Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty
Niên khóa 2003-2004 Bài đọc Ch1: Tại sao tài chính
lại có ý nghóa quan trọng?
1
TẠI SAO TÀI CHÍNH LẠI CĨ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG
Cuốn sách này chun về các quyết định tài chính của các cơng ty cổ phần.
Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc tìm hiểu các quyết định này là gì và tại sao các quyết định
này lại quan trọng.
Giám đốc tài chính có hai mảng trách nhiệm, mà chúng ta có thể cơ đọng vào hai
câu hỏi đơn giản: doanh nghiệp nên thực hiện những khoản đầu tư nào? Doanh nghiệp
làm thế nào để thanh tốn cho các khoản đầu tư đó? Câu hỏi thứ nhất liên quan đến vấn
đề chi tiêu tiền; còn câu hỏi thứ hai liên quan đến việc tìm nguồn tiền.
Bí quyết thành cơng trong quản trị tài chính là làm gia tăng giá trị. Đây là một lời
nhận định đơn giản, tuy nhiên khơng hữu ích lắm. Nói như vậy chẳng khác nào khun
một nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu “mua giá thấp, bán giá cao”. Vấn đề ở đây là làm
thế nào để thực hiện điều đó.
Có thể có một vài hoạt động người ta có thể đọc được trong sách giáo khoa và sau
đó “thực hiện”, tuy nhiên quản trị tài chính khơng phải là một trong những hoạt động này.
Đó là lý do tại sao tài chính là lĩnh vực đáng học. Ai lại muốn làm việc trong một lĩnh
vực khơng có chỗ cho kinh nghiệm, tính sáng tạo, khiếu đánh giá, và một chút may mắn?
Dù cuốn sách này khơng thể cung cấp bất cứ cái nào trong những mục này, nhưng nó
trình bày những khái niệm và thơng tin làm cơ sở để đưa các quyết định tài chính đúng
đắn. Cuốn sách này còn giới thiệu cho người đọc làm thế nào để sử dụng các cơng cụ
giao dịch tài chính.
Các quyết định tài chính có ý nghĩa quan trọng. Các khoản đầu tư được thực hiện
ngày hơm nay có những ảnh hưởng lâu dài đối với cơng việc kinh doanh. Như vậy hầu
hết các nhà quản lý cao cấp ít nhiều cũng liên quan đến các quyết định tài chính. Tuy
nhiên, một vài nhà quản lý chun trách về tài chính. Trong chương này chúng ta mơ tả
những trách nhiệm của họ. Chúng tơi cũng giới thiệu cách tổ chức các cơng ty cổ phần
và giải thích sự khác biệt của chúng với các loại hình doanh nghiệp khác. Chương này
được kết thúc bằng một bài khảo sát ngắn về các chủ đề được giới thiệu trong cuốn sách
tư (mũi tên 4a) hoặc quay về với các nhà đầu tư đã mua chứng khốn phát hành lúc ban
đầu (mũi tên 4b). Dĩ nhiên sự lựa chọn giữa mũi tên 4a và 4b khơng hồn tồn tự do. Ví
dụ, nếu một ngân hàng cho vay tiền ở giai đoạn 1, ngân hàng phải được thanh tốn tiền
cho vay đó cộng với tiền lãi tại giai đoạn 4b.
Sơ đồ trên đưa chúng ta trở về với hai câu hỏi cơ bản của giám đốc tài chính. Thứ
nhất, cơng ty nên đầu tư vào các tài sản thực nào? Thứ hai, làm thế nào để tìm ra nguồn
tiền cho đầu tư? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất chính là quyết định đầu tư, hoặc quyết
1
Bạn sẽ nghe các giám đốc tài chính sử dụng gần như đồng nghĩa hai thuật ngữ thị trường tài chính
(financial markets) và thị trường vốn (capital markets).Tuy nhiên thị trường vốn chỉ là nguồn tài chính dài
hạn. Chúng ta sử dụng cụm thị trường tài chính có nghĩa là tất cả mọi nguồn tài chính.
