Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng đánh giá vai trò của các nhân tố đối với tăng trưởng kinh tế của việt nam trong thời gian qua - Pdf 10

Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
LỜI MỞ ĐẦU
Từ những năm đầu 90, kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong những năm đầu của quá trình đổi mới Việt Nam đã thu được
những thành công về kinh tế đáng kể đó là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và
kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh. Thương mại chiếm tới 51% của GDP.
Tháng 4 năm 2001 Đại hội Đảng lần thứ 9 đã thông qua Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2010. Trên cơ sở chiến lược này
mục đích đưa ra đến những năm cuối của giai đoạn 2001 – 2010 sự tăng
trưởng kinh tế phải tăng lên gấp đôi điều đó có nghĩa là đến năm 2005 mức
tăng trưởng kinh tế hàng năm phải tăng 7% và từ năm 2006 – 2010 mức tăng
trưởng kinh tế hàng năm phải là 7,5%. Năm 2007Việt Nam đã đạt được mức
tăng trưởng là 8, 48% cao hơn tốc độ của các năm trước, đã khá sát với mục
tiêu Quốc hội đề ra (8,5%) và thuộc loại cao đối với các nước trong khu vực ở
Chấu Á và trên thế giới.
Để thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng đề ra thì các nhân tố của
tăng trưởng kinh tế: nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế đóng một vai trò
quan trọng, cần phải được ưu tiên phát triển.
Với sự giúp đỡ của thầy Phạm Ngọc Linh chúng tôi đã hoàn thành
xong đề tài: “Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng. Đánh
giá vai trò của các nhân tố đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
trong thời gian qua”.
Nhóm G9
1
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
A.Lý luận:
I.Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về
phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống
hoàn thiện hơn. Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có

này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ
tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người. hơn thế nữa, quá
trình ấy phải được tạo điều nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học,
công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
II. Các nhân tố ảnh hưởng:
Có nhiều nhân tố khác nhau liên quan đến quá trình tăng trưởng kinh
tế, có thể phân thành hai nhóm với tính chất và nội dung tác động khác nhau
là: nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế.
1-Nhân tố kinh tế.
Đây là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và
đầu ra của nền kinh tế. Xuất phát của nghiên cứu được bắt đầu bằng hàm sản
xuất tổng quát:
Y=F(X
i
)
Trong đó: Y là giá trị đầu ra (phụ thuộc vào tổng cầu của nền kinh tế)
X
i
là giá trị các biến số đầu vào (liên quan trực tiếp đến tổng
cung).
Từ đó ta xét cụ thể hai nhóm nhân tố tác động:
1.1-Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung.
Nói đến các yếu tố tổng cung tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói
đến 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu, đó là:
− Vốn (K)
− Lao động (L)
− Tài nguyên, đất đai (R)
− Công nghệ kỹ thuật (T)
1.1.1- Vốn (K).
Nhóm G9

quốc gia (tính bằng đầu người hay thời gian lao động). Tuy nhiên các mô hình
Nhóm G9
4
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
tăng trưởng hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao
động, gọi là vốn nhân lực. Đó là các lao động có kỹ năng sản xuất, lao động
có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến
và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế.
Việc nâng cao vốn nhân lực sẽ làm cho việc tổ chức lao động, việc ứng
dụng công nghệ có hiệu quả, làm cho năng suất lao động tăng và từ đó là tăng
hiệu quả sản xuất.
Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng
góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí
chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp.
1.1.3- Tài nguyên, đất đai (R).
Tài nguyên, đất đai là một yếu tố sản xuất cổ điển. Đất đai là yếu tố
quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được
trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế. Các nguồn tài nguyên dồi dào
phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh
chóng, nhất là với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, các mô hình tăng
trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố tài nguyên đất đai với tư cách
là một biến số của hàm tăng trưởng kinh tế. Họ cho rằng đất đai là yếu tố cố
định còn tài nguyên thì có xu hướng giảm dần trong quá trình khai thác,
chúng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất (K).
1.1.4- Công nghệ kỹ thuật (T).
Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:
- Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức
khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản
phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật.
- Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm

thường xuyên và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh. Chi cho
tiêu dùng cá nhân sẽ tác động đến tổng cầu AD và từ đó tác động đến sản
lượng của nền kinh tế. Chi cho tiêu dùng cá nhân phụ thuộc vào tổng thu nhập
khả dụng (DI) và xu hướng tiêu dùng biên (MPC).
Nhóm G9
6
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
-Chi tiêu của Chính phủ (G): Bao gồm các khoản mục chi mua hàng
hoá và dịch vụ của Chính phủ. Trong một nền kinh tế, chi tiêu của chính phủ
vừa tạo ra hiệu ứng thu nhập vừa tạo ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân, do
vậy, tuỳ vào nền kinh tế là đóng, mở cửa với tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi
mà tác động của G vào sản lượng của nền kinh tế là khác nhau. Nguồn chi
tiêu của Chính phủ phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách (chủ yếu là các
khoản thu từ thuế và lệ phí).
-Chi cho đầu tư (I): Là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của
các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư
vốn lưu động. Các khoản đầu tư này sẽ là tiêu dùng của các nhà đầu tư, sau đó
lại trở thành tư bản K và có tác động trực tiếp đến sản lượng của nền kinh tế.
Nguồn chi cho đầu tư được lấy từ khả năng tiết kiệm từ các khu vực của nền
kinh tế, trong đó đầu tư khôi phục tức là đầu tư bù đắp giá trị hao mòn được
lấy từ quỹ khấu hao còn đầu tư thuần tuý được lấy từ các khoản tiết kiệm của
khu vực nhà nước, các hộ gia đình và doanh nghiệp.
-Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX=X-M): Thực tế, giá trị hàng
hoá xuất khẩu là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn
giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nươc nhưng lại
không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố yếu tố nguồn lực trong
nước. Vì vậy, chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu (NX) chính là
khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế.
Như chúng ta đã biết, tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) và GDP=C+I+G+NX. Do đó, sự thay đổi của một

tục tập quán…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và
sự phát triển cao của mỗi quốc gia.
Nói chung trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để
tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, của kỹ thuật của trình độ quản lý
kinh tế - xã hội. Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản
của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển. Vì thế trình độ phát triển cao
của văn hoá là mục tiêu phấn đấu của sự phát triển. Mặc dù trên thực tế có sự
khác biệt phấn đấu của sự phát triển. trong mỗi khía cạnh của nội dung văn
Nhóm G9
8
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
hoá giữa các dân tộc, song điều đó không có trở ngại cho sự giao lưu kinh tế
giữa các quốc gia và thường tìm được sự hoà hợp.
Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững thì đầu tư cho
sự nghiệp phát triển văn hoá phải được coi là những đầu tư cần thiết và đi
trước một bước so với đầu tư sản xuất.
2.2.Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
Các nhân tố này tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía
cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.
Thể chế được biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng
đồng nhằm điều chỉnh các mới quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích
của cộng đồng đătj ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu
phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp,
các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện.
Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để
đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện
thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại một
thể chế không phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá
vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái,
khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị, xã hội. Một thể

truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, khắc phục được xung đột và mẩt ổn
định chung của cộng đồng. Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
tăng trưởng và phát triển.
2.4.Cơ cấu tôn giáo.
Vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người đều
theo một tôn giao. Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo. Các dân tộc ít người
ít tiếp xúc với thế giới hiện đại thường tôn thờ các thần linh tuỳ theo quan
niệm .Mỗi tôn giáo còn chia ra làm nhiều giáo phái.Ngoài ra còn có nhiều đạo
giáo riêng mà chỉ có một số dân tộc tôn thờ. Mỗi đạo giáo có những quan
niệm, triếy lí tư tưởng riêng, bám sâu vào cuộc sống của dân tộc. Những ý
thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự phát triển kinh tế xã hội.
Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ của xã
Nhóm G9
10
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
hội tuỳ theo mức độ, song có thể là sự hoà hợp , nếu có chính sách đúng đắn
của Chính phủ.
2.5. Sự tham gia của cộng đồng
Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác dụng tương hỗ lẫn
nhau. Sự phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân
chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội. Ngược lại, về phía mình sự tham gia
của cộng đồng là nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tại
cho phát triển kinh tế, xã hội. Các nhóm cộng đồng dân cư tham gia trong
việc xác định các mục tiêu của chương trình, dự án phát triển quốc gia, nhất là
mục tiêu phát triển các địa phương của họ, tham gia trong quá trình tổ chức
thực hiện, kiểm tra giám sát các hoạt động phát triển tại cộng đồng và tự quản
lý các thành quả của quá trình phát triển. Đó chính là yếu tố cần thiết cho một
xã hội phát triển nhằm tạo dựng sự nhất trí cao, tính hiệu quả và sự thích ứng,
ổn định trong thực hiện mục tiêu phát triển, đồng thời khích lệ được tiềm
năng của mọi cá nhân và cả cộng đồng vào trong quá trình phát triển kinh tế,

