Bình luận về mô hình phát triển của Việt Nam trong thời kỳ qua dưới góc độ vai trò của các yếu tố đầu vào đối với tăng trưởng và đưa ra khuyến nghị đối với sự thay đổi về mô hình tăn - Pdf 65

LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một giai đoạn
nhất định (thường là 1 năm). Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng hàng đầu,
có liên quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, lạm phát, nghèo
đói,… Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét tăng trưởng kinh tế (TTKT) trên giác độ số
lượng thu nhập tăng thêm thì chưa đủ. Thực tế cho thấy nhiều “loại” tăng trưởng
không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái lại còn
để lại những hậu quả không tốt mà các thế hệ tương lai phải gánh chịu. Năm 1996,
UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo, đó là:
•Tăng trưởng không việc làm: Tăng trưởng không tạo ra việc làm mới.
•Tăng trưởng không lương tâm: Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho 1 bộ phận
nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện.
•Tăng trưởng không tiếng nói: Tăng trưởng không gắn với cải thiện dân chủ.
•Tăng trưởng không gốc rễ: Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái.
•Tăng trưởng không tương lai: Tăng trưởng nhưng huỷ hoại môi trường sống
của con người.
Chính vì lẽ đó, nghiên cứu TTKT bên cạnh sự gia tăng về số lượng, còn cần và
nhất thiết phải quan tâm đến khía cạnh chất lượng.
Vậy, chất lượng tăng trưởng là gì?
Chất lượng tăng trưởng phản ánh nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, duy trì
trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền tự do cho mỗi người.
Có thể tiếp cận chất lượng TTKT trên nhiều giác độ khác nhau như: theo nhân
tố đầu vào, theo kết quả đầu ra, theo cấu trúc ngành kinh tế, theo năng lực cạnh
tranh,… Bài viết này tập trung nghiên cứu chất lượng TTKT theo các nhân tố đầu
vào. Nghiên cứu về sự đóng góp của các yếu tố đối với tăng trưởng kinh tế có ý
nghĩa về nhiều mặt, không những xác định vị trí của từng yếu tố để có kế hoạch
khai thác, mà còn có ý nghĩa xác định được yếu tố tiềm ẩn gia tăng lạm phát.
Trên giác độ các yếu tố đầu vào, một nền kinh tế đạt được tăng trưởng dựa chủ
yếu vào 3 nhân tố chính: vốn (K), lao động (L) và năng suất các nhân tố tổng hợp
(TFP - Total Factor Productivity). Hàm sản xuất có dạng:Y = F (K,L,TFP) , trong

7.79
8.43
8.17
8.48
6.18
5.32
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
%
và 53,4% vào năm 2004. WB đã khẳng định tỷ lệ TTKT tăng thêm 1% kéo theo
giảm 1,3% số hộ nghèo của VN là rất ấn tượng. Ngoài ra, các vấn đề xã hội khác
như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường cũng đạt được nhiều thành tựu mà các nước
có cùng trình độ phát triển kinh tế như VN khó có thể đạt được.
Vậy các yếu tố đầu vào đã đóng góp như thế nào để có được tốc độ tăng tưởng
kinh tế cao như vậy?
Bảng 1: Cấu trúc đầu vào của tăng trưởng kinh tế Việt Nam (%)

Nguồn: CIEM và Thời báo kinh tế Việt Nam
Từ sự đóng góp như trên, có thể rút ra một số nhận định như sau:
Một là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua dựa chủ yếu vào sự
đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư và lên xuống là do biến động về quy mô

