Mục lục
Mở đầu 2
Chơng 1
I. Bản chất và vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trờng 4
1.Bản chất của NSNN 4
2. Vai trò của NSNN trong nề kinh tế thị trờng 5
2.1 Đặc điểm của cơ chế kinh tế thị trờng 5
2.2 Vai trò của NSNN trong cơ chế thị trờng 7
II. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN 9
1. Hệ thống NSNN 9
2. Phân cấp quản lý NSNN 11
2.1 Sự cần thiết và tác dụng của phân cấp quản lý NSNN 11
2.2 Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN 13
2.3 Nội dung phân cấp quản lý NSNN 15
Chơng 2: Thực trạng phân cấp quản lý NSNN 25
I. Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt nam 25
II. Đánh giá thực trạng 29
1. Bất cập giữa văn bản và thực tế áp dụng 29
2. Nguyên nhân 36
Chơng 3:Một số kiến nghị hoàn thiện chế độ phân cấp quản 40
lý NSNN ở Việt nam hiện nay
Kết luận 47
1
Mở đầu
Với mục tiêu quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân
sách Nhà nớc (NSNN) lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà nớc; tăng tích luỹ để thực hiện CNH-
HĐH đất nớc theo định hớng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã
hội, nâng cao đời sống của nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối
ngoại, luật NSNN-một đạo luật quan trọng trong hệ thống tài chính- đã đợc
Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20-3-1996; sau đó đợc sửa
tiền đề kinh tế hàng hoá- tiền tệ.
Trong lịch sử loài ngời, Nhà nớc xuất hiện là kết quả của cuộc đấu tranh
giai cấp trong xã hội. Nhà nớc ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung
nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nớc để làm phơng tiện vật chất trang
trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nớc và thực hiện các chức năng
kinh tế, xã hội của Nhà nớc. Bằng quyền lực của mình, Nhà nớc tham gia vào
quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá-
tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối nh: thuế bằng tiền, vay nợ đ ợc
Nhà nớc sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có: NSNN. Nh vậy, NSNN là
ngân sách của Nhà nớc, hay Nhà nớc là chủ thể của ngân sách đó.
NSNN là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳ ngời dân nào
cũng biết đợc, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN:
Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chi
bằng tiền của Nhà nớc trong một giai đoạn nhất định.
Một cách hiểu tơng tự, ngời Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế
toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nớc trong một
năm.
Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài của
NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nớc và NSNN.
3
Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nớc. Tại
Việt nam, định nghĩa về NSNN đợc nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996):
NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nớc trong dự toán đã đợc
cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong một
năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc.(Điều1-
luật NSNN).
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu (sử
dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nớc, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một
bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm
gồm các nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trờng. Thực tế khó đánh giá
đầy đủ u điểm và khuyết tật của cơ chế thị trờng. Nhìn chung nó có các u
điểm cơ bản sau:
* Cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo
đIều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế
phát triển năng động, phát huy đợc các nguồn lực của xã hội vào phát triển
kinh tế.
* Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức
thấp nhất có thể đợc bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản
xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao
động, nâng cao chất lợng và số lợng hàng hoá.
* Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự thích ứng tự phát giữa
khối lợng và cơ câú sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó
có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn,
hàng vạn loại sản phẩm khác nhau.
* Trong cơ chế thị trờng tồn tại sự đa dạng của các thị trờng. Bên cạnh
thị trờng hàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các thị trờng về vốn, lao động
phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo
quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ.
5
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị trờng
là cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song, cơ chế
thị trờng không phải là hiện thân của sự hoàn hảo mà chứa đựng trong nó
nhều trục trặc.
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp lá tối đa hoá lợi nhuận.
Ngành nào, lĩnh vực nào có khả năng đem lại lợi nhuận cao thì các doanh
nghiệp sẽ đổ xô vào sản xuất mặt hàng, lĩnh vực đó. Từ đó dẫn đến sự phát
triển mất cân đối giữa các khu vực, ngành, nghề trong nền KTQD.
