Tài liệu Tiểu luận triết học - nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với chiến lược phát triển giáo dục - Pdf 10

Tiểu luận Triết học

Tiểu luận triết học: Nhân tố
con người trong lực lượng
sản xuất với chiến lược phát
triển giáo dục
1
Tiểu luận Triết học
Mục lục
1
M c l cụ ụ 2
L I M UỜ ỞĐẦ 3
1. Khái ni m LLSX.ệ 4
a. nh ngh a v tính ch t LLSX.Đị ĩ à ấ 4
b. C u trúc LLSX.ấ 6
c. Tính ch t c bi t c a LLSX hi n i.ấ đặ ệ ủ ệ đạ 7
2. Vai trò c a con ng i trong LLSX.ủ ườ 8
a. Khái ni m con ng i.ệ ườ 8
b. Con ng i l nhân t trung tâm có tính quy t nh LLSX.ườ à ố ế đị 10
II.CHI N L C PHÁT TRI N GD T NGU N NHÂN L C THEO H NG CNH, H H Ế ƯỢ Ể Đ Ồ Ự ƯỚ Đ Ở
VI T NAM TRONG TH I KÌ QUÁ .Ệ Ờ ĐỘ 12
1. Tính t t y u khách quan v n i dung CNH, H H c a Vi t Nam trong th i kí quá ấ ế à ộ Đ ủ ệ ờ
.độ 12
a. Tính t t y u khách quan n c ta ph i CNH, H H.ấ ế ướ ả Đ 12
b. N i dung CNH, H H n c ta.ộ Đ ướ 13
2. Chi n l c phát tri n GD T ngu n nhân l c n c ta.ế ượ ể Đ ồ ự ướ 15
a. Vai trò v th c tr ng ngu n nhân l c n c ta.à ự ạ ồ ự ướ 15
b. Quan i m c a ng v phát tri n GD T ngu n nhân l c.để ủ Đả ề ể Đ ồ ự 16
K T LU NẾ Ậ 19
Em xin chân th nh c m n!à ả ơ 20
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 21

LLSX.
1. Khái niệm LLSX.
a. Định nghĩa và tính chất LLSX.
LLSX là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật đựơc sử dụng trong
các quá trình sản xuất của xã hội tức là trong quá trình con người cải tạo, cải
biến giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình.
Như vậy, xét về mặt tính chất thì khái niệm LLSX, nó phản ánh một
số tính chất căn bản sau:
Trước hết, nó phản ánh quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Là động vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con
người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới tự nhiên.
Con ngưòi phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời
sống tự nhiên như thức ăn, thức uống, nhà để ở. Theo một số nhà nhân học
khẳng định nhánh người bắt đầu hình thành rõ cách đây khoảng 10 triệu năm
bắt đầu từ “vượn người ”. