Tài liệu Mạng truyền số liệu chuyển mạch gói X25 - Pdf 10

Mạng truyền số liệu
chuyển mạch gói X25
Mạng truyền số liệu
chuyển mạch gói X25
Các thành phần của mạng chuyển mạch gói
X.25 - Giao thức mạng chuyển mạch gói
Bảo mật trong các mạng chuyển mạch gói
Khi nào sử dụng chuyển mạch gói
Các giao tiếp vật lý của mạng chuyển mạch gói
Trang bị cho các mạng chuyển mạch gói
3. Các thành phần của mạng chuyển mạch gói
• 3.1. Mở đầu
• 3.2. Các tuyến liên lạc của mạng
• 3.3. Thiết bị chuyển mạch gói
o 3.3.1. Giao tiếp lớp vật lý
o 3.3.2. Giao tiếp lớp tuyến
o 3.3.3. Modul chuyển mạch gói
o 3.3.4. Modul quản lý mạng
o 3.3.5. Cấu trúc phần cứng của các bộ chuyển mạch
gói
o 3.3.6. Đặc tính của thiết bi chuyển mạch gói
• 3.4. Các PAD
o 3.4.1. Giao tiếp không đồng bộ
o 3.4.2. Module chuyển đổi ký tự - gói
o 3.4.3. Module giao thức lớp mạng
o 3.4.4. Giao tiếp lớp tuyến
o 3.4.5. Giao tiếp vật lý
o 3.4.6. Module quản lý mạng
o 3.4.7. Cấu trúc phần cứng của PAD
o 3.4.8. Chất lượng của PAD
• 3.5. Các giao tiếp chủ

điểm thì tuyến này là "bán song công".
Để thông tin phát đi được khôi phục lại ở máy thu thì luồng
tin chuỗi bit cần phải được chuyển đổi lại sang dạng tin trong
bộ nhớ của máy thu. Máy thu cần phải được cung cấp tín
hiệu đồng hồ nhịp để xác định chính xác thông tin gì đang
được thu nhận. Tín hiệu đồng hồ này cho máy thu biết khi
nào cần lấy mẫu tín hiệu số liệu để khôi phục thông tin. Hình
3.1 mô tả tín hiệu đồng hồ này được sử dụng như thế nào để
lấy mẫu luồng số liệu cần thu.
Tuỳ thuộc vào từng kiểu chính xác của tuyến thông tin, có
thể có một tín hiệu đồng hồ riêng cho mỗi hướng chuyển tin;
chỉ một đồng hồ được dùng cho cả hai hướng hoặc không có
tín hiệu đồng hồ nào cả. ở trường hợp sau, luồng số liệu cũng
mang theo cả thông tin về đồng hồ nhịp. Có nhiều phương
pháp riêng để mã hoá luồng số liệu cho phép đồng hồ này có
thể tách ra từ số liệu một loại kỹ thuật được gọi là "mã hoá
Manchester".
ở hầu hết các trường hợp có sự khác biệt giữa các giao tiếp ở
mỗi phía của tuyến liên lạc. Một đầu gọi là "thiết bị kết cuối
mạch điện số liệu", hay DCE. Còn đầu kia gọi là "thiết bị
đầu cuối số liệu", hay DTE. Nói chung các thiết bị trong
mạng (tức là các nút chuyển mạch gói) là các DCE để giao
tiếp với các thiết bị đầu cuối phía ngoài vành đai mạng. Còn
các thiết bị đầu cuối đại diện cho DTE để đấu nối với các
giao tiếp DCE. Khi đấu nối vào mạng thông tin thì luôn phải
có một CDE của mạng và thiết bị người sử dụng phải có một
giao tiếp DTE.
ở mức này thì giữa DCE và DTE khác gì nhau? ở hầu hết các
trường hợp, giao tiếp DCE cung cấp các tín hiệu đồng hồ để
định thời cho tuyến. DTE cần sử dụng thông tin định thời do

xác cho những gì mà mạng cần sử dụng.
3.3.1. Giao tiếp lớp vật lý
Hình 3.2 mô tả các phần tử cơ bản của một thiết bị chuyển
mạch gói. Các tuyến thông tin của mạng dẫn vào thiết bị
chuyển mạch được nối vào các giao tiếp vật lý của thiết bị
chuyển mạch. Chúng cung cấp các điểm nối vật lý (tức là các
bộ đấu chuyển) và các điểm nối điện (các bộ điều khiển và
bộ thu báo hiệu đường điện đang sử dụng). Vì kiểu giao tiếp
có thể thay đổi nên các giao tiếp này thường ở dạng các
phiến nối kiểu chấu cắm. Nhiều kiểu giao tiếp khác nhau
được sử dụng cho các mạng chuyển mạch gói sẽ được bao
quát chi tiết ở chương 10. Mục tiêu của chương này là giới
thiệu tên các giao tiếp mà không đi sâu vào chi tiết.
Giao tiếp vật lý phổ thông nhất (tức là giao tiếp lớp vật lý)
gọi là X.21. BIS, đôi khi còn gọi là V.24. Còn giao tiếp báo
hiệu điện thường là V.28, còn gọi là RS.232. Các cơ cấu này
thích hợp ở các tốc độ tới khoảng 19,2 Kbit/s trên một cự ly
tuyến không quá dài. Nó có thể làm việc ở tốc độ cao hơn,
tới 76,8 kbit/s theo đường cáp ngắn, nhưng điều này không
được khuyến nghị.
Điều quan trọng thứ hai (dựa vào số lượng giao tiếp đang
được sử dụng) đối với X.21 bis là giao tiếp X.21. Đây là giao
tiếp lớp vật lý tốc độ cao, nó phù hợp với các tốc độ tuyển
tới 10 triệu bit mỗi giây trên cự ly vừa phải. Giao tiếp này
ngày càng quan trọng hơn bởi vì các tuyến liên lạc sử dụng
trong các mạng chuyển mạch gói càng ngày tốc độ càng cao
và yêu cầu khả nǎng làm việc với tốc độ cao.
Giao tiếp thứ ba đôi khi gặp ở các mạng chuyển mạch gói là
V.35. Giao tiếp tốc độ trung bình này thường thấy ở các giao
tiếp máy chính xác X.25. V.35 được quy định làm việc ở tốc

bộ chuyển mạch gói chỉ tiến hành kiểm tra rất ít. Ưu điểm
của kiểu chuyển mạch này là thao tác rất nhanh. Công việc
xử lý tiêu đề các gói chỉ duy trì ở mức rất thấp nên tốc độ
chuyển mạch cao. Điều này cũng có nghĩa là phần mềm của
thiết bị chuyển mạch tương đối đơn giản.
Nhược điểm của phương thức chuyển qua này là các thiết bị
chuyển mạch gói có thể để cho lỗi qua mạng. Điều này sẽ
không hệ trọng nếu mỗi thiết bị trên mạng có thể xử lý được
từng trạng thái lỗi có thể nhận biết được. Kinh nghiệm cho
thấy mặc dù các thiết bị vẫn làm việc chuẩn xác ở điều kiện
thông thường nhưng ngoài trạng thái thông thường còn có lỗi
ở phần mềm hay phần cứng và dẫn tới sự cố, thậm chí rất
nghiêm trọng. Trường hợp xấu nhất toàn bộ mạng có thể bị
đình trệ. Khi thực hiện phần mềm tạo lập mạng, một tỷ lệ lớn
phần mềm dành để đối phó khi lỗi xảy ra. Nó là chuẩn mực
kiểm tra lỗi và phục hồi phần mềm với điều kiện thực tế khi
khó có thể do kiểm mọi trạng thái lỗi sinh ra. Rõ ràng là
công nghệ soạn thảo phần mềm hoàn thiện thì có thể khẳng
định rằng sản phẩm phần mềm của từng mạng có thể làm
việc chuẩn xác ở mọi tình huống. Tuy vậy ở thời điểm này
vẫn còn vướng mắc.
Nếu các thiết bị chuyển mạch gói kiểm tra khắt khe từng gói
một, thì các lỗi có thể được định vị và ngǎn ngừa để không
đưa vào mạng. Điều này có hiệu quả nhất ở các mạng gọi
thực. Vì các bộ chuyển mạch gói cần có trạng thái của các
cuộc gọi thực chuyển qua chúng nên chúng phải có toàn bộ
thông tin cần để kiểm tra xem từng gói có thích hợp về trạng
thái của cuộc gọi thực cho nó hay không.
Để mô tả việc này có thể thực hiện ra sao, ta xem xét trường
hợp một thiết bị đầu cuối chịu được một kiểu lỗi phần mềm

