Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đảng ta nhận thức và vận dụng quy luật này như thế nào trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10

A.Phần mở đầu
Loài ngời đã trải qua năm phơng thức sản xuất đó là: Nguyên thuỷ,
chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, , t bản chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa. T duy
phát triển, nhận thức của con ngời không dừng lại ở một chỗ. Từ khi sản xuất
chủ yếu bằng hái lợm săn bắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu thì ngày nay
trình độ khoa học đạt tới mức tột đỉnh. Không ít các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu đổ sức bỏ công cho các vấn đề này cụ thể là nhận thức con ngời,
trong đó có triết học. Với ba trờng phái trong lịch sử phát triển của mình chủ
nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và trờng phái nhị nguyên luận. Nhng họ đều
thống nhất rằng thực chất của triết học đó là sự thống nhất biện chứng giữa
quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất nh thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo
nên chỉnh thể của nền sản xuất xã hội. Tác động qua lại biện chứng giữa lực l -
ợng sản xuất với quan hệ sản xuất đợc mác và Ănghen khái quát thành qui
luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất. Từ những lý
luận trên đa Mác - Ănghen vơn lên đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Không chỉ
trên phơng diện triết học mà cả chính trị kinh tế học và chủ nghĩa cộng sản
khoa học. Dới những hình thức và mức độ khác nhau, dù con ngời có ý thức
và mức độ khác nhau, dù con ngời có ý thức đợc hay không thì nhận thức của
hai ông về qui luật vẫn xuyên suốt lịch sử phát triển.
Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất tạo điều kiện cho sinh
viên nói chung và tôi nói riêng có đợc một nhận thức về sản xuất xã hội. Đồng
thời mở mang đợc nhiều lĩnh vực về kinh tế. Thấy đợc vị trí, ý nghĩa của nó.
Tôi mạnh dạn đa ra nhận định của mình về đề tài "Phân tích nội dung quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực l-
ợng sản xuất.Đảng ta nhận thức và vận dụng quy luật này nh thế nào trong
giai đoạn hiện nay"
Tuy nhiên do trình độ nhận thức hiểu biết về mọi mặt còn hạn chế, nên
không tránh khỏi những sai sót mong thầy cô giáo góp ý để bài viết đợc hoàn
thiện hơn.
B. nội dung
I. đặt vấn đề

Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phơng thức sản
xuất biểu thị cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những
giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời. Với một cách thức nhất định của
sự sản xuất xã hội, trong đời sống xã hội sẽ xuất hiện những tính chất, kết cấu và
những đặc điểm tơng ứng về mặt xã hội.
Đối với sự vận động của lịch sử loài ngời, cũng nh sự vận động của mỗi xã
hội cụ thể, sự thay đổi phơng thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính
chất cách mạng. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội đợc chuyển
sang một chất mới. Phơng thức sản xuất là cái mà nhờ nó ngời ta có thể phân biệt
đợc sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau. Dựa vào phơng thức sản
2
xuất đặc trng của mỗi thời đại lịch sử, ngời ta hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về
hình thái kinh tế xã hội nào. C. Mác viết: Những thời đại kinh tế khác nhau
không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách
nào, với những t liệu lao động nào
Phơng thức sản xuất, cách thức mà con ngời ta tiến hành sản xuất chính là
sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản
xuất tơng ứng.
2- Lực lợng sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C. Mác gọi là
quan hệ song trùng của bản thân sự sản xuất xã hội: quan hệ của ngời với tự
nhiên và quan hệ của con ngời với nhau.
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa ngời với giới tự nhiên.
Nghĩa là trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội, con ngời chinh phục giới
tự nhiên bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó đợc chủ
nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lợng sản xuất. Lực lợng sản
xuất nói lên năng lực thực thực tế của con ngời trong quá trình sản xuất tạo ra
của cải xã hội. Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động với kinh nghiệm sản
xuất, kỹ năng lao động, biết sử dụng t liệu sản xuất để tạo ra của cải vật

