1
Nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh
miền Đông Nam Bộ qua báo Đồng Nai, Bà Rịa -
Vũng Tàu và Bình Dương (2007 -2010)
Nguyễn Tôn Hoàn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Báo chí
Chuyên ngành: Báo chí học; Mã số: 60 32 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Thái
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Nhận diện báo Đảng và công chúng báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ trong
bối cảnh phát triển mới của báo chí với những đóng góp, ưu thế và hạn chế. Điều tra,
khảo sát, tìm hiểu để đo lường mức độ đọc báo Đảng, quan điểm thái độ của công
chúng báo chí các tỉnh Đông Nam Bộ qua báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình
Dương, cũng như năng lực tác động công chúng của các tòa soạn báo. Nêu những hạn
chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng báo Đảng trong thời gian tới để vừa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đặc trưng loại hình vừa đáp ứng nhu cầu của công
chúng.
Keywords. Báo chí học; Công chúng; Đông Nam Bộ; Báo Đảng; Phương tiện truyền
thông
Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Công chúng vừa là đối tượng tác động, vừa là chủ thể tiếp nhận của báo chí. Hiệu
quả của báo chí phụ thuộc vào sự tác động đối với công chúng cũng như thái độ, quan
điểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng. Nghiên cứu công chúng, vì thế không
sau: Nhận diện báo Đảng và công chúng báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ trong bối
cảnh phát triển mới của báo chí; Điều tra, khảo sát, tìm hiểu để đo lường mức độ đọc
báo Đảng, quan điểm thái độ của công chúng báo chí các tỉnh Đông Nam Bộ qua báo
Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương; Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng báo Đảng trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công chúng-bạn đọc của báo Đảng các tỉnh
miền Đông Nam Bộ.
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát là các báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình
Dương, từ năm 2007 đến 2010. Đây là ba tờ báo ở miền Đông Nam Bộ vừa có những
đặc điểm chung của báo Đảng các tỉnh trong cả nước vừa có những nét riêng và vị thế
nhất định trong hệ thống báo Đảng địa phương ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu trên quan điểm học thuyết Mác- Lênin; tư tưởng Hồ
Chí Minh; đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vai trò, tính chất và
nhiệm vụ của báo chí và nhà báo cách mạng.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu;
phương pháp phân tích, tổng hợp; điều tra bằng bảng hỏi (an-két) và phỏng vấn sâu
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về
nghiên cứu công chúng các loại hình báo chí ở Việt Nam nói chung, báo Đảng các tỉnh,
thành nói riêng .
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ có ý nghĩa
đối với các cơ quan báo chí, các nhà báo trong việc nhận thức về vai trò của công chúng
3
báo chí truyền thông và công tác nghiên cứu công chúng… góp phần vào việc nâng cao
chất lượng báo Đảng các tỉnh, trong đó có báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
thông.
Công chúng báo chí là những người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của
báo in, phát thanh, truyền hình và internet. Công chúng có thể là đại chúng, một nhóm
đối tượng hay một cá thể nhất định tiếp nhận thông tin từ các loại hình báo chí.
Nghiên cứu công chúng báo chí trong luận văn này tập trung chủ yếu ở các đặc
trưng của loại loại hình báo in (cụ thể là báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ) và
một số liên hệ với công chúng báo điện tử bên cạnh tờ báo in.
Công chúng báo chí truyền thông là một thực thể rất phức tạp. Việc nghiên cứu
công chúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện và đặt đối tượng nghiên cứu
trong môi trường văn hóa- xã hội cụ thể.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chủ thể báo chí- truyền thông với công chúng
Mối quan hệ giữa chủ thể báo chí - truyền thông với công chúng là mối quan hệ
4
giữa nguồn phát thông điệp và công chúng, đối tượng tiếp nhận, thực chất đây là mối
quan hệ giao tiếp mang tính đại chúng .