Hơn nữa, vì lợi nhuận, các doanh nghiệp sẵn sàng lạm dụng tài
nguyên, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã hội phải gánh chịu,
Giá cả trên thị trờng biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá,
dịch vụ. NSNN cũng đợc sử dụng nh là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cả
của thị trờng. Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những ngời có thu
nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà ngời bán đợc
phép đa ra và mức này thờng là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trờng, khi
đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên tthị trờng. để duy trì hiệu lực của giá
trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng cách cung phần thiếu của hàng
hoá, lợng hàng hoá này đợc lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nớc thuộc NSNN, tức
là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này. Trái lại khi Chính
phủ muốn bảo hộ cho ngời sản xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó
đợc khuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà ngời bán đợc
phép đa ra và mức này thờng lớn hơn giá cân bằng trên thị trờng. Điều này sẽ
dẫn đến sự d thừa hàng hoá trên thị trờng và khi đó là sự can thiệp của Chính
phủ bằng cách mua hết lợng hàng thừa. Khoản tiền sử dụng để thanh toán
cho ngời bán cũng là từ NSNN.
Một vai trò đợc coi là không kém phần quan trọng của NSNN là giải
quyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trờng Chẳng hạn tr ớc vấn
đề công bằng xã hội. Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn
minh và ổn định, Chính phủ thờng sử dụng các biện pháp tác động tới thu
7
nhập để thiết lập lai sự công bằng xã hội. Điều chỉnh thu nhập của các nhóm
dân c khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những ngời có thu nhập thấp
hoặc hoàn toàn không có thu nhập. Một cách khác, Chính phủ có thể sử dụng
biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo thu
nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân. theo đánh giá thì đây là biện
pháp tích cực nhất, động thời làm tăng thu nhập quốc dân; nói cách khác, nó
làm cho một số ngời dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách
thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với ngời có thu nhập cao và ng-
ợc lại.
Nh vậy, vai trò của NSNN là rất lớn. Vấn đề đặt ra là việc tổ chức quy mô,
- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng (gọi chung là
ngân sách cấp tỉnh).
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là ngân sách cấp huyện).
- Ngân sách cấp xã, phờng, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
NSTƯ phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo nhành và giữ vai trò chủ đạo trong
hệ thống NSNN. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ơng đ-
ợc Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
xã hội của đất nớc. NSTƯ cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nớc trung ơng (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh
quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu t phát triển ). Nó còn là trung tâm
điều hoà hoạt động ngân sách của địa phơng. Trên thực tế, NSTƯ là ngân
sách của cả nớc, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo
các nhiệm vụ chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nớc. NSTƯ bao gồm
các đơn vị dự toán của cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ơng là một đơn vị
dự toán của NSTƯ.
NSĐP là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên
dới phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngoài ngân sách xã cha có đơn
9
vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của
cấp ấy hợp thành.
* Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm
bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của
chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng. Chính quyền cấp
tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác các thế mạnh trên
địa bàn tỉnh để tăng nguồn thu, đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách
cấp mình.
* Ngân sách cấp xã, phờng, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm
quan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu đợc khai thác trực
tiếp trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng đợc bố tríđể phục vụ cho mục đích
Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp
quản lý về hành chính. Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo
bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất
và bố chí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống. Mặt khác, xét
về yếu tố lịch sử và thực tế hiện nay, trong khi Đảng và Nhà nớc ta đang
chống t tởng địa phơng, cục bộ vẫn cần có chính sách và biện pháp nhằm
khuyến khích chính quyền địa phơng phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ
động, sáng tạo của địa phơng mình trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội
trên địa bàn. Có một số khoản thu nh: tiền cho thuê mặt đất, mặt nớc đối với
doanh nghiệp, tiền cho thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nớc, lệ phí trớc
bạ, thuế môn bài, giao cho địa ph ơng quản lý sẽ hiệu quả hơn.
Phân cấp quản lý NSNN là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN
với cac hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung
đấy đủ và kịp thời, đúng chính sách, chế độ các nguồn tài chính quốc gia và
phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao,
phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc. Phân
cấp quản lý NSNN đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phơng tiện tài
chính cho việc duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân
11
sách từ trung ơng đến điah phơng mà còn tạo điều kiện phát huy đợc các lợi
thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phơng trong cả nớc. Nó cho phép quản
lý và kế hoạch hoá NSNN đợc tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp
chính quyền cũng nh quan hệ giữa các cấp ngân sách đợc tố hơn để phát huy
vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN. Đồng thời, phân cấp quản lý
NSNN còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng
hoàn thiện hơn.
Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối
quan hệ giữa chính quyền Nhà nớc trung ơng và các cấp chính quyền địa ph-
ơng trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành NSNN đúng đắn và
hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý NSNN.
sách cấp dới đợc cố định từ 3 đến 5 năm. Hàng năm, chỉ xem xét điều chỉnh
số bổ sung một phần khi có trợt giá và một phần theo tốc độ tăng trởng kinh
tế. Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào NSĐP đợc thu do NSĐP thu,
khoản nào NSĐP phải chi do NSĐP chi. Không để tồn tại tình trạng nhập
nhằng dẫn đến t tởng trông chờ, ỷ lai hoặc lạm thu giữa NSTƯ và NSĐP. Có
nh vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phơng trong bố
trí kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời là điều kiện để xác định rõ
trách nhiệm của địa phơng và trung ơng trong quản lý NSNN, tránh co kéo
trong xây dựng kế hoạch nh trớc đây.
Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân
sách phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nớc, cố gắng hạn chế thấp
nhất sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ.
2.3. Nội dung của phân cấp quản lý NSNN.
Dựa trên cở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp quản
lý NSNN đợc quy định rõ trong chơng II và III của luật NSNN bao gồm:
13
Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều hành
NSNN từ trung ơng đến địa phơng trong việc ban hành, tổ chức thực hiện và
kiểm tra, giám sát về chế độ, chính sách.
Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và điều
hành NSNN trong việc ban hành hệ thống biểu mẫu, chứng từ về trình tự và
trách nhiệm của các cấp chính quyền trong xây dựng dự toán ngân sách,
quyết toán ngân sách và tổ chức thực hiện kế hoạch NSNN.
Cụ thể:
Quốc hội quyết định tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn
bù đắp bội chi; phân tổ NSNN theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ
cấu giữa chi thờng xuyên và chi đầu t phát triển, chi trả nợ. Quốc hội giao
cho Uỷ ban thờng vụ Quốc hội quyết định phơng án phân bổ NSTƯ cho từng
bộ, ngành và mức bổ sung từ NSTƯ cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ơng. Nh vậy, Quốc hội quyết định những vấn đề then chốt nhất về NSNN,
trong đó có cân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu t xây dựng cơ bản làm cơ sở cho
việc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách; phối hợp với bộ tài chính lập dự
toán và phơng án phân bổ NSNN trong lĩnh vực phụ trách; phối hợp với bộ tài
chính và các bộ ngành hữu quan kiểm tra đánh giá hiệu quả của vốn đầu t các
công trình xây dựng cơ bản.
Ngân hàng Nhà nớc có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chímh trong việc
lập dự toán NSNN đối với kế hoạch và phơng án vay để bù đắp bội chi
NSNN; tạm ứng cho NSNN để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN theo
quyết định của thủ tớng Chính phủ.
Các bộ, ngành khác có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chính, UBND cấp
tỉnh để lập, phân bổ, quyết toán NSNN theo ngành, lĩnh vực phụ trách ; kiểm
tra theo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách;
báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh
vực phụ trách; phối hợp với bộ tài chính xây dung định mức tiêu chuẩn chi
NSNN thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
15
Hội đồng nhân dân có quyền quyết định dự toán và phân bổ NSĐP, phê
chuẩn quyết toán NSĐP; quyết định các chủ trơng, biện pháp để triển khai
thực hiện NSĐP; quyết định điều chỉnh dự toán NSĐP trong thời gian cần
thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách đã quyết định. Riêng đối với HĐND
cấp tỉnh, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên còn đợc quyền quyết
định thu, chi lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy
định của pháp luật.