nguyên liệu. Loại này thờng là đói tợng của các ngành công nghiệp chế biến.
Với sự phát triển của Cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại, vai trò của
nhiều đối tợng lao động dần dần thay đổi, đồng thời loại đối tợng lao động có
chất lợng mới đợc tạo ra. Nhng cơ sở của mọi đối tợng lao động vẫn là đất đai, tự
nhiên: lao động là cha, còn đất là mẹ của mọi của cải vật chất( 3).
T liệu lao động: là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền
dẫn sự tác động của con ngời lên đối tợng lao động, nhằm biến đổi đối tợng lao
động theo mục đích của mình.
T liệu lao động bao gồm công cụ lao động, hệ thống các yếu tố vật chất
phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình sản xuất( nhà xởng, kho tàng, bến bãi,
ống dẫn, băng chuyền, đờng sá, các phơng tiện giao thông vận tải, thông tin liên
lạc ).
Trong các yếu tố hợp thành t liệu lao động thì công cụ lao động có ý nghĩa
quyết định nhất, là một thành tố cơ bản của lực lợng sản xuất. Công cụ lao động,
theo Ph. Ăngghen là khí quan của bộ óc con ngời, là sức mạnh của tri thức
đã đợc vật thể hóa có tác dụng nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh trí tuệ
của con ngời. Còn Mác gọi là hệ thống xơng cốt và cơ bắp của nền sản xuất
4
Công cụ lao động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con ngời đặt giữa mình với
đối tợng lao động. Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động luôn luôn đợc cải
tiến, tinh xảo hơn để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn. Nó là yếu
tố động nhất và cách mạng nhất trong lực lợng sản xuất. Cùng với sự biến đổi vá
phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng sản xuất, kiến
thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ, phong phú thêm, những ngành sản xuất
mới xuất hiện, sự phân công lao động phát triển. Chính sự chuyển đổi, cải tiến và
hoàn thiện không ngừng của nó đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ t
liệu sản xuất. Xét cho cùng chính đó là nguyên nhân sâu xa xa của mọi biến cải
xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục
tự nhiên của con ngời, là cơ sở xác định trình dộ phát triển của sản xuất, là tiêu
chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế. Đối với mỗi thế hệ

nhau. Muốn sản xuất đợc ngời ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định
với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất( 5).
Nh vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con ngời ta, dù
muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định
với nhau. những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn
của ai cả. Đó chính là những quan hệ sản xuất( 6). Cố nhiên, quan hệ sản xuất là
do con ngời tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan sự vận
động của đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây:
+ Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc sở hữu về t liệu sản xuất.
+ Quan hệ giữa ngời và ngời đối với việc tổ chức quản lý.
+ Quan hệ giữa ngời và ngời đối với việc phân phối sản phẩm lao động.
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào
ý muốn của con ngời, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất
thuộc đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lợng sản
xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan hệ đó trong
quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mang
tính ổn định tơng đối so với sự vận động không ngừng của lực lợng sản xuất. Các
quan hệ sản xuất của một phơng thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều
6
mối quan hệ phong phú và đa dạng biểu hiện dới nhiều hình thức. Mỗi mặt quan
hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi
nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói
chung.
Tính chất của quan hệ sản xuất trớc hết đợc quy định bởi quan hệ sở hữu
đối với t liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trng cơ bản của ph-
ơng thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế- xã
hội xác định, quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất luôn luôn có vai trò quyết định
đối với tất cả các quan hệ xã hội khác . Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát,
quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất. Chính quan hệ sở

Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý
sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc
độ, hiệu quả và xu hớng của mỗi nền sản xuất cụ thể. Bằng cách nắm bắt các
nhân tố xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận động
của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng đẩy
nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất.
Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hớng
thích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy,
việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ
hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vơn tới tối u. Trong trờng hợp ngợc lại,
các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hởng
tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội.
Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý hiện
đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đối
với việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ mô,
trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trớc đây. Đây là điều rất đáng
lu ý trong việc phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại.
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệ
sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân
tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền kinh tế- xã hội.
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản
lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con ngời,
nên các quan hệ phân phối là chất xúc tác của các quá trình kinh tế- xã hội.
Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng
động toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội; hoặc trong trờng hợp ngợc lại, nó có khả
năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
II-2/ Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất.
8
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau

cần tới lao động tập thể, lực lợng sản xuất cóa tính chất cá nhân. Khi máy móc ra
9
đời đòi hỏi phải có nhiều ngời mới sử dụng đợc, để làm ra một sản phẩm cần
phải có sự hợp tác của nhiều ngời. Mỗi ngời làm một bộ phận công việc mới
hoàn thành đợc sản phẩm ấy cho nên lực lợng sản xuất mang tính chất xã hội
hóa. Ph. Ăngghen đã nhận định giai cấp t sản không thể biến những t liệu sản
xuất có hạm ấy thành những lực lợng sản xuất hùng mạnh mà lại không biến
chúng từ chỗ là t liệu sản xuất do cá nhân sử dụng thành những t liệu sản xuất xã
hội, chỉ có thể đợc sử dụng chung bởi một số đông ngời( 8). Trên thực tế, tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất không tách biệt với nhau.
Quan hệ sản xuất đợc hình thành, biến đổi, phát triển do lực lợng sản xuất
quyết định.
Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao
hơn, con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế
tạo ra những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát
triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng
sản xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ. Lực lợng sản xuất trở
thành yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố t-
ơng đối ổn định, có khuynh hớng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất là nội dung của phơng thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là
hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội
dung quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi
trớc, sau đó hình thức mới biến đổi theo. Tất nhiên, trong quan hệ với nội dung ,
hình thức không phải là mặt thụ động, nó cũng tác động trở lại đối với việc phát
triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình
thành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Sự
phù hợp đó là động lực cho lực lợng sản xuất pats triển mạnh mẽ. Nhng, lực lợng
sản xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hớng tơng đối ổn định. Khi
lực lợng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn

sẽ bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng
sản xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy
định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức
phân phối phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do đó ảnh hởng
đến thái độ của quảng đại quần chúng lao động- lực lợng sản xuất chủ yếu của
xã hội; nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công
cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác
và phân công lao động
11
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách giản đơn tính tích cực của quan hệ
sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là
một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở
thành động lực thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác động của
quy luật này đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản xuất: công xã
nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa và phơng thức sản
xuất cộng sản tơng lai.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay thế kế
tiếp nhau từ thấp lên cao của các phơng thức sản xuất. Nhng không phải bất cứ
nớc nào cũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phơng thức sản xuất mà
loài ngời đã biết đến. Thự tế phát triển của lịch sử nhân loại cho thấy, tùy theo
điều kiện lịch sử- cụ thể, một số nớc có thể bỏ qua một hoặc một số phơng thức
sản xuất để tiến lên phơng thức sản xuất mới cao hơn. Đó chính là sự biểu hiện
của quy luật chung trong điều kiện cụ thể của mỗi nớc. Quy luật chung chi phối
sự vận động phát triển của tất cả các nớc; còn hình thức, bớc đi cụ thể lại tùy