Giao tiếp đại chúng được hiểu như sự truyền bá với số lượng lớn những nội dung
giống nhau cho những cá nhân và những nhóm đông người trong xã hội, dựa vào những
kỹ thuật truyền bá tập thể, gọi là media.
Báo chí phát triển đa dạng và phong phú trong những năm qua, công chúng báo
chí cũng có những thay đổi về căn bản.
1.1.4. Vị trí và các vấn đề của nghiên cứu công chúng
Nghiên cứu công chúng là nội dung cơ bản, luôn giữ vị trí hàng đầu trong báo chí
học, xã hội học truyền thông đại chúng và một số ngành. Các hướng nghiên cứu được
tiến hành đều có điểm chung là nhằm làm rõ chân dung công chúng, các nhóm công
chúng với các dấu hiệu quan trọng nhất, như: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, đặc
điểm nghề nghiệp, khu vực cư trú và thị hiếu… Nghiên cứu công chúng còn là để nắm
bắt tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí: Báo chí đến với họ từ nguồn nào? Họ quan tâm
nội dung gì ở báo chí? Vì sao họ quan tâm? Ý kiến của công chúng về nội dung, chuyên
trang, chuyên mục… Mặt khác, nghiên cứu công chúng còn nhằm tìm ra quy luật về
tâm lý, thói quen tiếp nhận thông tin của các nhóm đối tượng khác nhau. Lý thuyết xem
Cùng với sự phát triển chung của báo chí cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ,
công chúng báo Đảng cũng có những thay đổi và phát triển.
Báo chí ở nước ta trong những năm qua có sự phát triển nhanh về số lượng, đa
dạng và phong phú các loại hình, đặc biệt với sự xuất hiện của loại hình báo chí trên
internet, báo mạng điện tử bên cạnh báo in, phát thanh truyền hình, công chúng báo chí
có nhiều sự chọn lựa kênh truyền thông đại chúng để thỏa mãn nhu cầu về thông tin,
giải trí. Điều đó cũng đặt ra cho báo Đảng các tỉnh nhiều thách thức, khó khăn hơn
trong hoạt động của mình. Việc cải tiến, tăng trang, tăng kỳ phát hành được triển khai ở
nhiều tờ báo nằm trong nỗ lực hướng tờ báo đến với công chúng của mình.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi cho đến nay, chưa có tờ báo Đảng địa
phương nào tiến hành điều tra xã hội học về công chúng một cách khoa học và chuyên
nghiệp.
1.3. Nghiên cứu công chúng báo Đảng trong xu hƣớng phát triển của công chúng
báo chí tại Việt Nam
1.3.1. Công chúng có nhiều điều kiện để tiếp cận các kênh truyền thông đại
chúng đa dạng và phong phú hơn.
Sự tác động của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin trong hoạt
động truyền thông đã “tiếp sức” cho báo chí phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phong phú.
Công chúng báo chí truyền thông theo đó cũng có nhiều điều kiện tiếp cận về thông tin
và nhu cầu ngày càng cao về mặt thông tin ở các loại hình báo chí.
1.3.2. Công chúng báo chí không chỉ là người thụ hưởng thông tin mà còn
tham gia quá trình truyền thông.
Trước đây, công chúng là đối tượng thụ hưởng thông tin. Ngày nay, với sự phát
triển của kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa,
công chúng không chỉ có điều kiện thuận lợi hơn trong thụ hưởng thông tin mà còn
tham gia vào quá trình hoạt động báo chí – truyền thông.
1.3.3. Công chúng báo in trước sự phát triển của báo điện tử trên internet.
Sự tác động của truyền thông trực tuyến làm thay đổi nhiều mặt đối với đối tượng
truyền thông là một thực tế trong đời sống báo chí đương đại, do vậy các nhà truyền
tinh thần.
Những đặc điểm nổi bật về địa chính trị, văn hóa là điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của báo chí vùng Đông Nam Bộ, trong đó có báo Đảng của các tỉnh trong vùng,
tạo ra đời sống báo chí phong phú, sôi động, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh
thần cho nhân dân.