Ta có thể nhận thấy một bất cập được thể hiện ngay trong các yếu tố tăng
trưởng theo chiều rộng. Việt Nam có lợi thế về lao động hơn là lợi thế về vốn,
trong khi đó, đóng góp của vốn vào tăng trưởng giai đoạn 2000-2005 gấp 3 lần,
giai đoạn 2006-2007 gấp 4 lần so với đóng góp của yếu tố lao động.
Ba là, sự đóng góp hạn chế của yếu tố TFP vào tăng trưởng GDP của Việt
Nam.
Bảng : Nguồn tăng trưởng ở châu Âu và Nhật Bản thời kỳ 1950-1973 và ở Đông
Á thời kỳ 1960-1994 (% một năm).
Thời kỳ và
nền kinh tế
Vốn Lao động TFP GDP
1950-1973
Pháp 1,6 0,3 3,1 5,0
Italia 1,6 0,2 3,2 5,0
Nhật Bản 3,1 2,5 3,6 9,2
Đức 2,2 0,5 3,3 6,0
1960-1994
Trung Quốc 3,1 2,7 1,7 7,5
Hồng Kông 2,8 2,1 2,4 7,3
Indonesia 2,9 1,9 0,8 5,6
Hàn Quốc 4,3 2,5 1,5 8,3
Malaixia 3,4 2,5 0,9 6,8
Thái Lan 3,7 2,0 1,8 7,5
Nguồn: IMF paper, Vol 26, N2, June 1999
Bảng 1. cho thấy, yếu tố công nghệ đã đóng vai trò quyết định đến tăng trưởng
GDP của các nước phát triển ngay từ thập niên 50 của thế kỷ trước (từ 40-60%),
trong khi đó các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á đến thập niên 90, tăng
trưởng GDP vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào sự sẵn có của các yếu tố tăng trưởng
theo chiều rộng, yếu tố TFP chỉ đóng góp khoảng 10-15%.
Việt Nam cũng là một ví dụ cho các nước đang phát triển. Nếu tính cả sự đóng

Phi-lip-pin 71 71 87
Xin-ga-po 7 5 3
Thái Lan 28 34 36
Trung Quốc 34 30 29
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của WEF
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) trong Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu 2009 đã
xếp năng lực cạnh tranh của VN thứ 75/133 quốc gia, tụt 7 hạng so với năm 2007,
tụt 5 hạng so với năm 2008. Xét theo từng tiêu chí, tình hình cụ thể như sau: thể
chế kinh tế xếp thứ 74; kết cấu hạ tầng xếp thứ 83; kinh tế vĩ mô xếp thứ 53; giáo
dục phổ thông và y tế xếp thứ 56; giáo dục đại học xếp thứ 90; hiệu quả của cơ
chế thị trường xếp thứ 73; công nghệ xếp thứ 85... Nếu so sánh năng lực cạnh
tranh của Việt Nam với một số nước ASEAN, thì Xin-ga-po xếp thứ 3, Thái Lan
xếp thứ 36, In-đô-nê-xi-a xếp thứ 54, Phi-lip-pin xếp thứ 87, Cam-pu-chia xếp thứ
110. Như vậy, Việt Nam chỉ xếp trên Cam-pu-chia. Các nước Lào, Bru-nây, Mi-
an-ma chưa được xếp hạng về năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh thấp và
có xu hướng tụt bậc này cho thấy, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ có
thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do: trình độ công nghệ hiện đang sử dụng ở
Việt Nam thấp tương đối so với các nước trong khu vực.
Biểu đồ: So sánh trình độ công nghệ của một số nước Đông Nam Á (năm
2005)
Nguồn: IPS, kế hoạch tổng thể bảo vệ môi trường ngành công nghiệp
Ở Việt Nam khoảng 60% là các công nghệ có trình độ thấp, ngang với tỷ lệ sử
dụng công nghệ trung bình và công nghệ cao của một số nước trong khu vực
Đông Nam Á.
Đó là do ở Việt Nam trình độ kỹ thuật, nhất là trang thiết bị, công nghệ sản
xuất còn lạc hậu, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản
xuất nông nghiệp, yếu kém về năng lực quản lý, trình độ và kỹ năng của người lao
động.
Phần lớn các doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status