R.A. Breadley; S.C. Myers 2
Hình 1-1 Dòng tiền lưu chuyển giữa các thị trường tài chính và các hoạt động của cơng
ty. (1) Tiền huy động bằng cách bán các tài sản tài chính cho các nhà đầu tư; (2) tiền mặt
đầu tư vào các hoạt động của cơng ty và được sử dụng để mua các tài sản thực; (3) tiền
thu được từ các hoạt động của cơng ty; (4a) tiền được tái đầu tư; (4b) tiền được trả lại
cho các nhà đầu tư. (Nguồn: Lược trích từ Modern Developments in Financial
Managements do S.C. Myers biên tập, New York, Praeger Publishers, Inc., Hình 1,
trang 5)
Giám đốc
tài chính
(2)
(1)
(4a)
(3)
(4b)
Các hoạt
động của
cơng ty
(một tập
nó khơng q cao. Muốn làm được điều này thì cần phải hiểu biết về cách hình thành lãi
suất và định giá các khoản nợ vay.
Giám đốc tài chính khơng thể tránh đối mặt với thời gian và bất trắc. Các cơng ty
thường có cơ hội đầu tư vào những tài sản mà khơng thể hồn trả trong ngắn hạn và khiến
cho cơng ty và các cổ đơng phải chịu rủi ro đáng kể. Khoản đầu tư này, nếu được thực
hiện, có lẽ nên được tài trợ bằng nợ vay khơng đòi hỏi trả hết hồn tồn trong nhiều năm.
Cơng ty khơng thể bước qua các lựa chọn như vậy – người ta phải quyết định xem liệu cơ
hội đầu tư có giá trị cao hơn chi phí hay khơng và gánh nặng nợ vay này có an tồn hay
khơng.
1-2 TỔ CHỨC MỘT DOANH NGHIỆP
Tất cả các doanh nghiệp đều phải đối mặt với các vấn đề cơ bản là cần thực hiện
các khoản đầu tư nào và làm thế nào để cho các khoản đầu tư đó, nhưng các quyết định sẽ
phức tạp với các cơng ty lớn hơn là với các doanh nghiệp nhỏ chỉ có một người. Vì cuốn
sách này nói về ngun lý tài chính cơng ty, chúng tơi giải thích ngắn gọn về cách thức tổ
chức của các cơng ty cổ phần và sự khác biệt giữa chúng so với các loại hình doanh
nghiệp khác như tư doanh và hợp doanh.
Hình thức tư doanh (sole proprietorship)
Năm 1901 dược sĩ Charles Walgreen đã mua một tiệm thuốc tây nơi ơng làm việc
ở miền nam Chicago. Hiện nay, Walgreen là mạng lưới cửa hàng thuốc tây lớn nhất tại
Mỹ. Nếu, tương tự như Charles Walgreen, bạn tự mình bắt đầu cơng việc, khơng có đối
tác hoặc cổ đơng nào, bạn được gọi là một nhà tư doanh (sole proprietor). Bạn chịu tất
cả các chi phí và hưởng tất cả lợi nhuận - tất nhiên sau khi Sở Thuế đã thu thuế.
Nếu là một nhà tư doanh, bạn có trách nhiệm vơ hạn (unlimited liability). Điều
này có nghĩa là cá nhân bạn chịu trách nhiệm đối với tất cả khoản nợ của doanh nghiệp.
Nếu bạn vay tiền để kinh doanh và khơng thể trả nợ vay đó, bạn có thể bị buộc phải tun
R.A. Breadley; S.C. Myers 3
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty
Niên khóa 2003-2004 Bài đọc Ch1: Tại sao tài chính
lại có ý nghóa quan trọng?
bố phá sản cá nhân. Ví dụ có một nhóm các nhà tư doanh tên là Names chun cung cấp
được bổ nhiệm, vân vân. Điều lệ này phải theo quy định của luật pháp của tiểu bang nơi
doanh nghiệp được thành lập.
