Lời mở đầu
Con ngời muốn tồn tại và phát triển đợc thì phải lao động và sản xuất . Trong quá
trình lao động sản xuất một mặt con ngời tác động vào tự nhiên để tìm hiểu những
thuộc tính của nó nhằm phục vụ cho chính bản thân mình . Mặt khác giữa ngời lại
hình thành những mối quan hệ rất phức tạp. Đặc biệt là từ khi xã hội phân chia
thành các giai cấp mà lợi ích của họ đối lập nhau nên đã hình thành những cuộc
đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn giữa các giai cấp. Chính sự đấu tranh đã trở
thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển từ chế độ xã hội khác tiến bộ hơn. Tờ đó
con ngời có nhu cầu tìm hiểu các quy luật hoạt động và phát triển của xã hội để báo
đảm sự tồn tại và phát triển của chính mình. Nội dung của triết học Mác - Lênin đã
đề cập đầy đủ mọi mặt của đời sống xã hội. Trong đó có quan hệ kinh tế. Vì nó
quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội trong sự phát triển kinh tế thì "Quy
luật quan hệ sản xuấ phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất" là một
quy luật quan trọng nó phản ánh sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội từ
trớc đến nay. Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự nối tiếp nhau của các hình thái
kinh tế xã hội với trình độ phát triển khac nhau mà nguyên nhân của sự thay đổi
các hình thái kinh tế xã hội là di lực lợng sản xuất phát triển cao mà quan hệ sản
xuất không phù hợp dẫn đến cách mạng xã hội hình thành quan hệ sản xuất mới.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là
quy luật chi phối toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử mặt khác nó cũng là một
đề tài hay nên muốn tìm hiểu đẻ nắm cvững nội dung của quy luật. Trên cơ sở đó
hiểu đựơc phần nào các chủ trơng chiến lợc phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta. Do
thời gian và trình độ có hạn chắc không tránh khỏi những sai sót mong cô giáo góp
ý giúp em sữa chữa những sai sót
Em xin chân thành cẩm ơn!
Mục lục
A. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
3
1
I. Phơng thức sản xuất là gì ? nội dung của phơng thức sản xuất3
1.khái niệm 3
Là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con ngời tác động vào làm
Thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích của con ngời.
Đối tơng lao động có thể chia thành hai loại:
-loại có sẵn trong tự nhiên nh gỗ trong rừng , quặng trong lòng đất , tôm,cá dứơi
sông biêncon ngời chỉ cần tách chúng khỏi tự nhiên là dùng đợc
-loại đã trải qua lao động , đợc cải biến ít nhiều nh bông để kéo sợi , vải để may
mặc , than ở trong nhà máy nhiệt điện , sắt thép để chế tạo máy
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại con ngời hoàn toàn có thể tạo ra những sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định
chất lợng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại. Bởi vì loài ngơi không
bao giờ chỉ bằng lòng với những thứ hiện có. do đó việc tìm ra những đối tơng lao
động mới sẽ trở thành động lực thúc đẩy con ngời và xã hội phát triển.
2.1.2 T liệu lao động
Là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động
của con ngời lên đối tợng lao động nhằm biến đổi đối tợng lao động theo mục đích
của mình .
T liệu lao động bao gồm : t liệu lao động dùng để bảo quản những đối tợng
lao dộng gọi chung là hệ thống bình chứa của sản xuất nh ống ,thùng
T liệu lao động với t cách là kết cấu hạ tầng sản xuất nh đờng xá, bến cảng, sân
bay, phơng tiện giao thông vận tải, điện, nớc, thuỷ lợi, bu điện, thông tin liên lạc
Công cụ lao động hay công cụ sản xuất là t liệu lao động giữ vị trí là hệ thống
xơng cốt và bắp thịt của sản xuất , là một thành tố cơ bản của lực lợng sản xuất.
3
Công cụ lao động là khí quan của bộ óc con ngời, là sức mạnh của tri thức đã đợc
vật thể hoá để làm tăng sức mạnh của con ngời. Ngày nay, công cụ lao động đã đạt
tới trình độ cao, đợc tin học hoá, tự động hoá Nên nó có thể trở thành lực lợng
hết sức to lớn và đáng kể .ở mọi thời đại, công cụ lao động luân đợc thay đổi, là
yếu tố động nhất của lực lợng sản xuất .Sự thay đổi hoàn thiện của công cụ sản xuất
do con ngời thực hiện không ngừng đã thờng xuyên gây ra những biến đổi sâu sắc
4
vật chất và trong đời sống xã hội là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lôt và bị bóc lột.
Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó t liệu sản xuất thuộc về mọi
thành viên của mỗi cộng đồng là quan hệ bình đẳng, hợp tác giũp đỡ lẫn nhau.
Quan hệ tổ chức và quản lí sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất,
đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm
quá trình sản xuất. Quan hệ tổ chức và quản lí sản xuất do quan hệ sở hữu quyết
định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy nhiên có trờng hợp, quan hệ tổ
chức và quản lí không thích ứng với quan hệ sở hữu làm biến dạng quan hệ sở
hữu.Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu về t liệu
sản xuất và quan hệ về tổ chức quản lí sản xuất chi phối song nó kích thích trực tiếp
đến lợi ích của con ngời, nên nó tác động đến thái độ của con ngời trong lao động
sản xuất và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất.