Nhờ kinh tế tăng trưởng,lượng lao động được thu hút nhiều,thất nghiệp
giảm,tỷ lệ nghèo giảm nhanh. Đến nay,có gần 4 triệu hộ nghèo và 1,7 triệu
người có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với nguồn vốn thuộc 10 chương
trình tín dụng ưu đãi của nhà nước,góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ
18%(2006) xuống còn 14,7% năm 2007.
Thứ ba: Tăng trưởng kinh tế đạt ở cả 3 nhóm ngành: nông-lâm
nghiệp-thủy sản;công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Trong đó dịch vụ được
xem là điểm sáng nhất. Nếu như năm ngoái khu vực này tăng trưởng với mức
Nhóm G9
12
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
8,29% thì năm nay đạt 8,68%. Cơ cấu đóng góp trong GDP củng nâng từ mức
38,08% năm 2006 lên 38,14% trong năm 2007.
Tỷ trọng đóng góp của CN-XD trong GDP cũng cải thiện hơn năm
2006 chiếm 41,61%(2006:41,52%) .tốc độ tăng trưởng của khu vực này đạt
10,6%.
Khu vực nông nghiệp gặp khó khăn do thiên tai và dịch bệnh,song
không sa sút so với năm 2006. tốc đọ tăng trưởng 3,41% .tuy nhiên tỷ trọng
đọng góp GDP giảm từ 20,4%(2006) xuống 20,25%(2007).
II. Nhân tố tác động đến sự tăng trưởng
1. Nhân tố kinh tế
1.1. Các nhân tố tác động đến tổng cung
1.1.1. Vốn
Trong những năm gần đây,vốn được xem là nhân tố đóng góp nhiều
nhất vào tăng trưởng kinh tế VN . Nói một cách khác, những thành tựu tăng
trưởng kinh tế của đất nước phần nhiều xuất phát từ khả năng huy động các
nguồn vốn trong và ngoài nước.
Trong những năm qua,môi trường đầu tư ở nước ta đã được cải thiện
tích cực.Hệ thống cơ chế,chính sách,pháp luật về tài chính đã từng bước được
đổi mới theo hướng tạo cở sở sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó nhà nước

hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo nên sức hút mạnh mẽ cho đầu tư của khu
vực tư nhân.
c)vốn đầu tư thông qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng
thơi gian qua,các ngân hàng thương mại VN đã có những bước phát
triển vượt bậc về số lượng,quy mô,thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm thanh
Nhóm G9
14
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
toán và dẫn vốn trong nền kinh tế,đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới kinh
tế,góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn 2001-2005,vốn đầu tư thông qua kênh trung gian tài
chính(hệ thống ngân hàng) vào nền kinh tế chiếm trung bình từ 20-22% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội. Bình quân tăng trưởng huy động vốn giai đoạn 2001-
2005 đạt khá cao,từ 20-25% hàng năm.
d)vốn nước ngoài
Viêc gia nhậpTổ chứcThương mại thế giới (WTO) của nước ta, ngoài
nhiều mục tiêu khác, thì việc thu hút các nguồn vốn đâù tư nước ngoài là một
trong những mục tiêu quan trọng. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đã nhận ra
việc tăng tốc đầu tư vào Việt Nam là “trông giỏ bỏ thóc”.
Sự tăng tốc đầu tư nước ngoài vào VN được thể hiện ở cả ba nguồn,
bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp, nguồn vốn hỗ trợ phát triễn chính thức
và nguồn vốn đầu tư gián tiếp.
+vốn đầu tư trực tiếp-FDI
Ngay từ khi chỉ mới nghe tin VN chuẩn bị gia nhập WTO đã có dấu
hiệu khởi sắc,năm 2006 đã đạt kỷ lục cả về lượng vốn đăng ký(10,2 tỉ
USD),cả về lượng vốn thực hiện(4,1 tỉ USD) Với chỉ 2 tháng đầu năm
2007,đă có nhiều dự án lớn được đề xuất.Như dự án xây dựng khách sạn,
trung tâm hội nghị, văn phòng ,căn hộ cao cấp tại Hà Nội của tập đoàn
Gamuda(Malaysia) với số vốn 1 tỉ USD; dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện
công suất 2.640 MW và 2 cảng trung chuyển container quóc tế Vân Phong