4
Xét về phương diện luật pháp, cơng ty cổ phần được xem
như là một cư dân của tiểu bang. chẳng hạn, nó có thể vay tiền hoặc cho vay, có thể đi
kiện hoặc bị kiện và phải đóng thuế của mình (nhưng khơng thể bầu cử!).
2
Các doanh nghiệp lớn có thể được thành lập dưới hình thức đơn vị hợp doanh trách nhiệm hữu
hạn (limited partnership). Trong trường hợp này, các đối tác được phân thành hai loại “chung”
(general) hoặc “hữu hạn”. Các đối tác chung quản lý doanh nghiệp và có trách nhiệm vơ hạn đối
với các khoản nợ của doanh nghiệp. Các đối tác hữu hạn thường có vai trò hạn chế trong quản lý,
nhưng trách nhiệm của họ chỉ giới hạn ở phần tiền mà họ góp vào doanh nghiệp. Họ có thể mất
sạch mọi thứ họ đầu tư vào, nhưng chỉ chừng đó chứ khơng mất gì hơn.
3
Goldman Sachs là ngân hàng đầu tư lớn duy nhất vẫn giữ hình thức tổ chức hợp doanh.
4
Bang Delaware có một hệ thống luật cơng ty cổ phần phát triển mạnh và có nhiều khuyến khích
đối với doanh nghiệp. Một tỉ lệ lớn các cơng ty cổ phần của Mỹ được thành lập tại Delaware,
mặc dù các cơng ty này hoạt động rất ít tại tiểu bang này.
R.A. Breadley; S.C. Myers 4
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty
Niên khóa 2003-2004 Bài đọc Ch1: Tại sao tài chính
lại có ý nghóa quan trọng?
Khác với hình thức tư doanh và hợp doanh, cơng ty cổ phần có trách nhiệm hữu
hạn (limited liability); điều này có nghĩa là các cổ đơng khơng phải chịu trách nhiệm cá
nhân đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Nếu ví dụ như IBM thất bại, khơng ai có
thể u cầu các cổ đơng của nó bỏ thêm tiền vào để trả nợ. Mức tối đa mà một cổ đơng
có thể bị mất là số tiền đã đầu tư vào cổ phiếu của hãng này.
Mặc dù các cổ đơng là chủ cơng ty, nhưng họ khơng quản lý nó mà chọn ra một
hội đồng quản trị (board of directors). Một số nhà quản lý trong các thành viên của hội
vốn, các cổ phần sẽ được mua bán rộng rãi. Những cơng ty cổ phần như vậy gọi là các
cơng ty cơng cộng (public companies). Đa số các cơng ty cổ phần nổi tiếng là các cơng
ty cơng cộng.
Lưu ý rằng một cơng ty cổ phần có được nhiều phương án lựa chọn mà các hình
thức doanh nghiệp khác khơng có. Cơng ty có thể tăng vốn bằng cách bán các cổ phiếu
mới cho cổ đơng, và có thể trả lại khoản tiền đó bằng cách cơng bố trả cổ tức. Các cổ
5
Nước Mỹ hơi khác thường trong cách đánh thuế cơng ty. Để tránh đánh thuế cùng một thu nhập
hai lần, đa số các quốc gia khác ít ra cũng bồi hồn lại cho các cổ đơng một phần trong những
khoản thuế mà cơng ty họ đã đóng.
R.A. Breadley; S.C. Myers 5
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty
Niên khóa 2003-2004 Bài đọc Ch1: Tại sao tài chính
lại có ý nghóa quan trọng?
đơng có thể bỏ phiếu bầu cho một ban lãnh đạo mới, và một cơng ty cổ phần có thể mua
lại một cơng ty cổ phần khác.
1-3 GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH LÀ AI?
