Tài liệu Đồ án tốt nghiệp Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý NSNN ở Việt nam trong điều kiện hiện nay doc - Pdf 10


Đồ án tốt nghiệp
Những bất cập và giải pháp
hoàn thiện chế độ phân cấp
quản lý NSNN ở Việt nam
trong điều kiện hiện nay
1
MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1:
Hệ thống ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường
I. Bản chất và vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường
1.Bản chất của NSNN
2. Vai trò của NSNN trong nề kinh tế thị trường
2.1 Đặc điểm của cơ chế kinh tế thị trường
2.2 Vai trò của NSNN trong cơ chế thị trường
II. Hệ thống NSNN
Chương 2:
Phân cấp quản lý NSNN và Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam
I. Phân cấp quản lý NSNN
1. Sự cần thiết và tác dụng của phân cấp quản lý NSNN
2. Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
3. Nội dung phân cấp quản lý NSNN
II. Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam
Chương 3:
Một số kiến nghị hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý
NSNN ở Việt nam hiện nay
1. Hoàn thiện NSĐF trên cơ sở xoá bỏ dần tính bao hàm của
NS cấp trên đối với ngân sách cấp dưới:
2. Cải cách hệ thống quản lý thuế:
3. Khi phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và xác định tỷ lệ phần trăm phân chia các

chỉ đạo điều hành, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, phát huy tối đa hiệu quả của NSNN
trong việc điều chỉnh nền kinh tế theo những mục tiêu đã đặt ra.
CHƯƠNG I: HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
I. Bản chất và vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường.
1. Bản chất của NSNN.
NSNN là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳ người dân nào cũng biết
được, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN:
Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chi bằng tiền
của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định.
Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô
tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong một năm.
4
Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài của NSNN và
mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và NSNN.
Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước. Tại Việt nam, định nghĩa
về NSNN được nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996): NSNN là toàn bộ các khoản thu
và chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước.(Điều1- luật NSNN).
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu (sử dụng)
quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là các chủ thể
kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị
và một bên là Nhà nước. Đó chính là bản chất kinh tế của NSNN. Đứng sau các hoạt
động thu, chi là mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội. Nói
cách khác, NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong
phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành

nhiễm môi trường sống của con người mà xã hội phải gánh chịu, do đó, hiệu quả kinh
tế, xã hội không được đảm bảo.
Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường hoạt động tốt cũng không thể
đạt được. Sự tác động của cơ chế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu, nghèo, tác động
xấu đến đạo đức và tình người.
Với một loạt các khuyết tật trên, ngày nay, trên thực tế không tồn tại cơ chế thị
trường thuần tuý, mà thường có sự can thiệp của Nhà nước, khi đó nền kinh tế gọi là
Nền kinh tế hỗn hợp.
2.2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước trong cơ chế thị trường.
Tất cả những khiếm khuyết của cơ chế thị trường đòi hỏi có sự can thiệp của Nhà
nước là tất yêu, là một nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lai những cân đối và mở
đường cho sức sản xuất phát triển.
Trong cơ chế điều chỉnh của Nhà nước, bên trong kết cấu của nó, ngoài việc tổ chức
một cách khoa học, thì những công cụ tài chính, tiền tệ, kế hoạch, luật pháp được coi là
những công cụ điều chỉnh cơ bản và quan trọng.
6
NSNN là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước đIều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế, xã hội. Mục tiêu của NSNN không phải để Nhà nước đạt được lợi nhuận như các
doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình trước các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường. NSNN ngoàI việc duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước còn phải xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp
hoạt động.
NSNN được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân
đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh. Trước xu thế phát
triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách,
Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu tư vao các lĩnh vực mà tư nhân
không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc
đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao tong trên thị
trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hoá mà Chính phủ
khuyến dụng. Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế.