2.1.2. Báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ
Báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ đều có lịch sử ra đời từ trong hai cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc. Tuy hoạt động trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, nhưng báo chí
của Đảng đã có những đóng góp hết sức quan trọng trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, là
vũ khí đấu tranh cách mạng cùng quân và dân chống kẻ thù xâm lược, tuyên truyền giác
ngộ chủ nghĩa Mác- Lê nin và lý tưởng của Đảng.
Hơn 35 năm hoạt động sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), báo Đảng các
tỉnh miền Đông Nam Bộ đều phát huy truyền thống, bám sát nhiệm vụ chính trị của
từng thời kỳ, nhất là Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh để tích cực phục vụ công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh, một trong những mặt hạn chế của báo Đảng
các tỉnh miền Đông Nam Bộ là số lượng phát hành báo thấp so với tỷ lệ dân số và điều
kiện của vùng kinh tế năng động và phát triển.
Qua khảo sát và tìm hiểu, cho thấy các báo đều chưa chú trọng nhiều đến công tác
nghiên cứu thị trường, công chúng báo chí, xem công chúng là đối tượng phục vụ và
khách hàng quan trọng.
2.1.3.Về hoạt động của các báo Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương
Khảo sát ba tờ báo Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu và Bình Dương những nét cơ bản
7
về lịch sử hình thành, phát triển; số kỳ báo, lượng phát hành; một vài đặc điểm nổi bật
và xu hướng phát triển
2.2. Đặc điểm công chúng báo Đảng các tỉnh Đồng Nai,
Tìm hiểu bạn đọc báo Đảng địa phương từ nguồn nào, để thấy được tác động xã
hội của tờ báo, kết quả nhận được: Nhóm công chúng thường xuyên đọc hoặc đọc
không đều qua điều tra cho thấy, chủ yếu là họ đọc báo từ cơ quan, đơn vị đặt mua: báo
Đồng Nai 48%; Bình Dương: 55.5%; Bà Rịa - Vũng Tàu: 83.3%.
* Một số đặc điểm bạn đọc:
Về đặc điểm công chúng của các báo, qua thu nhận từ kết quả điều tra cho thấy:
Nhóm công chúng đọc báo Đảng thường xuyên đều là cán bộ, công chức. Tỷ lệ này với
báo Đồng Nai là 49,7%; báo Bà Rịa Vũng Tàu là 48.7% và Bình Dương là 52.5%. Kế
đến là nhóm nhân viên văn phòng, với báo Đồng Nai là 13.2%; Bà Rịa - Vũng Tàu:
8
15.0% và Bình Dương là 10.1%.
Về trình độ: Những người đọc báo Đảng đều có trình độ từ phổ thông trở lên,
chiếm tỷ lệ cao là đại học: báo Đồng Nai: 59.3 %; Bình Dương 60.5% và Bà Rịa-Vũng
Tàu: 56.2%. Đặc biệt, bạn đọc có học vấn sau đại học ở hai tờ báo Đồng Nai và Bà Rịa
– Vũng Tàu cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể (17.6% đối với báo Đồng Nai và 7.5% đối
với Bà Rịa – Vũng Tàu).
Kết quả khảo sát còn cho thấy tỷ lệ nam đọc nhiều hơn nữ: Đồng Nai tỷ lệ nam
đọc báo: 52.7% so với nữ là 38.5%, Bình Dương 56.3%; nữ 37%; BRVT 43.8%; nữ
30%).
Nhóm tuổi đọc báo Đảng cao là trong độ tuổi từ trên 20 đến 50. Đây là độ tuổi làm
việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Đối chiếu giữa nhóm
tuổi và nguồn báo đọc báo cho thấy có sự tương thức. Điều đáng ghi nhận là tuy không
nhiều, nhưng các báo địa phương trên còn có một số lượng bạn đọc ở ngoài tỉnh thường
xuyên đọc báo cũng như quan tâm đóng góp, xây dựng cho tờ báo ngày càng phát triển.