Trong cuốn sách này chúng tơi sử dụng thuật ngữ giám đốc tài chính (financial
manager) để chỉ tất cả những ai chịu trách nhiệm ra quyết định quan trọng về đầu tư hoặc
tạo nguồn tài chính của cơng ty cổ phần. Tuy nhiên, ngoại trừ ở các cơng ty nhỏ nhất,
khơng thể có một người duy nhất nào chịu trách nhiệm về tất cả các quyết định được thảo
luận trong cuốn sách này. Trách nhiệm được phân tán khắp cơng ty. Ban lãnh đạo cấp
cao nhất dĩ nhiên liên tục tham gia vào các quyết định tài chính. Tuy nhiên người kỹ sư
thiết kế một cơ sở sản xuất mới cũng tham gia vào quyết định: bản thiết kế xác định loại
tài sản thực mà cơng ty cần có. Trưởng phòng tiếp thị chịu trách nhiệm chiến dịch quảng
cáo lớn cũng sẽ đưa ra một quyết định đầu tư quan trọng. Chiến dịch này là một khoản
đầu tư vào tài sản vơ hình mà sẽ mang lại lợi ích bằng cách tăng doanh thu và lợi nhuận
trong tương lai.
Tuy vậy cũng có những giám đốc chun về tài chính. Trưởng phòng tài vụ
(treasurer) thường là người chịu trách nhiệm trực tiếp nhất về việc tìm kiếm nguồn tài
Các cơng ty lớn thường bổ nhiệm một giám đốc tài chính (chief fianncial officer
- CFO) để giám sát cơng việc của trưởng phòng tài vụ và trưởng phòng kế tốn. CFO
tham gia rất nhiều vào việc hoạch định chính sách tài chính và lập kế hoạch của cơng ty.
R.A. Breadley; S.C. Myers 6
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty
Niên khóa 2003-2004 Bài đọc Ch1: Tại sao tài chính
lại có ý nghóa quan trọng?
Thơng thường người này sẽ có trách nhiệm quản lý chung ngồi các vấn đề tài chính
thuần túy, và cũng có thể là một thành viên trong hội đồng quản trị.
Các dự án đầu tư vốn quan trọng bị ràng buộc chặt chẽ với các kế hoạch phát triển
sản phẩm, sản xuất, và tiếp thị đến nỗi các giám đốc của các lĩnh vực này đương nhiên
tham gia vào việc hoạch định và phân tích các dự án. Nếu cơng ty có các nhân viên
chun về hoạch định cơng ty, họ đương nhiên cũng tham gia vào việc hoạch định vốn.
Thơng thường thì trưởng phòng tài vụ , trưởng phòng kế tốn, hoặc CFO chịu trách
nhiệm tổ chức và giám sát tiến trình hoạch định vốn.
Do tầm quan trọng của nhiều vấn đề tài chính, các quyết định cuối cùng thường
tùy theo luật pháp hay tập qn sẽ do hội đồng quản trị đưa ra. Ví dụ, chỉ có hội đồng
quản trị có quyền lực pháp lý để cơng bố trả cổ tức hoặc phê chuẩn việc phát hành các
chứng khốn rộng rãi cho cơng chúng. Các hội đồng quản trị thường giao phó quyền ra
quyết định đối với các khoản chi tiêu đầu tư cỡ trung bình hoặc nhỏ, nhưng quyền phê
chuẩn các khoản đầu tư lớn rất hiếm khi được giao phó cho cấp dưới.
1-4 CÁC ĐỀ TÀI ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG CUỐN SÁCH NÀY
Cuốn sách này đầu tiên đề cập đến các quyết định đầu tư, sau đó là các quyết định
tạo nguồn tài chính, và cuối cùng là những đề tài mà trong đó các quyết định đầu tư và
tạo nguồn tài chính có tác động qua lại và khơng thể tách rời được.
Trong các phần 1, 2 và 3, chúng tơi xem xét các khía cạnh khác nhau của quyết
định đầu tư. Vấn đề đầu tiên là làm thế nào để định giácác tài sản, vấn đề thứ 2 là sự liên
hệ giữa rủi ro và giá trị, và thứ 3 là quản lý tiến trình đầu tư. Các đề tài này được thảo
luận từ Chương 2 đến Chương 12.
