LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội loài người luôn biến đổi không ngừng: từ khi xã hội loài người
còn là một xã hội sơ khai, nguyên thuỷ bây giờ đã trở thành một xã hội văn
minh. Có như vậy là vì trong quá trình phát triển xã hội loài người đã trải qua
nhiều phương thức sản xuất khác nhau, các phương thức sản xuất đó ngày
càng hoàn thiện. Như vậy để xã hội phát triển thì phải phát triển được quan hệ
sản xuất mà yếu tố này lại được quy định bởi tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất phát triển được là nhờ tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy, một trong những con đường cải tạo xã hội
nhanh nhất là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá hiện đại hoá là một giai đoạn phát triển tất yếu trong
lịch sử phát triển của hầu hết quốc gia trên thế giới cũng như khi nước ta đi
lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Chính vì vậy sự dịch chuyển nền kinh tế lao động thủ công lạc hậu thành lao
động sử dụng kĩ thuật và công nghệ tiên tiến để đạt được năng suất cao và là
cái quyết định cho sự tồn tại của một chế độ xã hội. Đảng ta luôn xác định
công nghiệp hoá hiên đại hoá nhằm nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kì quá
độ. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, và trước sự thay
đổi to lớn của thế giới Đảng đã xác định thời cơ, những thách thức to lớn. Đó
là công cuộc đổi mới tạo ra thế và lực. Đồng thời trong quá trình này Đảng ta
lấy chủ nghĩa Mác - Lê Nin tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và
là sợi chỉ xuyên suốt cho mọi hành động.
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có nhiều thay đổi và đạt
được nhiều thành tựu to lớn mà cột mốc là đại hội đảng toàn quốc lần VI
(1986) đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế đất nước có nền kinh tế tiểu nông,
muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt tới trình độ của một
nước phát triển thì tất yếu phải đổi mới để xây dựng nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
1
sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu
Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động, trong đó tư
liệu lao động là yếu tố quan trọng nhất. Tư liệu lao động là những vật hay
phức hợp những vật có thể nối con người với đối tượng lao động và dẫn
truyền tích cực sự tác động của con người vào đối tượng lao động, tư liệu sản
xuất là bộ phận trực tiếp dẫn truyền sự tác động của con người vào tự nhiên.
Và sản phẩm của giới tự nhiên gọi là công cụ sản xuất.
3
Tư liệu sản xuất luôn thay đổi vì con người luôn tìm tòi sáng tạo và sử
dụng những công cụ lao động ngày càng được cải tiến tinh xảo hơn. Vì vậy
mà trong lực lượng sản xuất cũng có mâu thuẫn. “Mâu thuẫn bên trong của
lực lượng sản xuất là mâu thuẫn giữa trình độ, khả năng của lực lượng sản
xuất với nhu cầu chinh phục, cải tạo tự nhiên, nhu cầu biến đổi đối tượng sản
xuất”. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là do nhu cầu của xã hội và do
mẫu thuẫn bên trong của lực lượng sản xuất quyết định. Mâu thuẫn này
thường xuyên đặt ra, liên tục phát sinh trong quá trình sản xuất. Việc giải
quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải áp dụng khoa học - kỹ thuật - công nghệ
vào quá trình sản xuất làm cho công cụ sản xuất không ngừng được hoàn
thiện. Vì vậy để thúc đẩy tư liệu sản xuất phát triển, lực lượng sản xuất phát triển
thay đổi từ thấp đến cao thì phải không ngừng cải tiến kỹ thuật, thay thế công cụ
thô sơ bằng máy móc.
Trong lực lượng sản xuất thì nhân tố con người đóng vai trò quyết định
nhất. Song ngày nay trong công cuộc cách mạng đã mở ra bước nhảy vọt lớn
của lực lượng sản xuất. Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vì
khoa học là điểm xuất phát cho mọi biến đối to lớn cho lĩnh vực sản xuất, là
cơ sở để hình thành hoạt động các ngành sản xuất mới đồ sộ khoa học đã kết
tinh vào mọi yếu tố của lực lượng sản xuất và làm thay đổi về chất mọi yếu tố
đó. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mở ra một kỷ nguyên mới của sản
xuất tự động hoá với việc ứng dụng khoa học tiến bộ mới vào sản xuất, đã tạo
ra sự thay đổi trong chức năng của người sản xuất. Con người không trực tiếp
thao tác mà chủ yếu sáng tạo và điều chính một cách hợp lý. Trí thức khoa
mà phải xét tới tính chất của quan hệ sản xuất.
5
Bên cạnh đó thì quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là
những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền
kinh tế - xã hội. Mặc dù phụ thuộc vào các quan hệ còn lại song quan hệ phân
phối sản phẩm do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người
nó là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế - xã hội.
Trong lịch sử đã diễn ra sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất
& quan hệ sản xuất tạo thành mối quan hệ lặp đi lặp lại mang tính chất ổn
định của nền sản xuất xã hội. Các Mác rút ra kết luận: sản xuất xã hội có quy
luật khách quan vốn có của nó, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ của lực lượng sản xuất.
1.3- Quy luật về sự phù hợp của lực lượng sản xuất với trình độ phát
triển của quan hệ sản xuất:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức
sản xuất và tác động biện chứng với nhau. Sự liên hệ tác động biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hình thành nên quy luật phổ biến
của toàn thể loài người. Đó là quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quy luật sự phù hợp
này là khả năng phối hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất để tạo
ra hiệu quả lao động cao nhất. Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào
việc xem xét mối quan hệ này, từ đó từng bước tìm ra được mối quan hệ giữa
sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1.3.1- Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi
quan hệ sản xuất .