Có điều đáng chú ý là cả 3 tỉnh khảo sát đều phát triển mạnh về công nghiệp, công nhân
lao động và đội ngũ doanh nghiệp đông đảo, nhưng số bạn đọc ở nhóm đối tượng này
còn thấp. Điều đó cho thấy, công tác phát hành báo đến với các nhóm đối tượng tiềm
năng chưa được khai thác đúng mức ở các báo.
2.2.2. Nhận định của công chúng về nội dung và hình thức
Về các đề tài thông tin thì: Tin tức- thời sự là lĩnh vực mà bạn đọc ở mọi nhóm
công chúng bạn đọc.
2.2.4. Công chúng báo điện tử của các báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình
Dương
Có một điểm chung ở các trang thông tin điện tử của báo Đảng miền Đông Nam
bộ là việc tổ chức nội dung thông tin chủ yếu khai thác nguồn tin, bài từ báo in sau khi
báo in xuất bản, không có bộ phận tòa soạn độc lập, tần suất cập nhật thông tin thấp, ít
ứng dụng công nghệ multimedia, ít khai thác đặc trưng tương tác của báo trực tuyến.
Bình quân mỗi ngày, trang thông tin điện tử của báo Đồng Nai xuất bản 25 tin,
bài. Con số này với, báo Bình Dương là 20, báo Bà Rịa – Vũng Tàu là 15. Theo dõi lưu
lượng truy cập bằng các công công cụ đo lường trực tuyến (như Alexa.com, Google
Analys, .trafficimagine.com), bình quân mỗi ngày báo Đồng Nai điện tử có trên 2.500
lượt người truy cập. Con số này với báo Bà Rịa – Vũng Tàu điện tử là 2.000 lượt và báo
Bình Dương điện tử là 1.500 lượt. Khảo sát địa chỉ IP từ phần mềm xuất bản của ba báo
điện tử này cho thấy, công chúng đọc báo đến từ nhiều nơi trên thế giới. Đa phần công
chúng tìm đến với website từ các công cụ tìm kiếm trên mạng như Google.
Do chưa có bộ phận chuyên môn đầy đủ, các báo điện tử của ba tờ báo trên còn
nhiều mặt hạn chế. Ban biên tập của các báo đều có định hướng phát triển báo điện tử
theo xu hướng tích hợp các loại hình và là kênh truyền thông nhằm mở rộng thông tin,
khắc phục những hạn chế của báo in trong xu thế truyền thông mới.
* Nhận xét và bàn luận:
Qua nghiên cứu, khảo sát của chúng tôi, có thể phác thảo chân dung công chúng
báo Đảng các tỉnh Đông Nam Bộ như sau:
- Nhóm bạn đọc thường xuyên đều tập trung ở khu vực cơ quan, đơn vị hành
chánh nhà nước; các chi Đảng bộ và đoàn thể chính trị xã hội, cán bộ hưu trí, doanh
nhân, cán bộ quản lý doanh nghiệp
- Tình hình chung của các nhóm công chúng là đọc báo không thường xuyên; đọc
báo từ nguồn cơ quan. Một nhóm công chúng có mua báo nhưng cũng không thường
xuyên; tự mua tỷ lệ còn thấp, chủ yếu là các cơ quan, đơn vị đặt mua.
- Sự quan tâm đối với tờ báo qua tham gia cộng tác tin bài, nhận xét, góp ý đều có
tỷ lệ thấp qua điều tra.
học công chúng ở các báo. Ba là tính chất, quy mô hoạt động của báo Đảng địa phương
trong thời gian qua cũng làm cho những người quản lý thụ động, chưa thấy tính bức
thiết phải nghiên cứu công chúng…
Tiểu kết chƣơng 2:
Số lượng công chúng thường xuyên đọc và mua báo Đảng chưa được như mong
đợi. Khả năng phát triển mở rộng tờ báo đến với đông đảo bạn đọc là các tầng lớp nhân
dân chưa được phát huy. Sự quan tâm của công chúng đối với tờ báo qua việc cung cấp
thông tin, tham gia cộng tác tin- bài và góp ý xây dựng tờ báo còn những hạn chế. Điều
đó cũng làm hạn chế đến sự đa dạng, phong phú của nội dung thông tin trên các tờ báo.
