chất lượng, bao gói, ghi nhãn, các giới hạn nhiễm khuẩn thực phẩm Mỹ (FDA) quy định.
Bên cạnh đó hàng thuỷ sản nhập khẩu còn phải chịu sự kiểm soát của cơ quan hải quan liên bang - Vụ thuỷ sản. Nếu sản phẩm thuỷ sản không đáp ứng được các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng thì sẽ bị huỷ, trả lại hay buộc phải được tái chế.
Ngoài ra, Mỹ còn đưa ra các rào cản kỹ thuật khác như lệnh cấm vận tôm của toà án Mỹ có hiệu lực từ 1/5/1996. Đó là Mỹ chỉ cho phép nhập khẩu tôm của những nước sử dụng công nghệ đánh bắt tôm không làm phương hại đến những loài động vật quý hiếm. Lệnh cấm vận tôm còn lan sang cả nuôi tôm nếu việc nuôi tôm dẫn đến tàn phá rừng ngập mặn, gây ô nhiễm và huỷ diệt môi trường... Tuy nhiên các nước xuất khẩu tôm đã đưa vấn đề này ra WTO và WTO đã tuyên bố chống lại lệnh cấm vận tôm của Mỹ với lý do không một nước nào có thể áp đặt cho nước khác luật về môi trường của riêng họ.
ã Cơ cấu nhập khẩu thuỷ sản.
Cơ cấu mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu của Mỹ rất đa dạng và trong những năm gần đây thị trường Mỹ thiên về các mặt hàng tươi sống và giảm các mặt hàng đồ hộp.
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nhập khẩu thuỷ sản của thị trường Mỹ
- Hàng tươi sống và
tôm đông lạnh : 88%
- Hộp thuỷ sản : 7,3%
- Các dạng khác : 4,7%
Nguồn: Trung tâm Thương mại Thuỷ sản - Bộ Thuỷ sản
Sau đây là các mặt hàng chủ yếu có giá trị cao được nhập khẩu vào thị trường Mỹ:
* Tôm đông: Từ lâu tôm đông là mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Mỹ và luôn có giá trị lớn nhất. Sau 10 năm nhập khẩu tôm của Mỹ tăng từ 1,79 tỷ USD năm 1991 lên 3,7 tỷ USD năm 2000 (tăng 2 lần) là mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới. Mỹ nhanh chóng vượt qua Nhật Bản trở thành nước nhập khẩu tôm đông lớn nhất thế giới (năm 2000 Mỹ nhập khẩu hơn Nhật Bản 90 nghìn tấn)
Mỹ nhập khẩu 19 loại tôm đông khác nhau nhưng chỉ có ba sản phẩm có giá trị lớn nhất là tôm đông bóc vỏ, tôm đông chế biến, tôm đông còn vỏ 31/40.
Bảng 2.6: Các sản phẩm tôm có giá trị lớn nhất
Tên sản phẩm
Giá trị nhập năm 2000 ( triệu USD)
% giá trị
Tôm đông bóc vỏ
1,244
33
Tôm đông chế biến
654
17
Tôm đông còn vỏ 31/40
334
9
Nguồn: Tạp trí thuỷ sản-Bộ thuỷ sản
...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status