Đặc điểm to nhất của nớc ta trong thời kỳ quá độ là từ một nớc nông nghiệp lạc
hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển t
bản chủ nghĩa.
Từ năm 1975, sau khi đất nớc đã hoàn toàn độc lập và cả nớc thống nhất,
cách mạng dân tộc - dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nớc thì cả n-
ớc cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của
Đảng ta nói rõ hơn thực trạng kinh tế và chính trị của đất nớc: Nớc ta quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ t bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa
phong kiến, lực lợng sản xuất rất thấp. Đất nớc trải qua hàng chục năm chiến
tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, những tàn d thực dân, phong kiến còn nhiều.
Các thế lực thù địch thờng xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và
nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ
nghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nớc đã có nền kinh tế
rất phát triển, bởi lẽ, ở các nớc này, tuy lực lợng sản xuất đã phát triển cao nhng
vẫn còn cần phải cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn
hoá mới. Dĩ nhiên, đối với những nớc thuộc loại này, về khách quan có nhiều
thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể diễn ra ngắn hơn. Đối với nớc ta, một nớc
13
nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, thì
lại càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Củ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta là
một thời lỳ lịch sử mà: nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng
nền tảng vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,tiến dần lên chủ nghĩa xã hội,
có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá, khoa học tiên tiến. Trong
quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và
xây dựng nền kinh tế mới, mà trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu
dài.
Tuy vậy, sau hơn 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, bằng sự nỗ

13,5%. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá: năm 2000 so với năm
1995, công suất điện gấp 1,5 lần, xi măng gấp 2,1 lần, phân bón gấp trên 3 lần,
thép gấp 1,7 lần, mía đờng gấp hơn 5 lần . Một số sản phẩm quan trọng tăng
nhanh nh dầu thô, điện, than sạch, thép cán, xi măng, vải các loại, giấy các loại
. Ngành xây dựng có thể đảm đơng việc thi công những công trình quy mô
lớn, hiện đại về công nghệ. Một số vật liệu xây dựng chất lợng cao sản xuất
trong nớc đạt tiêu chuẩn châu Âu và khu vực (gạch lát nền, gạch ốp lát ).
- Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển trong điều kiện khó khăn hơn trớc,
góp phần tích cực cho tăng trởng kinh tế và phục vụ đời sống. Giá trị các ngành
dịch vụ tăng 6,8%/năm. Giá trị doanh thu bu điện tăng bình quân hàng năm
11,3%.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng có bớc phát triển khá, đáp ứng yêu cầu trớc mắt
và tạo đợc những năng lực gối đầu cho thời kỳ sau. Các công trình và các trục
tuyến giao thông quan trọng đợc tập trung đầu t nâng cấp, bảo đảm giao thông
thông suốt trong cả nớc. Hệ thống bu chính viễn thông đợc hiện đại hoá về cơ
bản. Hệ thống thuỷ lợi đợc nâng cấp và phát triển trên các vùng. Cơ sở vật chất
của các ngành giáo dục và đạo tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, du lịch,
thể dục thể thao đều đợc tăng cờng đáng kể.
- Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển. Nớc ta đã xây dựng quan hệ thơng mại
với trên 140 nớc, quan hệ đầu t với gần 70 nớc và vùng lãnh thổ, thu hút đợc
nhiều nguồn vốn đầu t nớc ngoài. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
hàng năm trên 21%, gấp 3 lần mức tăng GDP. Đầu t trực tiếp nớc ngoài tiếp tục
gia tăng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) tiếp tục tăng, góp phần quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng.
Hai là văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục đợc cải
thiện.
15
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bớc phát triển mới cả về quy mô, chất l-
ợng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất. Năm học 1999 - 2000 so với 1994
-1995 số học sinh các cấp học, bậc học đều tăng đáng kể, mẫu giáo tăng 1,2 lần,