lượng thấp đi và tốc độ bit của các tuyến của mạng cũng
giảm đi. Còn ở trường hợp sau, chức nǎng chuyển mạch gói
không chịu ảnh hưởng tý nào của lớp tuyến. Như vậy tốc độ
chuyển mạch gói sẽ cao và không bị ảnh hưởng bởi tốc độ
bit của các tuyến.
3.3.4. Module quản lý mạng
Phần tử quan trọng mang tính quyết định của một thiết bị
chuyển mạch gói là module quản lý mạng. Công việc quản lý
mạng sẽ được đề cập chi tiết hơn ở cuối phần này. Nói chung
phần tử quản lý mạng trợ giúp cho các chức nǎng như cấu
hình thiết bị chuyển mạch gói (bao gồm tất cả các bảng định
tuyến cố định) và theo dõi tính nǎng của thiết bị chuyển
mạch khi nó thao tác. Khi kích cỡ của mạng chuyển mạch
gói tǎng lên thì dịch vụ quản lý mạng của các nút chuyển
mạch gói càng quan trọng hơn. Nó cung cấp thông tin cho
người quản lý về trạng thái làm việc của các bộ chuyển mạch
và khả nǎng sử dụng các tuyến của mạng.
3.3.5. Cấu trúc phần cứng của các bộ chuyển mạch gói
Tư duy thiết kế đối với cấu trúc phần cứng của các thiết bị
chuyển mạch gói hiện tại khá khác nhau. Các thiết bị chuyển
mạch gói thế hệ đầu sử dụng các máy tính mini tiêu chuẩn
điều khiển phần mềm chuyển mạch gói. Giao tiếp lớp tuyến
là các giao tiếp nối tiếp đơn giản. Bộ xử lý đơn trong máy
tính điều khiển toàn bộ giao thức lớp tuyến và mọi thứ khác.
Thông thường tốc độ tuyến làm việc kiểu này tương đối
thấp, 9.6 kbit/s là loại tiêu biểu có trông đợi được. Máy tính
DEC PDP.11 có thể được sử dụng làm nhiệm vụ này.
Cấu trúc đơn giản như vậy có lợi vì phần cứng thông dụng
và tiêu chuẩn hoá có thể được sử dụng. Chỉ có phần mềm
phải soạn thảo đặc biệt. Ưu điểm nữa của các cấu trúc này là

số lượng giao tiếp lớp tuyến và lớp vật lý ít hơn, ví dụ 16,
nếu khách hàng chỉ yêu cầu 16 tuyến khi bán thiết bị này.
Sau đó khách hàng muốn mở rộng dung lượng của nó thì có
thể đưa thêm vào các phiến mạch giao tiếp để nhận được số
lượng giao tiếp tuyến cần thiết.
3.3.6. Đặc tính của thiết bị chuyển mạch gói
Có hai con số thể hiện nǎng lực của một bộ chuyển mạch gói
là tốc độ chuyển mạch cực đại và tốc độ làm việc cực đại của
các tuyến của mạng.
Người ta nhóm các bộ chuyển mạch gói theo khả nǎng
chuyển mạch của chúng. Có thể phân nhóm như sau:
Tốc độ thấp: chuyển nhỏ hơn 50 gói/s
Tốc độ trung bình: chuyển từ 50 tới 500 gói/s
Tốc độ cao: chuyển hơn 500 gói/s
Toàn bộ chủ đề "chuyển mạch gói mỗi giây" chính xác ra
sao sẽ được đề cập chi tiết ở chương 11. Nói chung, sự làm
việc của các bộ chuyển mạch gói ngày càng nhanh hơn. Tốc
độ chuyển mạch hơn 2000gói/s, hiện nay rất có khả nǎng.
Tốc độ cực đại mà thiết bị chuyển mạch gói có thể điều
khiển tuyến của mạng sẽ dẫn tới độ tiếp thông bị giới hạn và
đỗ trễ chuyển gói sẽ dài. Cũng như tốc độ chuyển mạch, để
đặc trưng cho các bộ chuyển mạch gói có thể ghép nhóm
theo tốc độ tuyến:
Tốc độ thấp: nhỏ hơn 19,2 kbit/s
Tốc độ trung bình: từ 19,2 kbit/s tới 64 kbit/s
Tốc độ cao: hơn 64 kbit/s
Tương tự tốc độ chuyển mạch gói, có nhiều cách phân chia
tốc độ tuyến cực đại. Chương 11 có các chi tiết về vấn đề
này.
Một thông tin quan trọng khác là số lượng cuộc gọi thực