II. Trình độ của lực lợng sản xuất
Trình độ của lực lợng sản xuất đợc thể hiện ở trình độ tinh xảo và hiện đại của
công cụ sản xuất ,trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng ,kỹ xảo của ngời lao
động trình độ phân công lao động xã hội ,tổ chức quản lý sản xuất và quy mô của
nền sản xuất.
Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất ngày càng cao thì chuyên môn hoá và
phân công càng sâu .Trình độ phân công lao động và chuyên môn hoá là thớc đo
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
III.Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất
1. Lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi
Của quan hệ sản xuất.
Trong quá trình sản xuất của cải vật chất của xã hội con ngời đã không ngừng
cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất mới nhằm nâng cao năng
suất lao động. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, trình độ chuyên môn
và kỹ năng của ngời lao động ngày càng đơc nâng cao, đòi hỏi quan hệ sản xuất
phải thích ứng với nó. Lc lợng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến
liệu sản xuất và của lao động.ứng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội đợc thể
hiện thông qua sự phát triển của công cụ lao động , tính chất xã hội của lực lợng
sản xuất cũng biến đổi .Tuy vậy, trong nền sản xuất xã hội đôi khi trình độ phát
triển của lợng sản xuất không đi đôi với tính chất xã hội hoá của nó.
Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất phản ánh khả năng trinh phục giới
tự nhiên của con ngời ; khả năng này chỉ đạt tới đỉnh cao khi quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là
một trạng thái trong đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất tạo địa bàn cho lực l-
6
ợng sản xuất phát triển. Chỉ khi nào cả ba mặt của quan hệ sản xuất thích ứng với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc sử dụng và
kết hợp gia t liệu lao động và t liệu sản xuất thì sẽ tạo ra cơ sở phát triển hết khả
năng của lực lợng sản xuất.
Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ mới với tính chất xã hội hoá
ở mức cao hơn sẽ xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ chuyển thành không phù
hợp. Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt tất yếu sẽ dẫn tới việc xã hội phải xoá bỏ bằng
cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay băng một quan hệ sản xuất
mới phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất đã thay đổi, mở đờng cho lực lợng
sản xuất phát triển. Điều này sẽ dẫn tới diệt vong của phơng thức sản xuất cũ và sự
ra đời của phơng thức sản xuất mới.
Nh vậy, lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của quan hệ
sản xuất, một khi lực lợng sản xuất đã biến đổi thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất
cũng phải biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lọng sản xuất mới.
Tuy vậy, quan hệ sản xuất cũng thể hiện tính độc lập tơng đối với lực lợng sản
xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lợng sản xuất, quy định mục đích xã hội
của sản xuất, tác động đến khuynh hớng phát triển của công nghệ. Trên cơ sở đó
hình thành một hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực
lợng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp, phát trển hợp lý và đồng bộ với lực l-
ợng sản xuất mới là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất. Trên thực tế chúng ta đã
xây dựng thành phần kinh tế Quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể vợt qúa
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và trình độ quản lý của chúng ta. Có quan
điểm cho rằng có thể đa quan hẹ sản xuất đi trớc nhng cũng đã bị thực tế bác bỏ.
Do những quan hệ sản xuất mang tính chất hình thức đã kìm hãm lực lợng sản xuất
phát triển làm xuất hiện mâu thuẫn và nảy sinh những hiện tợng tiêu cực. Mâu
thuẫn giữa yêu cầu phát triển của lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất quá xa vời
đã kìm hãm nền kinh tế do đó cần phải giải quyết mâu thuẫn trên và khắc phục
những hiện tợng tiêu cực trong nền kinh tế.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lợng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ qua trình phát triển của lịch sử loài ngời.
Do đó nó luôn là cơ sở phơng pháp luận cho t duy đờng lối, chính sách kinh tế của
Đảng và nhà nớc. Bất cứ sự coi nhẹ nào, mặt này hay mặt khác của quá trình sản
xuất đều dẫn đến những hậu quả tiêu cực của nền kinh tế quốc dân. Trong một số
năm gần đây, trong t duy kinh tế của một số ngời ở cả cấp vĩ mô và vi mô. Dờng
nh đã có xu hớng thiên về những vấn đề của lực lợng sản xuất mà coi nhẹ những
vấn đề quan hệ sản xuất xã hội, hoặc chỉ chú ý đến một bộ phận nào đó của quan
hệ sản xuất nh vấn đề cơ chế thị trờng, có vấn đề sao nhãng những vấn đề về định
hớng xã hội chủ nghĩa của các thành phần kinh tế ở nớc ta hiện nay.