16
- Kết cấu hạ tầng nh hệ thống đờng giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin
liên lạc còn lạc hậu, kém phát triển (mật độ đờng giao thông/km bằng 1% với
mức trung bình của thế giới; tốc độ truyền thông trung bình cả nớc chậm hơn của
thế giới 30 lần). Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các địa phơng, các
vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm năng của các địa ph-
ơng không thể đợc khai thác, các địa phơng không thể chuyên môn hoá sản xuất
để phát huy thế mạnh.
- Do cơ sỏ vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động
kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nớc ta cha thoát
khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nông nghiệp vẫn sử dụng 70% lực l-
ợng lao động, nhng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành kinh tế công nghệ
cao chiếm tỷ trọng thấp.
- Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trờng trong nớc, cũng
nh thị trờng nớc ngoài còn rất yếu. Do cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ lạc
hậu, năng suất lao động thấp, do đó khối lợng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng
hoá còn nghèo nàn, chất lợng hàng hoá thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh
tranh còn yếu.
Hai là, thị trờng dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhng
cha đồng bộ.
- Do giao thông vận tải kém phát triển nên cha lôi cuốn đợc tất cả các vùng
trong nớc vào một mạng lới lu thông hàng hoá thống nhất.
- Thị trờng hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhng còn hạn hẹp và còn nhiều
hiện tợng tiêu cực (hàng giả, hàng lậu, hàng nhái vẫn làm rối loạn thị trờng).
- Thị trờng hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu
việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhng đã nảy sinh hiện tợng khủng
hoảng. Nét nổi bật của thị trờng này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn
cầu rất nhiều, trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vợt quá xa cầu,
nhiều ngời có sức lao động không tìm đợc việc làm.
- Thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn đã có nhiều tiến bộ nhng vẫn còn nhiều trắc

cha vững chắc.
*Những Giải pháp và mục tiêu phát triển trong thời gian tới:
1 - Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị tr ờng ở Việt Nam:
Để phát triển nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp. Dới đây là những giải pháp chủ yếu nhất:
a) Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:
18
Trớc đây, khi xây dựng kinh tế kế hoạch, xoá bỏ kinh tế thị trờng, chúng ta
đã thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn giản với hai hình thức là sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể. Vì vậy, khi chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờng, cần phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ bằng cách đa dạng
hoá các hình thức sở hữu, điều đó sẽ đa đến sự hình thành các chủ thể kinh tế
độc lập, có lợi ích riêng, tức là khôi phục một trong những cơ sở của kinh tế
hàng hoá.
Trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Lấy việc phát triển
sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm
mục tiêu quan trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Theo tinh thần đó, tất cả các thành phần
kinh tế đều bình đẳng trớc pháp luật, đều đợc khuyến khích phát triển.
Trong những năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc. Muốn
vật cần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nớc trong những
lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nớc, thực hiện
tốt chủ trơng cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp
nhà nớc không cần nắm 100% vốn. Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế
mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nớc, có sự tham gia của các thành phần
kinh tế. Đẩy mạnh việc đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà
nớc. Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanh nghiệp kinh
doanh có vốn của nhà nớc, doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị tr-
ờng, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.

vùng, từng địa phơng; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép khai thác tốt
nhất các nguồn lực của đất nớc, tạo nên sự tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững
của toàn bộ nền kinh tế.
c) Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trờng:
Trong nền kinh tế thị trờng, hầu hết các nguồn lực kinh tế đều thông qua thị
trờng mà đợc phân bố vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối -
u. Vì vậy, để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa, chúng ta phải hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trờng. Trong
những năm tới chúng ta cần phải:
- Phát triển thị trờng hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh sản xuất,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống giao thông và phơng
tiện vận tải để mở rộng thị trờng. Hình thành thị trờng sức lao động có tổ chức để
tạo điều kiện cho sự di chuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển kinh tế và sử
dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.
20
- Xây dựng thị trờng vốn, từng bớc hình thành và phát triển thị trờng chứng
khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất.
- Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trờng nhà ở. Xây dựng và phát triển thị trờng
thông tin, thị trờng khoa học công nghệ. Hoàn thiện các loại thị trờng đi đôi với
xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cờng sự kiểm tra, giám sát của nhà
nớc, để thị trờng hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cơng trong môi
trờng cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc
quyền kinh doanh. Có biện pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thơng mại.
d) Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:
Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu
vực và thế giới, mới thu hút đợc vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác
tiềm năng và thế mạnh của đất nớc nhằm phát triển kinh tế.
Khi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng,
cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Mở rộng kinh tế đối
ngoại theo hớng đa phơng hoá và đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại.