Công chúng mong đợi ở tờ báo Đảng phải nhanh nhạy và kịp thời hơn về mặt
thông tin; gần gũi và thiết thực hơn với nhiều đối tượng bạn đọc; tính chiến đấu và phản
biện xã hội mạnh mẽ hơn để tờ báo thật sự trở thành tiếng nói của Đảng, Nhà nước và
diễn đàn tin cậy của nhân dân.
11
Chƣơng 3
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN MỐI QUAN HỆ
GIỮA BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VỚI CÔNG CHÚNG
3.1. Những vấn đề đặt ra đối với báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ:
3.1.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm báo chí đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ chính
trị và nhu cầu công chúng
Sức mạnh của báo chí chính là sức mạnh từ việc tạo ra dư luận xã hội, định hướng
xã hội. Báo chí hạn chế về số lượng phát hành, phạm vi lan tỏa, số lượng công chúng thì
Báo in có ưu thế của thông tin lý lẽ, phân tích sâu những vấn đề đặt ra của đời
sống xã hội. Ưu thế này của báo in đã giúp cho nó tồn tại và phát triển bên cạnh các loại
hình báo chí khác trong xu thế truyền thông hiện đại. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
phát huy nhằm tăng số lượng, mở rộng phạm vi, địa bàn phát hành để thu hút được công
12
chúng?
3.2. Giải pháp cải thiện mối quan hệ giữa báo Đảng với công chúng
3.2.1. Nhóm giải pháp liên quan đến chủ thể báo chí truyền thông:
Tờ báo là sản phẩm của một tập thể bao gồm nhiều khâu, nhiều bộ phận, từ vai trò
của người quản lý, sáng tạo tác phẩm đến chuyển tải tác phẩm đến công chúng bạn đọc.
Đổi mới, cải tiến chất lượng nội dung là yêu cầu từ thực tiễn hoạt động báo chí.
Cần có quy hoạch về chiến lược phát triển. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp
vụ là khâu quan trọng quyết định chất lượng tác phẩm báo chí và sản phẩm báo chí.
Phát triển về số lượng, thường xuyên đổi mới, cải tiến về chất lượng, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của công chúng. Làm phong phú, đa dạng các sản phẩm báo chí đi đôi
với quản lý thật tốt sẽ là điều kiện tiên quyết để báo chí phát huy vai trò trong việc nâng
cao nhận thức, hiểu biết, định hướng tư tưởng đối với công chúng.
3.2.2. Nhóm giải pháp liên quan đến đối tượng tiếp nhận - công chúng báo
Đảng.
Hiện nay, các cơ quan báo chí đều ý thức hơn đến vai trò của báo chí đối với công
chúng trong hoạt động truyền thông. Cần phải đẩy mạnh việc hiện thực hóa những nhận
thức này, trước hết là từ nhận thức của Ban biên tập và Tòa soạn đến đội ngũ các nhà
báo. Cần thường xuyên quan tâm tiến hành nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu và tìm hiểu
điều kiện tiếp nhận của công chúng, để tìm ra phương hướng tiếp cận tốt nhất và sáng
tạo tác phẩm báo chí thực sự phù hợp, bổ ích đối với công chúng. Thấu hiểu, tôn trọng
và đáp ứng nhu cầu chính đáng của công chúng nhằm cung cấp cho họ những tinh tuý
của món ăn tinh thần phong phú, đa dạng, chính là mục đích mà mỗi người làm báo cần
hướng tới để tăng cường sự hấp dẫn và hiệu quả tiếp nhận sản phẩm báo chí của công
chúng.
triển báo chí truyền thông hiện đại. Thu hút sự quan tâm của công chúng báo chí qua
nội dung có chất lượng chính trị- văn hóa – khoa học cao, sẽ góp phần nâng cao dân trí,
xây dựng nền báo chí Việt Nam phát triển.