Một đặc điểm của nền sản xuất xã hội là luôn luôn biến đổi và phát triển.
Muốn tồn tại duy trì cuộc sống của mình con người phải lao động; phải tham
gia vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất tự nuôi
sống mình. Muốn vậy quá trình sản xuất phải không ngừng; nó phải diễn ra
6
hệ sản xuất nhất định phải căn cứ vào trình độ của lực lượng sản xuất.
1.3.2- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất:
Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất song với tính cách là hình
thức, quan hệ sản xuất cũng có những tác động nhất định trở lại đối với lực
lượng sản xuất. Nếu như lực lượng sản xuất là thường xuyên biến đổi thì quan
hệ sản xuất lại có tính ổn định hơn, có như vậy nó mới trở thành hình thức
kinh tế của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có tính ổn định bởi nó
gắn liền với lợi ích giữa người với người. Nó muốn thay đổi cũng phải trải
qua một thời gian dài đấu tranh & cải biến xã hội.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất là
do quan hệ sản xuất có tác động tới:
• Việc kết hợp các yếu tố của lực lượng sản xuất trong quá trình sản xuất ra
của cải vật chất cho xã hội.
• Việc phân công lao động xã hội.
• Việc phát triển, ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất.
Như vậy rõ ràng quan hệ sản xuất đã tác động tới trình độ của lực lượng
sản xuất & do đó nó tác động tới lực lượng sản xuất.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất chủ
yếu ở hai khuynh hướng:
- Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, nó
sẽ thúc đẩy, định hướng & tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
8
- Quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất,
nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên tác dụng kìm
hãm đó chỉ là tạm thời so với tất yếu khách quan của lịch sử, cuối cùng nó sẽ
bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản
xuất.Quan hệ sản xuất lạc hậu lỗi thời hay có những tất yếu vượt trước tiên
tiến hơn một cách không đồng bộ cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất.
Như vậy quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất
phận hữu cơ của nền kinh tế tế thế giới .
Hiện nay Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí vĩ mô của nhà nước với mục tiêu là đảm
bảo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, an ninh
quốc phòng và sự bền vững của môi trường. Nền kinh tế Việt Nam chỉ đạt tốc
độ tăng nhanh, hiệu quả kinh tế cao khi nền kinh tế ấy thực dựa trên cở sở
công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế là việc đòi hỏi tất yếu của
mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Điều này khẳng định công nghiệp hoá- hiện đại hoá là một vấn đề quan trọng
đặc biệt, là bước phát triển tất yếu đối với nước ta. Đặc biệt trong thời kì hiện
nay nền kinh tế vẫn mang tính chất đặc thù lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé,
kết cấu hạ tầng kinh tế kém phát triển, cơ sở kĩ thuật chưa xây dựng là bao
nhiêu, kinh tế phát triển khá nhưng năng suất thấp, chất lượng thấp khả năng
cạnh tranh với các nước kém. Cho nên chỉ có con đường công nghiệp hoá -
hiện đại hoá mới là con đường cơ bản khắc phục được yếu kém của nền kinh
tế nước ta, giữ vững ổn định chính trị xã hội.
10
Dựa vào học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác. Đảng ta tiếp tục
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện hoá đất nước. Từ đó có khả năng
phát triển lực lượng sản xuất và cơ sở hạ tầng cho phù hợp với quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa. Lực lượng sản xuất nứơc ta hiện nay tuy đã phát triển
nhưng chưa phù hợp quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đang được coi là phương hướng chủ đạo, phải qua các nước đang phát triển.
Đối với nước ta khi những tư tưởng cơ bản học thuyết Mác về hình thái kinh
tế - xã hội được nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với tư cách là cơ
sở lí luận của công nghiệp hoá - hiện đạt hoá đất nước thì một mặt chúng ta
phải đẩy nhanh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại cho chế độ xã hội mới - xã hội
CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa lầ nhằm cơ sở vật chất - kỹ
thuật để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng thành công xã hội chủ
nghĩa theo mục tiêu "dân giaù nước mạnh xã hội công bằng văn minh". Lòng
yêu nước tinh thần tự hào dân tộc, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư phải luôn được khơi dậy như là động lực hàng đầu. Dân chủ hoá triệt để
đời sống xã hội là bản chất, là quy luật phát triển củachủ nghĩa xã hội. Hoàn
thiện cơ cấu dân chủ, khắc phục những thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình
vận hành các thiết chế dân chủ XHCN mà Hồ Chí Minh đã lưu ý. Vai trò
không ngừng tăng lên của con người gắn liền với việc thúc đẩy nhanh tiến bộ
khoa học- kĩ thuật, với việc đổi mới cải cách giáo dục - đào tạo. Nhân loại
đang bước vào nền văn minh mới - văn minh trí tuệ, một nền văn minh mới
kinh tế kiến thức, một xã hội mới xã hội thông tin.
Về mô hình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nước ta, đang chủ trương
không lặp lại hoá cổ điển, mà tự tìm lấy một mô hình phù hợp với hoàn cảnh
đất nước và điều kiện thế giới ngày nay. Để làm được việc đó giáo dục và
khoa học phải tạo ra những con người có đủ kiến thức, năng lực lựa chon,
phát huy sáng tạo, công nghệ mới; từ đó làm chủ công nghệ nhập biến chúng
ta thành công nghệ của mình và tạo ra công nghệ mới và hiện đại hoá công
nghiệp truyền thống, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều
sản phẩm với năng xuất cao, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu .
Việc tìm kiếm mô hình đã khó, nhưng việc giải quyết những vấn đề
chung cho quá trình công nghiệp hoá lại càng khó hơn. Để Việt Nam trở
13