USD ,chiếm gần 1/3 tổng giá trị vốn hóa thị trường (khoảng 14 tỉ USD,bằng
23% GDP).Tới đay , khi có nhiều công ty đại gia được cổ phần hóa và niêm
yết lên sàn,số vốn này sẽ tiếp tục chảy vào.
Bên cạnh những nguồn vốn nêu trên,còn có 1 nguồn không kém
phần quan trọng đó là nguồn kiều hối. Nhiều hội thảo doanh nhân Việt
Kiều ,các buổi họp mặt của các hội người VN ở nước ngoài đã góp phần của
Việt Kiều với quê hương đất nước. Cộng đồng người Việt có cống hiến cho
đất nước đang được dành nhiều ưu đãi và được khuyến khích mở rộng kinh
Nhóm G9
16
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
doanh tại VN.Đó là định hướng nhất quán và đang được triển khai thực hiện
từ trung ương đến địa phương.
Việt Nam có những hạn chế trong trong việc huy động vốn cho tăng
trưởng kinh tế.
− Việc cải thiện môi trường đầu tư chưa đạt được kết quả như chúng
ta mong muốn.
− Nhiều câu hỏi đặt ra vẫn chưa tìm được câu trả lời xác đáng : Tại
sao môi trường đầu tư đã được cải thiện mà nguồn vốn tiềm ẩn trong dân cư
và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chưa huy động nhiều cho đầu
tư? Tại sao vốn FDI vẫn không vào nhiều so với các nước khác trong khu
vực? Điều đó phải
chăng do môi trường đầu tư ở nước ta vẫn chưa thực sự hấp dẫn hoặc là
cơ chế chính sách còn bất cập.
Vì vậy chúng ta cần phải cố gắng hơn trong việc cải thiện môi trường
này.
1.1.2. Lao động
Việt Nam với một nguồn lao động dồi dào, một đội ngũ dân số vào loại
trẻ: đã đóng góp một phần quan trọng tới sự tăng trưởng chung của nền kinh
tế. Nhiều nhà kinh tế thế giới cho rằng: dân số Việt Nam có “cơ cấu vàng”

+ Tài nguyên ngư nghiệp:Hiện nay, chúng ta có khoảng 1 triệu ha mắt
nước nội địa, 1 triệu ha mặt nước lợ-mặn, trên 3200 km bờ biển với diện tích
lãnh hải, khoảng 1 triệu km
2
. Đất nước ta có nhiều loại thủy hải sản phong
phú, có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, mực, rong biển….
Cho đến nay, chúng ta đã xác định được trên 2000 loài cá biển với trữ
lượng đánh bắt có thể lên tới 1,4-1,5 triệu tấn/năm. Đặc biệt với đặc điểm bờ
biển trải dài, Việt Nam có tiềm năng to lớn về phát triển du lịch biển, với
những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến
như Vịnh Hạ Long (2 lần UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
và đã được nằm trong danh sách đề cử kỳ quan thiên nhiên thế giới) Vịnh Nha
Trang- 1trong những vịnh đẹp nhất hành tinh, bãi biển Đà Nẵng…
Nhóm G9
18
Tăng trưởng kinh tế và các nhân tố của tăng trưởng.
Về kinh tế biển và vùng ven biển, theo tính toán của cơ quan chức năng
năm 2000, GDP của nền kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp 39% GDP
của cả nước, năm 2005 của du lịch biển chiếm khoảng 17-20%
+ Việt Nam cũng đánh giá là nước có tài nguyên khoáng sản khá
phong phú. Qua kết quả điều tra địa chấ, thăm dò khoáng sản đã phát triển
gần 5000 mỏ quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau. Công nghiệp khai thác
khoáng sản ở Việt Nam mặc dù còn kém phát triển nhưng cũng đã góp phần
quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần
đầy nhanh quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Than có trữ lượng hàng trăm tỷ tấn, sắt khoảng 1,2 tỷ tấn, booxxit 6,6
tỷ tấn …
Đặc biệt trong thời gian vừa qua dầu khí đã đóng góp rất lớn vào sự
tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ngoài ra còn có tài nguyên rừng và đất đai….
1.1.4.Tác động của yếu tố công nghệ - kỹ thuật đến tăng trưởng