sách cấp tỉnh).
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân
sách cấp huyện).
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
NSTƯ phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo nhành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống
NSNN. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương được mạch của cả
nước
NSĐP là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù
hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngoài ngân sách xã chưa có đơn vị dự toán, các
cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy hợp thành.
* Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện
các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và
thành phố trực thuộc trung ương.
* Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quan trọng
đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếp trên địa bàn và
nhiệm vụ chi cũng được bố tríđể phục vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân cư
trong xã mà không thông qua một khâu trung gian nào. Ngân sách xã là cấp ngân sách
cơ sở trong hệ thống NSNN, đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ động
khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới,
thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
8
Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phối phần lớn các
khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ được giao nhiệm vụ đảm
nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương. Quan hệ giữa các cấp ngân sách
được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được phân
định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể
Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo
công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản
thu của ngân sách cấp dưới.

chính quyền cũng như quan hệ giữa các cấp ngân sách được tố hơn để phát huy vai trò
10
là công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN. Đồng thời, phân cấp quản lý NSNN còn có tác
động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn thiện hơn.
Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối quan hệ
giữa chính quyền Nhà nước trung ương và các cấp chính quyền địa phương trong việc
xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành NSNN đúng đắn và hợp lý sẽ là một giải pháp
quan trọng trong quản lý NSNN.
2. Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền
Nhà nước về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành NSNN.
Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các nguyên tắc
sau đây:
Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước. Phân cấp quản lý
kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý NSNN.
Hai là: ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để
đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước
Ba là: phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%)
phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được
cố định từ 3 đến 5 năm
Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân sách phải căn
cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước, cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về
văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ.
3. Nội dung của phân cấp quản lý NSNN.
Dựa trên cở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp quản lý NSNN
được quy định rõ trong chương II và III của luật NSNN bao gồm:
Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều hành NSNN từ
trung ương đến địa phương trong việc ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát
về chế độ, chính sách.
Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và điều hành

ngân sách đã quyết định.
12
Uỷ ban nhân dân lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương, dự toán
điều chỉnh NSĐP trong trường hợp cần thiết trình HĐND cùng cấp quyết định và báo
cáo cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp
* Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu được hưởng 100%. Như vậy, có thể giúp
chính quyền địa phương chủ động bố trí cân đối ngân sách cấp mình
* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa NSTƯ và ngân sách từng tỉnh do
Chính phủ quyết định. Tỷ lệ này được áp dụng chung đối với tất cả các khoản thu được
phân chia và được xác định riêng cho từng tỉnh.
Các khoản thu được phân chia gồm:
Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hoá nhập khẩu và
thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
Thuế thu nhập doanh nghiệp không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị
hạch toán toàn ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có vốn đầu tư
tại Việt nam
Thu sử dụng vốn ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước không kể thu sử dụng vốn
ngân sách từ hoạt động xổ số kiến thiết.
Các khoản thu phân chia:
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
- Thuế nhà, đất.
- Tiền sử dụng đất.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Thuế tài nguyên.
- Lệ phí trước bạ.
13
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, hành mã,
vàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát xa, ka ra ô kê, kinh doanh gôn, bán