Mười một chương dành để bàn về vấn đề nghe rất đơn giản “tìm kiếm các tài sản
khó khăn tài chính do thành quả hoạt động kém cỏi, nợ vay q nhiều hoặc do cả hai.
Ngồi ra, chúng tơi cũng sẽ trình bày về việc các vấn đề tạo nguồn tài chính đơi khi ảnh
hưởng như thế nào đến các quyết định hoạch định vốn.
Phần 8 giới thiệu việc lập kế hoạch tài chính. Ta khơng thể đưa ra các quyết định
về đầu tư, chính sách cổ tức, chính sách nợ, và các vấn đề tài chính khác một cách độc
lập với nhau. Chúng góp phần vào một kế hoạch tài chính tổng thể hợp lý của cơng ty,
một kế hoạch làm tăng giá trị khoản đầu tư của các cổ đơng mà vẫn duy trì tính linh hoạt
của cơng ty nhằm tránh tình trạng khó khăn tài chính và nhằm theo đuổi các cơ hội mới
và bất ngờ.
Phần 9 dành để thảo luận những quyết định về tài sản và nợ ngắn hạn của cơng ty.
Có những chương riêng biệt về ba chủ đề: các kênh vay mượn hoặc đầu tư ngắn hạn,
quản lý các tài sản có tính thanh khoản (tiền mặt và các chứng khốn có thể trao đổi mua
bán được), và quản lý các khoản phải thu (số tiền mà cơng ty cho các khách hàng của
mình vay mượn).
Phần 10 giới thiệu hai vấn đề quan trọng đòi hỏi phải có các quyết định về cả đầu
tư và tạo nguồn tài chính. Đầu tiên chúng ta xem xét những trường hợp sáp nhập
(merger) và * (acquisition). Sau đó chúng ta xem xét vấn đề quản trị tài chínhquốc tế.
Tất cả các vấn đề tài chính khi kinh doanh trong nước cũng có ở nước ngồi, nhưng giám
đốc tài chính quốc tế phải đối diện với nhiều vấn đề phức tạp khác xuất phát từ nhiều
loại tiền tệ khác nhau, các hệ thống thuế khác nhau, các quy định đặc biệt của các định
chế và các chính phủ nước ngồi.
Phần 11 là phần kết luận. Phần này cũng bàn về một số vấn đề mà chúng ta
khơng biết về tài chính. Nếu bạn có thể là người đầu tiên giải quyết những rắc rối này, thì
hẳn nhiên bạn sẽ trở thành người nổi tiếng.
1-5 TĨM TẮT
Trong chương 2 chúng tơi sẽ bắt đầu với những khái niệm cơ bản nhất trong việc
định giá tài sản. Tuy nhiên hãy để chúng tơi sẽ tóm lược các điểm chính trong chương
giới thiệu này.
Một doanh nghiệp có thể được tổ chức bằng một trong nhiều dạng. Ví dụ, nó có
thể thuộc sở hữu của một tư doanh, người sẽ chịu mọi chi phí và giữ tồn bộ lợi nhuận,
một vài thành phố lớn khác cũng có các mục về thương mại và tài chính rất tốt, tuy nhiên
khơng thể thay thế được The Wall Street Journal, hay The Financial Times. Các mục về
thương mại và tài chính của các nhật báo địa phương Mỹ, ngoại trừ các tin tức địa
phương, còn lại hầu như khơng có giá trị đối với các giám đốc tài chính chun nghiệp.
Có rất nhiều tạp chí chun về tài chính và quản lý tài chính. Những tạp chí bao
gồm Euromoney, Corporate Finance, Journal of Applied Corporate Finance, Risk, và
CFO Magazine. Danh sách này khơng nêu các tạp chí nghiên cứu như Journal of
Finance, Journal of Financial Economics, và Financial Management. Những chương
tiếp theo sẽ cung cấp những tư liệu tham khảo chun mơn cho nghiên cứu có liên quan.
R.A. Breadley; S.C. Myers 9