nghiệp là các yếu tố mang tính chất quyết định.
a/ Về các tổ chức R&D:
Cho đến nay trên 60% tổng số chính sách nghiên cứu khoa học và tổ
chức R&D ở Việt Nam là thuộc sở hữu nhà nước.
Số lượng tổ chức R&D và cơ cấu theo sở hữu:

Sở hữu
2000 2001 2004
Số
lượn
g
Tỉ lệ
Số
lượn
g
Tỉ lệ
Số
lượn
g
Tỉ lệ
Khu vực nhà nước
-Các bộ, ngành
-Các trương đại
học
-Doanh nghiêp nhà
nước
517 60,61 661 58,13 688 61,37
342 40,09 423 40,25 481 42,91
120 14,06 129 12,27 144 12,85
55 6,46 59 5,61 63 5,62

các nước phát triển là >2% của GDP.
Nguồn ngân sách cho khoa học công nghệ đã ít lại được phân bổ vẫn
theo cơ chế cấp phát, dàn trải và tài trợ chưa có muc tiêu, tiêu chí rõ ràng,
Nhóm G9
21
Tng trng kinh t v cỏc nhõn t ca tng trng.
cha t yờu cu rừ rng v s lng v cht lng ca tng sn phm khoa
hc cụng ngh c th i vi tựng t chc s dng ngõn sỏch.
c/ V ngun lc i mi cụng ngh ca doanh nghip nh nc:
Theo ỏnh giỏ nng lc cụng ngh ca cỏc doanh nghip Vit Nam l
rt yu, v u t ca doanh nghip cho i mi cụng ngh cũn rt thp, nht
l trong lnh vc cụng ngh, ni cú nhu cu cao v i mi cụng ngh. Theo
s liu tng cc thụng kờ nm 2003 thỡ ch cú khong 8% s doanh nghip cú
cụng ngh tiờn tin, 75% cú cụng ngh trung bỡnh v lc hu.
Cụng ngh ca cỏc doanh nghip ch yu c nhp khu t nhiu
nc khỏc nhau nờn thiu ng b. Trong khi ú chuyn giao cụng ngh t
cỏc cụng ty a quc gia cho cỏc cụng ty con trong nc cũn rt hn ch.
Theo kt qu iu tra 93 doanh nghip (gm 60 doanh nghip cú vn u t
nc ngoi v 33 doanh nghip trong nc, do Vin Nghiờn cu qun lý kinh
t trung ng thc hin trong nm 2004, ti 70% doanh nghip cú vn u t
nc ngoi cho rng h ớt tip cn c cụng ngh t cụng ty m.
Nhỡn chung, s yu kộm v nng lc R&D, v u t i mi cụng
nghờ, v tip thu cụng ngh mi ca doanh nghip trờn y ó gii thớch phn
no cho úng gúp thp ca tin b cụng ngh vo tng nng sut lao ng ca
doanh nghip núi riờng v ca c nn kinh t núi chung.
Sỏch : tng trng kinh t Vit Nam 15 nm (1991-2005) t gúc
phõn tớch úng gúp ca cỏc nhõn t sn xut.
Ch biờn: Lờ Bỏ Xuõn Nguyn Th Tu Anh.
Nh xut bn Khoa hc v k thut.
1.2. Cỏc nhõn t tỏc ng n tng cu