chung phương thức ký tự là phương thức mà các thiết bị của
mạng xử lý từng ký tự như là một khoảng riêng biệt. Còn các
thiết bị làm việc theo phương thức gói lại xử lý các gói như
các hạng mục riêng rẽ. Các gói có thể chứa một số chữ. Các
PAD được sử dụng để đấu nối các thiết bị đầu cuối, các máy
tính cá nhân, các máy in vào các mạng chuyển mạch gói.
Chúng có giao tiếp không đồng bộ, thường là RS-232 hoặc
các giao tiếp nối tiếp được thiết kế để đấu nối cho các giao
tiếp tương đương vào các hệ thống khác. Một PAD có một
số giao tiếp ký tự không đồng bộ ở một phía, còn phía kia là
một giao tiếp gói.
3.4.1. Giao tiếp không đồng bộ
Giao tiếp không đồng bộ tạo ra các giao tiếp vật lý cho các
thiết bị làm việc theo phương thức ký tự. Đa phần đấu nối
chuyển cho mỗi giao tiếp không đồng bộ là một đầu nối D25
cho các thiết bị thu phát điện tử RS-232 (hoặc V.28): Nó tạo
ra các giao tiếp thích hợp để đấu nối cho hầu hết các thiết bị
phương thức chữ. V.28 được mô tả chi tiết ở chương 10. Đôi
khi còn gặp các giao tiếp RS-422 hoặc RS-423. Chúng cho
phép các giao tiếp không đồng bộ làm việc ở các tốc độ cao
hơn nhưng tương đối ít các thiết bị phương thức ký tự thích
hợp.
Hình 3.4 mô tả phiến đấu chuyển D25 và các
tín hiệu thường gặp ở các giao tiếp không đồng bộ.
TXD được sử dụng để chuyển số liệu từ thiết bị phương thức
ký tự tới PAD và ngược lại. RTS và CTS thường chỉ được sử
dụng để điều khiển luồng phần cứng (xem phần sau). DSR là
tín hiệu từ PAD tới thiết bị phương thức ký tự để chỉ thị cổng
PAD hoạt động hay không. Thông thường nó được dùng để
chỉ cho thiết bị phương thức ký tự biết là một tuyến nối qua