Sau những năm tiến hành đổi mới nớc ta đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn về
kinh tế và sự phát triển của các lực lợng sản xuất xã hội. Nguyên nhân quan trọng
dẫn đến sự phát triển đó là sự phù hợp của các quan hệ sản xuất xã hội do đảng ta
điều chỉnh. Nội dung cơ bản của sự phát triển phù hợp đó là việc khôi phục và phát
8
triển nền kinh tế nhiều thành phần, và chuyển dịch nền kinh tế từ tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc là việc đa dạng
hoá các hình thức sở hữu, phân phối. Trong đó quan hệ phân phối theo lao động là
cơ sở nhng kết hợp các hình thức phân phối theo tài sản, theo t bản, theo hình thức
đóng góp vào kinh doanh. Cơ sở khoa học của sự điều chỉnh của đảng là việc nhận
thức lại quy luật quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ ở nớc ta, áp dụng một cách
9
phẩm sản xuất bên trong các doanh nghiệp nhà nớc diễn ra còn chậm chạp, tình
trạng vô chủ trên thực tế vẫn tồn tại, việc cổ phần hoá còn chậm. Mặc dù đảng và
nhà nớc đã có nhiều biện pháp để điều chỉnh nhng tình trạng làm ăn thua lỗ, chiếm
dụng vốn lẫn nhau vẫn còn. Sự kiểm kê, kiểm soát của ngời lao động trong nội bộ
xí nghiệp cha thực sự có hiệu quả. Do đó cần phải củng cố và hoàn thiện phát triển
khu vực kinh tế nhà nớc để xứng đáng với vai trò là đầu tàu của nền kinh tế.
Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác dựa
trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh
tế quốc dân. Cùng với việc xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Từ khoán 10,
kinh tế tập thể với các hợp tác xã kiểu cũ không còn nữa mà kinh tế hộ gia đình đã
chuyển lên đóng vai trò chủ thể tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
phát triển. Tuy nhiên hiện nay sự phát triển của nông nghiệp, của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông thôn đang đòi hỏi cấp bách kinh tế hộ gia đình phải đợc phát
triển song hành và kết hợp với những hình thức kinh tế hợp tác kiểu mới và tất cả
các hình thức kinh tế này phải đợc kinh tế nhà nớc và nhà nớc giúp đỡ tích cực. Sự
chậm trễ trong sự ra đời và phát triển của những quan hệ sản xuất kiểu mới trong
nông nghiệp đang bắt đầu gây trở ngại cho các lực lợng sản xuất trong nông nghiệp
và nông thôn. Hộ gia đình tuy năng động, có sức sống nhng đó vẫn là sản xuất nhỏ,
sớm muộn nó cũng phải chuyển lên sản xuất lớn. Đang diễn ra quá trình phát triển
của kinh tế t bản t nhân trong nông nghiệp và nông thôn. Điều đó là đúng quy luật.
Chúng ta không nên cản trở mà phải khuyến khích quá trình đó. Bên cạnh đó cần
phải triển khai con đờng phát triển kinh tế hợp tác với các hình thức kết hợp. Từ
thấp đến cao, tích tụ và tập trung vốn và lao động trong những hình thức kết hợp,
thực sự có năng suất và hiệu quả, đảng và nhà nớc cần phải nhạy bén tổng kết
hoạch định chính sách đa yếu tố tự giác vào trong phong trào, tạo ra một đà phát
triển mới của các lực lợng sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ nông thôn.
Kinh tế t bản nhà nớc là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức liên doanh
liên kết giữa kinh tế t bản nhà nớc với t bản t nhân trong nớc và ngoài nớc. Đó là
một thành phần đóng vai trò rất quan trọng trong thời kỳ quá độ ở nớc ta, hiện nay
nền kinh tế đã phát huy nhiều tác động tích cực và năng động hơn. Tuy vậy cơ chế
vận hành nền kinh tế vẫn tồn tại những bất cập cha phù hợp.Trong khi những tàn d
của cơ chế cũ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp vẫn cha khắc phục đợc triệt để
cũng đã xuất hiện quan điểm đề cao cơ chế thị trờng, hạ thấp vải trò của nhà nớc.
Sự buông lỏng quản lý của nhà nớc với thị trờngcũng đã gây ra những tác động tiêu
cực cho nền kinh tế.
Nh vậy công cuộc xây dựng chủ nghĩa ở nớc ta đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập,
với xu thế toàn cầu hoá cần phải có sự lãnh đạo của đảng và sự quản lý của nhà nớc
để quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lợng sản xuất ở nớc ta để
nền kinh tế phát triển theo đúng hớng với mục tiêu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội.
11
12
KếT LUậN
Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất là
một quy luật khách quan phổ biến tác động tới toàn bộ quá trình phát triển của lịch
sử loài ngời từ xã hội công xã nguyên thuỷ đến xã hội cộng sản tơng lai và quy luật
cơ bản nhất trong quan hệ các quy luật xã hội .
Với điều kiện cụ htể của nớc ta Đảng ta đã vạch ra con đờng phát triển của đất n-
ớc là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bỏ qua chế độ T bản chủ nghĩa. Đảng ta chủ trơng
xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc, sử dụng cơ chế
thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc là hoàn toàn đúng đắn. Công cuộc CNH -
HĐH đất nớc đã đạt đợc nhiều thành tựu . Qua đó có thể thấy đợc Đảng ta đã nhận
thức và vận dụng đúng đắn quy luật trên.
13