Chế định luật về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách .
Với cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NSTƯ với ngân sách tỉnh, tỉnh
với các cấp NSĐP khác đã có những thay đổi căn bản so với khi chưa có luật. Khuynh
hướng chung là tăng tính chủ động nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách cơ
sở.
Về tiêu thức phân định nguồn thu.
Cách phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách như hiện nay chủ yếu dựa theo
tiêu thức tính chất, mức độ của các khoản thu chứ chưa thật chú ý đến đặc điểm của đối
tượng quản lý thu.
* Tỷ lệ phân chia giữa ngân sách tỉnh với ngân sách từng huyện, quận, thị xá, thành
phố thuộc tỉnh và ngân sách xã, phường, thị trấn đối với một phần của 5 khoản thu mà
ngân sách càp tỉnh được phân chia; tỷ lệ này do chính quyền tỉnh quy định.
* Tỷ lệ phân chia giữa ngân sách tỉnh với ngân sách từng huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh và ngân sách xã, phường, thị trấn đối với 7 khoản thu thuộc loại phân
chia giữa ngân sách các cấp này (thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử
dụng đất, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất, thuế
tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào một số mặt hàng); tỷ lệ này do cấp
tỉnh quy định.
* Thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt phát sinh bao nhiêu trước hết phụ
thuộc vào chính sách thuế đã ban hành. Về mặt luật pháp nói chung cũng như theo luật
NSNN nói riêng thì không thể cho phép thu nhiều hơn hoặc ít hơn so với luật định.
* Số thu này phụ thuộc vào tình hình xuất nhập khẩu, tình hình sản xuất kinh doanh
các mặt hàng chịu thuế, đây là yếu tố hoàn toàn khách quan đối với ngành thuế. Số thu
này có tăng lên so với trước cũng không phải nỗ lực chủ quan của các cơ quan địa
phương.
* Dự toán thu chi là dự báo ước lượng, con số này thường cao hay thấp hơn thực tế.
15
Chế định luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ và
các cơ quan khác của Nhà nước và trách nhiệm của các tổ chức cá nhân về NSNN.
Có thể nói, luật đã quy định một cách tương đối rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn

thống NSNN đã đồng nhất cách hiểu, tư duy trong quá trình vận hành trong thực tế. Nét
mới là ổn định nguồn thu và nhiệm vụ chi của mỗi cấp chính quyền theo luật (chỉ thay
đổi khi Quốc hội sửa luật), khắc phục được tính không ổn định trong phân định nguồn
thu và nhiệm vụ chi. Trước đây, về thu, hầu như năm nào Chính phủ cũng điều chỉnh
nguồn thu, tỷ lệ điều tiết một số khoản thu giữa trung ương và địa phương. Việc điều
chỉnh này chủ yếu bằng quyết định, chỉ thị (các văn bản dưới luật) của thủ tướng Chính
phủ nên hiệu lực pháp lý không cao. Có những nguồn thu, năm thì để lại cho địa
phương, năm thì thu về trung ương (thuế xuất, nhập khẩu tiểu ngạch, thu cấp quyền sử
dụng đất). Về chi, cũng thướng xuyên sửa đổi các nhiệm vụ chi (như chi trợ cấp khó
khăn thường xuyên và đột xuất cho cán bộ trung ương; chi cho bộ máy của Viện kiểm
sát nhân dân; quản lý công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới, đo đạc
và quản lý ruộng đất có năm được xác định là nhiệm vụ của trung ương, có năm lại là
của địa phương).
Luật đã khẳng định nguyên tắc: ngân sách cấp trên nắm giữ các nguồn thu chủ yếu
và đảm nhận các nhiệm vụ chi quan trọng hơn cấp dưới, các nguồn thu của ngân sách
cấp dưới không đủ đáp ứng nhu cầu chi thì được cấp bổ sung và không được sử dụng
ngân sách cấp nàt để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác. Do đó, xét về định tính,
tuy cả NSTƯ và NSĐP (tỉnh) đều có mười khoản thu 100% nhưng NSTƯ nắm giữ các
nguồn thu quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu của cả nước. Thực tiễn
trong mấy năm gần đây, tỷ trọng của NSTƯ chiếm khoảng 70% tỷ trọng chung của
NSNN(năm 1999, quyết toán thu NSTƯ là 58918 tỷ đồng và NSĐP thu là 19571 tỷ),
chủ yếu là thu từ các xí nghiệp quốc doanh, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (đặc
biệt là lĩnh vực dầu khí) từ thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu,
thuế GTGT hàng nhập khẩu và thu từ viện trợ không hoàn lại. Từ chỗ tập trung các
nguồn thu chủ yếu vào NSTƯ nên các nhiệm vụ chi của nó cũng khá nặng nề (năm
1999, tổng chi NSTƯ quyết toán là 52206 tỷ đồng và NSĐP là 38766 tỷ đồng) chủ yếu
là chi đầu tư phát triển (xây dựng cơ bản, hỗ trợ vốn cho DNNN, các chương trình quốc
gia), chi trả nợ, viện trợ, chi thường xuyên(quốc phòng, an ninh, lương hưu, bảo đảm xã
hội).
Từ khi đưa luật NSNN vào thực tiễn, nhiều địa phương đã ý thức được trách nhiệm