thiết bị không thể tiếp nhận thêm số liệu thì nó phát gói
XOFF về ?o máy phát số liệu. Máy phát sẽ ngừng phát trong
phạm vi một số ký tự xác định, cực đại là 32 chữ. Khi máy
thu có thể tiếp tục xử lý số liệu, nó phát gói XON. Lúc đó lại
bắt đầu luồng số liệu. XON/XOFF có thể đi theo hai hướng
đồng thời để điều khiển ?ồng song công cho tuyến nối.
Phương pháp thứ hai gọi là điều khiển luồng phần cứng.
Trường hợp này hai trong số các đường dây điều khiển giao
tiếp được sử dụng để điều khiển luồng số liệu giữa PAD và
thiết bị phương thức ký tự. Nó thường gọi là RST/CTS hoặc
DTR/CTS tuỳ thuộc đôi dây nào của các đường dây điều
khiển được sử dụng. Một trong các đường dây điều khiển nối
tới PAD là đầu vào, còn đường kia là đầu ra. ở hầu hết các
PAD đầu vào là RTS còn đầu ra là CTS. ở thiết bị phương
thức ký tự thì RTS là một đầu ra và CTS là một đầu vào. Khi
PAD không thể tiếp nhận số liệu từ thiết bị phương thức ký
tự thì nó thiết lập CTS để ngừng làm việc và chỉ thị điều đó
cho thiết bị phương thức ký tự. Khi nó lại có thể thu nhận số
liệu thì nó lập CTS hoạt động. Thiết bị phương thức ký tự
dùng RTS để điều khiển đầu ra số liệu từ PAD theo cách
hoàn toàn tương tự.
Mỗi phương pháp có các ưu và nhược điểm riêng. Nếu sử
dụng phương pháp XON/XOFF thì các ký tự này không thể
được phát đi trực tiếp như số liệu trừ khi phương pháp đặc
biệt nào đó được sử dụng. Phương pháp điều khiển phần
cứng không loại ra bất kỳ ký tự nào, nên việc chuyển số liệu
qua được hoàn thiện. Thế nhưng phương pháp này lại đòi hỏi
nhiều dây nối giữa PAD và thiết bị phương thức ký tự. Bình
thường chỉ cần 4 dây nối giữa PAD và thiết bị phương thức
ký tự nếu sử dụng phương pháp XON/XOFF để điều khiển

được chuyển sớm, tới đầu cuối kia của tuyến nối có thể
được. Còn các ký tự ở dạng gói thu được sẽ phát thẳng tới
thiết bị phương thức ký tự.
Mặt khác PAD có thể được cấu tạo để đảm nhiệm phần chủ
yếu ở phương thức chuyển số liệu. Ví dụ như PAD có thể
lưu đệm cho các đường dây phương thức ký tự, nó chỉ phát
cho đường dây phương thức ký tự qua mạng khi ký tự thích
hợp thu được từ thiết bị phương thức ký tự. PAD có thể có
cấu trúc cho phép lưu đệm các ký tự đã được soạn thảo. Nó
cũng có thể bổ sung các ký tự vào các hàng đã thu được,
phát vào mạng và chuyển về phương thức ký tự nếu cần.
Còn nhiều chức nǎng khác nữa mà giao tiếp PAD có thể
cung cấp. Chúng đã được CCITT điều khiển hoá trong
khuyến nghị X.3, sẽ mô tả chi tiết ở chương 7. Tiêu chuẩn
khác X.28 định ra một giao tiếp người dùng cho PAD. Đáng
tiếc giao tiếp X.28 quá gây cấn đến nỗi hầu hết các PAD đã
có nhiều giao tiếp người dùng hơn, trong một số trường hợp
còn sử dụng các giao tiếp điều khiển theo thực đơn có các
trang bị bổ trợ.
Ngoài khả nǎng cấu hình của cổng PAD để làm việc với thiết
bị phương thức ký tự, thiết bị ở đầu kia của tuyến nối mạng
có thể tái cấu hình cho cổng khi một tuyến nối mạng hoạt
động. Đối với các mạng chuyển mạch gói X.25, tiêu chuẩn
X.29 của CCITT sẽ mô tả các tham số X.3 của một cổng
PAD có thể được chuyển đổi qua mạng X.25 ra sao. Cùng
với các khuyến nghị X.3 và X.28 nó tạo ra tiêu chuẩn hoàn
thiện 3X hoặc XXX cho các PAD. Một PAD theo X.25
không dùng X.3 và X.29 thường ít được sử dụng. Vì khi hầu
hết các máy tính chủ được một cổng PAD gọi qua mạng
chuyển mạch gói thì chúng đều coi là cổng PAD có sử dụng