3. Nghiên cứu công chúng là công tác có tầm quan trọng đối với hoạt động truyền
thông và sự phát triển bền vững của các cơ quan báo chí, trong đó có báo Đảng ở các
địa phương. Quan tâm nghiên cứu công chúng, cơ quan báo chí sẽ hiểu rõ đặc điểm, tâm
lý tiếp nhận của công chúng, từ đó có phương thức tác động thích hợp, hiệu quả. Cần có
nhận thức đúng và đầu tư cho công tác điều tra, khảo sát để nắm bắt công chúng bạn
đọc của mình một cách chuyên nghiệp hơn mới có sự thay đổi đối với các báo Đảng địa
phương trong thời gian tới, nhất là trong xu thế phát triển báo chí nhanh chóng, đa dạng
và phong phú như hiện tại và trong những năm tới.
4. Kinh tế báo chí mang lại hiệu quả nhiều mặt đối với hoạt động báo chí, nhất là
tác động của báo chí hướng đến công chúng. Tuy nhiên, trong điều kiện chất lượng,
hiệu quả xã hội của các báo Đảng nhìn từ công chúng, thì đây là vấn đề khó khăn, thách
thức đặt ra, tiếp tục cần được nghiên cứu, đánh giá và có những giải pháp
5. Những điều kiện và kinh nghiệm thực tiễn của mỗi tờ báo khác nhau và hiệu
quả tùy thuộc vào sự năng động của đội ngũ ở từng tờ báo, nhưng cốt lõi vẫn là vấn đề
nâng cao chất lượng nội dung và hình thức, hướng đến sự gần gũi của công chúng theo
đặc điểm của từng địa phương và tạo ra hiệu quả về kinh tế đối với tờ báo từ nguồn thu
quảng cáo, phát hành
References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. CÁC VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14
17. Nguyễn Quang Hòa (2002), Phóng viên và Tòa soạn, Nxb VHTT, Hà Nội
15
18. Vũ Đình Hòe chủ biên (2000), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo
quản lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội .
19. Đinh Văn Hường (2007), Tổ chức và hoạt động của tòa soạn, Nxb ĐHQG Hà Nội.
20. Đỗ Quang Hưng chủ biên (2000), Lịch sử Báo chí Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội.
21. Nhiều tác giả (1992), Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Hội Nhà báo Việt
Nam, Hà Nội.
22. Phân viện Báo chí Tuyên truyền (2000). Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn, tập
1, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, .
23. Nhiều tác giả (1998), Địa chí Đồng Nai, Nxb Đồng Nai.
24. Trần Hữu Quang (2001), Chân dung công chúng truyền thông, Nxb TP. Hồ Chí
Minh, TP.HCM.
25. Trần Hữu Quang (2006), Xã hội học báo chí, Nxb Trẻ.
26. Dương Xuân Sơn, Đinh Hường, Trần Quang (2004), Cơ sở lý luận báo chí truyền
thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
27. Hội Nhà báo Việt Nam (1998), Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà
báo, Hà Nội.
28. Dương Xuân Sơn - Đinh Văn Hường - Trần Quang (2005), Cơ sở lý luận báo chí
truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
29. Tạ Ngọc Tấn (1999), Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà
Nội.
30. PGS.TS Tạ Ngọc Tấn (2004), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
31. PGS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên (2005), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lý luận Chính
trị, Hà Nội.
32. Trần Ngọc Tăng (2001), Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ
ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia.
33. Nguyễn Thị Minh Thái (2005), Phê bình tác phẩm văn học – nghệ thuật trên báo
chí, Nxb ĐHQG Hà Nội .