Uỷ ban nhân dân lập dự toán và phơng án phân bổ ngân sách địa phơng,
dự toán điều chỉnh NSĐP trong trờng hợp cần thiết trình HĐND cùng cấp
quyết định và báo cáo cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp. Kiểm tra nghị
quyết của HĐND cấp dới về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách. Tổ
chức thực hiện NSĐP và báo cáo về NSNN theo quy định. Riêng đối với cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng, UBND còn có nhiệm vụ lập và trình
HĐND quyết định việc thu phí, lệ phí, phụ thu, huy động vốn trong nớc cho
phơng, tranh giành nguồn nguyên vật liệu, thị trờng tiêu thụ sản phẩm. Mặt
khác, nó không gắn trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phơng trong
việc quan tâm tới những tổ chức kinh tế do trung ơng quản lý ở địa phơng.
Do vậy, để khắc phục những nhợc điểm trên, chế độ phân cấp đợc điều chỉnh
theo hớng thay đổi tỷ lệ ghi thu vào NSTƯ và NSĐP nhng do vẫn dựa trên cơ
sở cũ nên nguồn thu vẫn không đợc đảm bảo.
Hiện nay, theo luật NSNN sửa đổi, việc phân chia nội dung thu NSNN
không còn dựa vào tính chất sở hữu, tổ chức của cơ sở kinh tế mà theo cơ
chế:
* Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu đợc hởng 100%. Nh vậy, có
thể giúp chính quyền địa phơng chủ động bố trí cân đối ngân sách cấp mình
* Các khoản thu đợc phân chia theo tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân sách.
Trớc đây, tỷ lệ điều tiết này đợc xác định bởi công thức:
17
X= [(Q- T): K]*100
Trong đó: X là tỷ lệ điều tiết các khoản thu.
T là tổng số chi theo nhiệm vụ đợc giao.
Q là tổng số thu cố định.
K là thuế doanh thu và thuế nông nghiệp.
Công thức trên bị đánh giá là thiếu cơ sở khoa học, không chính xác về mặt
toán học và kinh tế dẫn đến bất công bằng giữa nhiều địa phơng, số tỉnh có tỷ
lệ điều tiết tính ra vợt quá 100% là quá lớn nên ngân sách nhiều địa phơng
bội thu, trong khi đó ngân sách TƯ bội chi.
Hiện nay, luật quy đinh:
* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa NSTƯ và ngân sách từng
tỉnh do Chính phủ quyết định. Tỷ lệ này đợc áp dụng chung đối với tất cả các
khoản thu đợc phân chia và đợc xác định riêng cho từng tỉnh.
Các khoản thu đợc phân chia gồm:
Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hoá
nhập khẩu và thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
- Thuế tài nguyên.
- Lệ phí trớc bạ.
19
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nớc thu vào các mặt hàng bài lá,
hành mã, vàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trờng, mát xa, ka ra ô kê,
kinh doanh gôn, bán thẻ hội viên và vé chơi gôn, trò chơi bằng các máy giắc
pót, kinh doanh vé đặt cợc đua ngựa, đua xe.
Phân định nguồn thu giữa NSTƯ và ngân sách tỉnh.
Ngân sách trung ơng Ngân sách địa phơng
Các khoản thu
100%
1.thuế GTGT hàng nhập khẩu
2.thuế xuất, nhập khẩu
3.thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ
một số mặt hàng, dịch vụ)
4.thuế thu nhập doanh nghiệp
của đơn vị hạch toán toàn
nghành
5.thu từ dầu khí
6.thu nhập từ vốn góp của nhà
nớc, tiền thu hồi vốn của nhà
nớc từ các cơ sở kinh tế
7.các khoản do Chính phủ
vay, viện trợ không hoàn lại
của Chính phủ các nớc
1.tiền cho thuê đất
2.tiền cho thuê và bán nhà
thuộc sở hữu Nhà nớc
3.lệ phí trớc bạ
5.thu từ sử dụng vốn ngân sách của các DNNN.
Các khoản thu
phân chia giữa
tỉnh, huyện, xã
1.thuế chuyển quyền sử dụng đất
2.thuế nhà đất
3.thuế sử dụng đất nông nghiệp
4.thuế tài nguyên
5.thuế tiêu thụ đặc biệt với hàng sản xuát trng nớc thu vào vàng
mã, kinh doanh vũ trờng, mát xa,
tỷ lệ phân chia do UBND tỉnh quy định.
Về các khoản chi NSNN
Chi NSNN là số tiền mà Nhà nớc chi từ quỹ ngân sách để thực hiện chức
năng và nhiệm vụ của mình. Có nhiều cách để xác định cơ cấu chi NSNN.