ở mạng chuyển mạch gói X.25 module giao thức lớp mạng
bổ trợ cho mức 3 của X.25. Nó cần trợ giúp ít nhất là số
lượng các cuộc gọi thực đồng thời vì không phải tất cả các
giao tiếp không đồng bộ hoặc có những giao tiếp khác muốn
gọi cùng lúc.
3.4.4. Giao tiếp lớp tuyến
Giao tiếp lớp tuyến tạo ra giao thức lớp tuyến thích hợp cho
giao thức mạng chuyển mạch gói. Các gói được chuyển qua
giữa module lớp mạng và giao tiếp lớp tuyến.
ở một mạng X.25 giao thức lớp tuyến là giao thức cấp 2 của
X.25.
3.4.5. Giao tiếp vật lý
Giao tiếp vật lý cung cấp các thiết bị thu phát tín hiệu điện
cho phép PAD nối ghép tới chuyển mạch gói. Những nhận
xét giống như đối với các giao tiếp vật lý chuyển mạch gói
có thể áp dụng ở đây. Điều khác nhau chủ yếu là ở chỗ các
giao tiếp vật lý hiếm thấy ở dạng phiến mạch trấu cắm. Hầu
hết các PAD tạo ra giao tiếp X.21 bis. Ngoài ra một số còn
có giao tiếp X.21. Thông thường có thể chọn giữa 2 giao tiếp
này nhờ cấu hình phần mềm của PAD. Còn các trường hợp
khác giao tiếp này có thể lựa chọn nhờ sử dụng khoá chuyển
ở đâu đó trong PAD.
3.4.6. Module quản lý mạng
Phần tử cuối cùng của PAD là module quản lý mạng. Nó
cung cấp các tiện nghi để cấu hình thao tác cho các cổng
không đồng bộ của PAD và cũng để cấu hình thao tác cho
lớp mạng lớp tuyến và đôi khi có cả giao tiếp lớp vật lý của
PAD. Khi thao tác, module quản lý mạng có thể cho phép
một trạm quản lý mạng từ xa tách thông tin về chất lượng ra
từ PAD.

Sử dụng các giao tiếp lớp tuyến kiểu VLSI và nhiều bộ xử lý
có thể tạo được chất lượng cao hơn nhiều so với PAD sử
dụng bộ xử lý đơn. Tốc độ tuyến tới 10
6
kbit/s có thể cho các
giao tiếp không đồng bộ làm việc ở 34,8 kbit/s.
3.4.8. Chất lượng của PAD
Khác với tốc độ mà PAD có thể điều khiển tuyến mạng và
tốc độ mà các cổng không đồng bộ có thể thao tác, tham số
chất lượng quan trọng nhất là tốc độ gói mà PAD có thể điều
hành. Không thể sử dụng tốc độ giao tiếp rất nhanh nếu độ
tiếp thông gói của PAD không thể sử dụng chúng.
Có thể phân chia PAD của các bộ chuyển mạch gói thành
nhóm theo tốc độ gói của chúng:
Tốc độ thấp: ít hơn 10 gói mỗi giây
Tốc độ trung bình: từ 10 gói tới 60 gói mỗi giây
Tốc độ cao: hơn 60 gói mỗi giây.
ở đây đơn vị số gói mỗi giây là số lượng gói có 128 bytes số
liệu được xử lý mỗi giây. Kích cỡ gói này sử dụng kích cỡ
gói cực đại và là phương thức đo chuẩn về chất lượng PAD
(và bộ chuyển mạch). Chúng ta sẽ đề cập thêm các vấn đề
này ở chương 11.
Tham số 60 gói mỗi giây là đáng chú ý. Nếu một PAD X.25
có thể cho ta khả nǎng tiếp thông 60 gói kiểu 128 bytes mỗi
giây thì nó hoàn toàn sử dụng được ở tốc độ 64 kbit/s cho
tuyến liên lạc như một tuyến Kilostream của Viễn thông
Anh.
Một thông tin quan trọng đối với một PAD là số lượng tuyến
nối mạng đồng thời mà nó có thể xử lý để chuyển liên tục số
liệu theo mỗi tuyến nối. Điều này thường chỉ được chỉ ra