dựng tăng 17.12&; các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng từ 1.69 đến
7.27%. Giá tiêu dùng bình quân năm 2007 so với năm 2006 tăng 8.3% trong
đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,16% ; nhà ở vật liệu xây dựng
tăng 11.01%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,18 đến 6,15%
Với tốc độ tăng nhanh của mức giá thì mức tăng thu nhập không đủ
bù với mức tăng lên của giá và sự tăng nhanh của tiêu dùng cũng không đủ cải
thiện đợc phần nào mức sống của dân c. Theo TCTK, tiêu dùng cuối cùng
thông qua mua bán trên thị trờng tăng nhanh, thể hiện bằng tỷ lệ giữa tổng
mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng so với tổng tiêu dùng cuối cùng
nếu năm 2000 mới đạt 68,5% thì đến 2007 đã đạt 86,9%. Tuy nhiên chênh
lệch tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân đầu
ngời giữa các vùng, các tỉnh còn khá lớn. Trong khi bình quân đầu ngời/ năm
của cả nớc là 6,9triệu đồng thì vùng Đông Nam Bộ đạt trên 14,6 triệu dồng,
Nhúm G9
23
Tng trng kinh t v cỏc nhõn t ca tng trng.
còn tất cả các vùng còn lại đạt thấp hơn, trong đó thấp nhất là Tây
Bắc(2,3triệu đồng), tiếp đến là Bắc Trung Bộ (3,4triệu đồng) vùng thấp nhất
chỉ bằng1/3 mức trung bình quân chung của cả nớc v à chỉ bằng 15,9% vùng
cao nhất.
Do vậy,mức giá tăng nhanh dờng nh là một thứ thuế lạm phát làm giảm
mức sống của đại bộ phận dân c, đặc biệt là những ngời hởng lơng cố định và
có thu nhập thấp.
1.2.2. Chi tiêu chính phủ
Chi tiêu của chính phủ đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trởng
kinh tế. Việc cân đối chi tiêu, cơ cấu ngân sách nhà nớc phù hợp là 1 chính
sách tài khoá hiệu quả thúc đẩy tăng trởng kinh tế.Và ngợc lại, một chính sách
táI khoá không hợp lý là yếu tố tác xấu tới tăng trởng kinh tế
Theo TCTK:
Tổng thu NSNN năm 2007ớc tính tăng 16,4% so với năm 2006 ,trong

thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ớc đạt 461.9 nghìn tỷ đồng , bằng 40.4%
GDP ( đạt kế hoach đề ra 40% GDP ) và tăng 15.8% so với năm 2006. Trong
đó , vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoàI tiếp tục tăng khá , ớc tính năm 2007 đạt
20.3 tỷ USD , tăng 69.3% so với năm 2006 và vợt 56.3% kế hoạch cả năm ,
trong đó vốn cấp phép mới là 17.86 tỷ USD. Việt Nam dự kiến tăng tỷ kệ đầu
t lên mức 42% GDP trong năm 2008.
Theo tập đoàn tài chính Citigoup (Mỹ), nền kinh tế Việt Nam sẽ
tiếp tục bùng nổ và các khoản đầu t vào đây sẽ mang vào lợi nhuận 20% năm
2008. Họ cũng cho rằng sự mất giá của đồng USD sẽ giúp các khoản đầu t
tăng thêm 7.5% giá trị và 14% khác nhờ vào sự tăng trởng mạnh mẽ của nn
kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên thúc đẩy tăng trởng nhờ đầu t cũng có những giới hạn
của nó. Chỉ tăng đầu t về mặt số lợng có thể sẽ không đem lại kết quả nh
mong muốn, vì nhiều lý do :
Thứ nhất, hoạt động đâu t ở Việt Nam xuất sắc về mặt số lợng
nhng tơng đối kém về mặt chất lợng. Một nghiên cứu đợc thực hiện năm 2004
của Ngân hàng thế giới (WB) đối với 23 quốc gia cho thấy, Việt Nam đứng ở
vị trí thứ 3 về tỷ lệ đầu t so với GDP, nhng chỉ xếp thứ 17 về mặt chất lợng và
hiệu quả đầu t.
Thứ hai, một khi GDP bình quân đầu ngời của Việt Nam đã vợt
qua một ngỡng nhất định nào đó, cộng đồng các nhà tàI trợ sẽ giảm mức hộ
trợ đối với Việt Nam. điều này có thể xảy ra vào năm 2010 và Việt Nam cần
tích cực chuẩn bị cho giai đoạn này bằng cách nhấn mạnh vào chất lợng
nguồn vốn đầu t.
1.2.4. Xuất nhập khẩu với tăng trởng kinh tế
Mô hình phát triển hớng ngoại thành công của các nớc Đông á
trong những thập kỷ qua là minh chứng hùng hồn cho vai trò của xuất khẩu
nh là một động lực của tăng trởng kinh tế ở khu vực này
Nhúm G9
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status