GDP đạt 20.2%, tăng khá so với mức 13.4% giai đoạn 1986-1990. Những năm cuối thế
kỷ, quy mô của NSNN tăng gấp khoảng 2.6 đến 2.9 lần so với năm 1991. Xét về số
tuyệt đối, tính theo giá hiện hành, thu NSNN năm 2000 tăng gấp 7.7 lần năm 1999. Nếu
loại trừ yếu tố lạm phát, quy mô tuyệt đôi thu NSNN vẫn còn tăng gấp 2.6 lần năm
1991. Trong đó, số thu từ thuế, phí và lệ phí ngày càng lớn và chiếm tỷ trọng quyết định
trong tổng thu NSNN, bình quân đạt khoảng 95% đến 98% tổng thu. Thành tựu này
không chỉ do luật NSNN đem lại mà còn đánh dấu sự tiến bộ của ngành thuế, đồng thời
khẳng định chiều hướng phát triển đúng đắn của công cuộc chuyển đổi kinh tế, cải cách
thuế.
18
Trong các năm 1991, 1992, tốc độ thu NSNN năm sau luôn cao hơn năm trước. Cao
nhất là năm 1992, thu NSNN bằng 198% năm 1991. Số thực thu NSNN trong những
năm này phản ánh rõ rệt hiện tượng tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Từ năm 1993,
tốc độ tăng thu năm sau so với năm trước tuy vẫn tăng nhưng mức tăng lại giảm dần và
chậm lại, giảm từ 98.1% năm 1992 so vơi năm 1991 xuống 3.1% năm 1998 so với
1997, sau đó lại được nhích lên và điều này được lý giải do có luật NSNN mà các khpản
thu được tập hợp kịp thời vào NSNN.
Về chi NSNN: chi NSNN diễn biến thất thường trong những năm đầu thập niên
1990. Năm 1990, tổng chi NSNN đạt 20% GDP, năm 1991 giảm xuống còn 15%, sau
đó lại đột ngột tăng lên tới gần 30% GDP vào năm 1993. Đây là hậu quả của cơ chế tập
trung nhưng phân tán. Trước khi có luật NSNN, ngân sách của mỗi cấp chính quyền
gồm hai phần: của chính bản thân cấp chính quyền đó và của cấp dưới. Cách quản lý
như vậy về hình thức thì tập trung nhưng trên thực tế lại rất phân tán. Trung ương chỉ
giao nhiệm vụ thu mà không giao nhiệm vụ chi cho các địa phương. Hệ thống định mức
tiêu chuẩn do trung ương ban hành bị vi phạm dẫn đến tuỳ tiện trong quản lý ngân sách,
gây thất thoát và lãng phí nguồn lực. Từ năm 1994, đặc biệt là sau năm 1995, tổng chi
NSNN so với GDP liên tục giảm. Trong 5 năm, tỷ trọng chi NSNN đã giảm từ 29.4%
GDP năm 1993 xuống 22.7% năm 1998. Các năm 1999, 2000, dù đã áp dụng các biện
pháp kích cầu nhưng chi so với GDP chỉ đạt 22.5%. Tuy nhiên, nếu xét cả thời kỳ 10
năm, tính theo giá hiện hành, quy mô tuyệt đối chi NSNN năm 2000 tăng gấp 8.5 lần so