có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhà nớc sử dụng các biện pháp kinh
tế là chính để điều tiết nền kinh tế, chứ không phải là mệnh lệnh. Vì vậy, phải
tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách
tiền lơng và giá cả.
2 - Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của nhà n ớc ta:
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta không nằm ngoài mục tiêu tăng trởng, phát triển kinh tế và thực
hiện công bằng xã hội. Đảng ta luôn khẳng định mục tiêu: Tiếp tục sự nghiệp
đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu
ấy chính là đã hàm chứa nội dung vừa có tăng trởng kinh tế cao, vừa có tiến bộ
và công bằng xã hội. Tuy vậy, để đạt đợc mục tiêu kép này không phải dễ dàng
và lịch sử cho thấy đã có nhiều trờng hợp xảy ra sự đối lập giữa tăng trởng, phát
triển kinh tế và công bằng xã hội. Các chính sách dựa trên mục tiêu công bằng
có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trởng, phát triển kinh tế và ngợc lại,
một chính sách chỉ nhằm vào tăng trởng có thể làm cho bất bình đẳng tăng lên.
Mối quan hệ hợp lý giữa tăng trởng, phát triển kinh tế và công bằng xã hội phụ
thuộc vào quan điểm, chính sách của nhà nớc về vấn đề này và sự thực thi nó
trong cuộc sống.
Trong thời kỳ trớc đổi mới, chúng ta đã có cách hiểu cha đầy đủ về công
bằng và bình đẳng xã hội, đồng nhất công bằng với bình đẳng, dẫn đến chủ
nghĩa bình quân trong phân phối, làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, năng
22
động của xã hội. Chủ nghĩa bình quân chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý đến
mức làm cho ngời lao động thờ ơ với sở hữu xã hội, không quan tâm đến kết quả
lao động.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã nêu ra nhiều t duy
mới, quan điểm mới về tăng trởng, phát triển kinh tế và công bằng xã hội. Tất
nhiên những quan điểm mới đó đều bắt nguồn và dựa trên cơ sở đờng lối xây
dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong cơng lĩnh

gấp hơn 2 lần nhịp độ tăng GDP. Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16 - 17%,
công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn
khoảng 50%.
- Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con ngời (HDI). Tốc độ tăng dân số
năm 2010 còn khoảng 1,1%. Xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo. Giải quyết tốt
việc làm (ở thành thị thất nghiệp dới 5%, nông thôn thời gian lao động lên 80 -
85%); tủ lệ ngời lao động đợc đào tạo nghề khoảng 40%. Trẻ em đến tuổi đi học
đều đợc đến trờng, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong cả nớc. Ngời có
bệnh đợc chữa trị, giảm tỷ lệ trẻ em dới 5 tuổi suy dinh dỡng xuống khoảng
20%, tăng tuổi thị trung bình lên 71. Chất lợng đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần đợc nâng lên rõ rệt.
- Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc đợc tăng cờng, chi phối các lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế. Thể chế kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
đợc hình thành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả .
24
C - Kết thúc vấn đề
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất là quy luật phổ biến, tác động không chỉ tới một hình thái kinh tế
xã hội nào đó, mà tác động tới toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại.
ở Việt Nam, việc duy trì tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu
khách quan trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần thể hiện chủ trơng đúng đắn của nhà nớc là đa dạng
hoá các loại hình sở hữu, cải thiện căn bản quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực
lợng sản xuất đang phát triển. Điều này phù hợp với quá trình đi từ sản xuất nhỏ
lên sản xuất lớn của Việt Nam. Chúng ta đã vận dụng hợp lý quy luật quan hệ
sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
vào thực tại ở Việt Nam.
Tuy vậy, thực tế đặt ra vấn đề nan giải là làm thế nào để có thể phát triển
trình độ lực lợng sản xuất ở Việt Nam bắt kịp với các nớc trên thế giới? Điều
này đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Nam đi từ một nớc phong kiến bỏ qua giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status