Module cuối là module giao tiếp hệ thống thao tác máy tính
chủ. Nó cho phép các ứng dụng về phía máy tính chủ để xâm
nhập vào các dịch vụ mạng qua các chức nǎng hệ thống thao
tác thích ứng. ở một số trường hợp cho thấy, nó có thể xâm
nhập các tệp ở các hệ thống máy tính chủ khác trong mạng
như thể chúng là máy tính chủ nội hạt. Điều này có thể được
thực hiện nếu hệ thống thao tác có thể sắp xếp các chức nǎng
xâm nhập tệp chuẩn vào các chức nǎng xâm nhập tệp của
mạng thích ứng. Một ví dụ về kiểu sử dụng mạng chuyển
mạch gói này của các máy tính chủ là DECNET.
ở một số trường hợp tuyến nối mạng không được hợp nhất
vào hệ thống thao tác. Điều này có nghĩa là các ứng dụng
cần được phối ghép trực tiếp với giao tiếp mạng chuyển
mạch gói, như vậy có thể có vướng mắc ở một môi trường
nhiều người sử dụng. Phương pháp "chốt" thường được dùng
khi người cung cấp hệ thống thao tác cho từng máy tính chủ
riêng không trợ giúp giao tiếp mạng và không cung cấp các
tiện nghi thích hợp để làm việc này.
3.5.1. Cấu trúc phần cứng của giao tiếp chủ
Nói chung giao tiếp chủ cho mạng chuyển mạch gói sẽ được
gắn vào hệ thống BUS phần cứng của máy tính chủ như một
phiến mạch kiểu chấu cắm. Mức độ thông minh của phiến
mạch này có thể thay đổi ở phạm vi rộng.
Trường hợp đơn giản nhất thì phiến mạch này có thể cung
cấp một số ít các phần tử cơ bản nhất, giao tiếp vật lý và một
giao tiếp nối tiếp. Các module giao tiếp hệ thống thao tác,
lớp mạng và lớp tuyến được bộ xử lý của máy tính chủ thực
hiện. Việc điều hành các module này cho mạng chuyển mạch
gói sẽ là một gánh nặng, vì vậy chất lượng thu được ở kiểu
giao tiếp này rất thấp. Nếu máy tính chủ có tải nặng thì giao

máy tính chủ qua một giao tiếp tốc độ rất cao để thông tin có
thể qua lại giữa hai bộ xử lý rất hiệu quả.
3.5.2. Hiệu quả của giao tiếp chủ.
Cho tới bây giờ thì hiệu quả của hầu hết các giao tiếp chủ
đang là một vấn đề ít hứa hẹn. Nếu chúng là loại đơn giản thì
dẫn tới tốc độ tiếp thông gói và tốc độ số liệu rất thấp. Bình
thường giao tiếp này có thể làm việc ở tốc độ cực đại là 9,6
kbit/s với tốc độ gói khá thấp. Vì máy tính chủ luôn luôn có
một hệ thống đa dụng và cần nhiều tuyến nối cho những
người sử dụng khác qua được giao tiếp này, nên độ tiếp
thông cho mỗi người dùng sẽ rất hạn chế.
Tình huống này sẽ tốt hơn khi các phiến mạch giao tiếp chủ
có độ thông minh cao hơn. Các tốc độ 64 kbit/s hoặc cao hơn
có thể được sử dụng vì giao thức lớp mạng đã chuyển vào
phiến mạch giao tiếp này. Ngay cả khi đó nếu có 32 điểm sử
dụng có tuyến nối mạng đang làm việc sử dụng một tuyến
nối mạng thì tốc độ số liệu cho mỗi điểm dùng chỉ là 2
kbit/s. Trong thực tế hầu hết các tuyến nối là rỗi ở một thời
điểm nên khả nǎng thực sẽ lớn hơn nhiều.
Bộ xử lý áp cuối tạo ra khả nǎng tốt nhất để có được các
tuyến tốc độ cao cho các máy tính chủ từ các mạng chuyển
mạch gói. Tốc độ tuyến tới hai triệu bit mỗi giây (có thể tới
10 triệu bit/giây trong tương lai gần) có thể thích hợp với các
tốc độ gói cao và tạo điều kiện sử dụng tốc độ tuyến cao này.
3.6. Các đường nối cổng mạng
Nhiệm vụ của các đường nối cổng mạng là ghép các mạng
với nhau để các thiết bị đầu cuối ở các mạng khác nhau có
thể đấu nối với nhau. Các tuyến nối liên mạng này cần phải
đi qua các đường nối cổng này. Hình 3.6 mô tả các thành
phần cơ bản của một đường cổng. Các module giao tiếp vật


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status