1. Hoàn thiện NSĐF trên cơ sở xoá bỏ dần tính bao hàm của NS cấp trên đối với
ngân sách cấp dưới:
Giải quyết vấn đề này thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền
Trung ương và chính quyền đia phương (tỉnh, huyện, xã). Các nước có một nguyên tắc
rất quan trọng trong việc hoàn thiện NSĐF là đảm bảo cho địa phương có tính chủ
động, độc lập quyết định và xây dựng ngân sách cấp mình trên cơ sở luật pháp ổn định,
thống nhất.
Tuy mỗi nước có một bộ máy hành chính được tổ chức khác nhau, song nhìn chung
trên thế giới có hai hình thức tổ chức nhà nước cơ bản: Nhà nước liên bang và Nhà nước
đơn nhất. Theo đó, hệ thống NSNN được chế định trong luật cũng có hai xu hướng khác
biệt: đối với nhà nước liên bang thì quản lý NSNN theo xu hướng phân quyền (Đức,
Mỹ…); đối với nhà nước đơn nhất thì lại quản lý NSNN theo xu hướng tập quyền
(Pháp, Nhật…).
20
Dựa trên những quy định của Hiến pháp năm 1992 thể chế hoá cơ chế phân công,
phân nhiệm thẩm quyền và sự phối hơp giữa các cơ quan nhà nước trung ương và địa
phương sẽ là cơ sở cho việcđổi mới một cách cơ bản hệ thống chính quyền địa phương
hiện nay. Và phương hướng của kế hoạch đổi mới này là phải đảm bảo tính chất đồng
bộ và hệ thống và có căn bản chứ không phải là cục bộ, chắp vá thì mới có thể khắc
phục được những nhược điểm hiện nay về hành chính và đảm bảo tính hiệu quả của
NSNN trong tương lai.
Trước tiên, cần đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp đã được Chính phủ đề ra trong
Hội nghị HĐND và UBND toàn quốc (9/1998), cụ thể là:
-Tiến hành phân loại các đơn vị hành chính theo quy mô, diện tích, dân số và đặc
điểm, chỉ số phát triển kinh tế, xã hội làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách cho phù
hợp với từng loại đơn vị hành chính.
-Tổ chức một cách tinh gọn, hợp lý bộ máy chính quyền, không nhất thiết trung
ương có bộ, ngành nào thì địa phương cũng phải có sở, ban, ngành tương ứng và không
nhất thiết ở địa phương nào cũng có cơ quan chuyên môn thuộc UBND như nhau.
- Thí điểm mô hình tổ chức bộ máy hành chính đô thị, bộ máy hành chính nông