21
Chẳng hạn, để thấy rõ hơn vai trò của NSNN đối với phát triển các ngành
kinh tế đất nớc, đặc biệt là các ngành mũi nhọn thì cơ cấu chi NSNN đợc
phân theo ngành kinh tế quốc dân (ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm
nghiệp, giao thông vận tải, thơng mại, dịch vụ ). Nếu để đảm bảo cho Quốc
hội có thể thấy rõ ngay nhuồn ngân sách phân bổ cho mỗi cơ quan Nhà nớc,
chi ngân sách Nhà nớc đợc phân loại theo tổ chức của cơ quan Nhà nớc (theo
từng bộ, cơ quan Nhà nớc Trung ơng, cơ quan Nhà nớc địa phơng ). Nếu để
đáp ứng yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của Nhà nớc đối với việc lập dự tóan,
quyết định dự toán, thực hiện phân cấp và quản lý, sử dụng kinh phí NSNN
cho từng mục đích và từng đối tợng cụ thể, ngời ta phân loại theo mục đích
sử dụng cuối cùng: chi lơng, phụ cấp lơng, chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ
Nói chung, mỗi cách phân loại đều có mục đích và ý nghĩa riêng, chúng có
nét chung là cho biết một cách toàn diện ảnh hởng ngắn hạn hoặc dài hạn của
việc chi tiêu quốc gia vào phát triển kinh tế, thấy rõ mục đích kinh tế, xã hội
mà Chính phủ đang theo đuổi.
* Số bổ sung để cân đối ngân sách gồm số bổ sung ổn định trong suốt thời
kỳ nhất định và số bổ sung tăng thêm hàng năm một phần theo tỷ lệ trợt giá
và một phần theo tốc độ tăng trởng kinh tế
* Số bổ sung theo mục tiêu.
Có thể nói, với những nội dung trên, hệ thống NSNN và chế độ phân cấp
và quản lý NSNN đã bớc đầu tạo cơ sở, điều kiện, hành lang pháp lý cho
công tác quản lý, điều hành hoạt động NSNN có hiệu lực và có hiệu quả, theo
những chuẩn mực nhất định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của NSNN
trong cơ chế kinh tế mới ở nớc
23
tPhân cấp nhiệm vụ chi NSTƯ và ngân sách tỉnh.
Lĩnh vực Ngân sách trung ơng Ngân sách tỉnh
1.Chi xây dựng cơ bản
- Các công trình kinh tế then
chốt quan trọng.
- Các công trình hạ tầng cơ sở
2.Chi vốn lu động.
3.Chi trả nợ (trong và ngoài
nớc).
4.Chi dự trữ Nhà nớc.
NSTƯ đảm nhận các công
trình hạ tầng cơ sở không có
khả năng thu hồi vốn do
trung ơng quản lý.
Các xí nghiệp trong và ngoài
nớc do trung ơng quản lý.
Hầu hết NSTƯ đảm nhận chi
trả nợ nớc ngaòi.
Hầu hêt NSTƯ đảm nhiệm.
NSĐP đảm nhận các công
ơng
Duy tu, tu bổ các đờng giao
thông, các công trình kiến
thiết do trung ơng quản lý.
Một số công trình quan trọng
nh xoá mù chữ, giáo dục
miền núi
Các trờng đại học đa ngành
Một số trờng PTTH khu vực
Các cơ sở y tế chữa bệnh
trung ơng
Nghiên cứu khoa học cơ bản
Các sự nghiệp văn hoá quần
chúng do trung ơng quản lý
Toàn bộ hoạt động chính quy
Các tổ chức thuộc trung ơng
Tuỳ thuộc khả năng của
Toàn bộ bộ máy Nhà nớc của
địa phơng
Bảo vệ đê điều, hỗ trợ làm
thuỷ lợi, thuỷ nông
Sửa chữa các đờng giao thông
địa phơng
Chi toàn bộ các trờng tự tiểu
học trở lên, kể cả mẫu giáo.
Các trờng trung học, dạy
nghề
Cơ sở chữa và khám bệnh do
địa phơng quản lý
Nghiên cứu ứng dụng