Công tác thanh tra, kiểm tra về thuế phải được tăng cường cùng với việc xây dựng hệ
thống tự động phân tích thông tin, chọn lựa đối tượng cần kiểm tra, thanh tra thuế.
Ngành thuế sẽ thực hiện cưỡng chế thuế đối với hành vi vi phạm để tăng cường tính
hiệu lực của các quyết định xử phạt hành chính về thuế.
Cơ cấu tổ chức quản lý thu thuế của ngành thuế được xây dựng theo nguyên tắc chức
năng, mỗi bộ phận khác nhau sẽ thực hiện các chức năng khác nhau trong quy trình
quản lý thu thuế, giảm thiểu mối quan hệ trực tiếp giữa cá nhân cán bộ thuế với ĐTNT
trong trường hợp ĐTNT chấp hành đúng các quy định về thuế. Trình độ cán bộ thuế
được nâng cao và chuyên môn hoá theo từng chức năng.
Mô hình của hệ thống quản lý thu thuế trong giai đoạn này như sau:
Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh lớn sẽ thực hiện tự tính, tự khai thuế. Các hộ kinh
doanh nhỏ nộp thuế theo mức ấn định thuế của cơ quan thuếvới thủ tục nộp đơn giản
(mưcs thuế được xác định trên cơ sở điếu tra kết quả kinh doanh trung bình năm). Mức
thuế ấn định sẽ duy trì trong thời gian một năm.
Tất cả các đối tượng tự giác nộp thuế tai kho bạc. Cơ quan kho bạc nhận tiền thuế, xác
nhận ĐTNT đã nộp thuế. Cuối ngày, kho bạc gửi tờ khai thuế và xác nhận nộp tỉền thuế
và thông tin về số thuế đã nộp của các ĐTNT về cơ quan thuế.
22
Bộ phận xử lý tờ khai thuế, chứng từ thanh toán thuế của cơ quan thuế nhập tờ khai và
chứng từ thanh toán thuế để phát hiện các trường hợp không nộp tờ khai thuế hoặc
không nộp đủ thuế, phát thông báo nhắc nhở và cung cấp thông tin cho bộ phận thanh
tra thuế, cưỡng chế thuế.
Bộ phận thanh tra thuế lựa chọn các đối tượng có hiện tượng nghi vấn để thực hiện
kiểm tra, thanh tra về thuế và tiến hành xử lý các hành vi vi phạm.
Bộ phận cưỡng chế thuế sẽ thực hiện các biện pháp xử lý thu thuế đối với các trường
hợp chây ỳ, trốn thuế.
3 . Khi phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và xác định tỷ lệ phần trăm phân chia
các khoản thu giữa ngân sác các cấp chính quyền địa phương và số bổ xung từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới cần đảm bảo:
* Về phân cấp nguồn thu:

kho bạc nhà nước quản lý, cấp phát.
Nguồn vốn huy động từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để xây dung các
công trình kết cấu hạ tầng phải được quản lý chặt chẽ. Kết quả huy động và việc sử
dụng nguồn huy động phải được quản lý công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm
sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
Phân cấp chi thường xuyên về sự nghiệp giáo duc- đào tạo, y tế cho cấp huyện.
Việc phân cấp cho cấp huyện cần că cứ vào trình độ, khả năng quản lý của cấp huyện
và nguồn thu trên địa bàn, đồng thời đảm bảo kế hoạch chung của tỉnh về phát triển giao
dục- đào tạo và y tế.
Hàng năm, Sở giáo dục đào tạo, Sở y tế có trách nhiệm phối hợp với sở tài chính- vật
giá lập dự tóan ngân sách toàn ngành trình UBND tỉnh dể UBND tỉnh trình HĐND
quyết định.
* Về số bổ xung của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới:
Ngoài những quy định trong luạt, trong một số trường hợp cụ thể còn bổ xung từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện một số muc tiêu nhất định như:
bổ sung để thực hiện các nhiệm vụ, dự án được xác định, bổ xung vốn xây dung cơ bản
cho một số công trình quan trọng để khắc phục hậu quả của thiên tai, lũ lụt…
24
Đối với bổ sung theo mục tiêu được giao hàng năm được giao tuỳ theo khả năng
ngân sách cấp trên và yêu cầu về mục tiêu cụ thể ở từng tỉnh, huyện, xã, thị trấn,
phường.
4. Chỉnh lý, sửa đổi, bổ xung một số quy định trong luật:
Kiến nghị về chỉnh lý, sửa đổi một số quy định trong chế độ phân cấp quản lý
NSNN:
* Về phân định trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan
Tại điều 1 của luật NSNN đưa ra khái niệm về NSNN: “…là toàn bộ khoản thu và
chi trong dự toán do cơ quan có thẩm quyền quyết định…”, cần phải quy định rõ “cơ
quan có thẩm quyền” là cơ quan nào, chính phủ, bộ trưởng bộ tài chính, chủ tịch UBND
cấp tỉnh… Hiện nay có một số đề xuất nên nêu rõ: “NSNN do Quốc hội quyết định và
giao cho chính phủ tổ chức chấp hành để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status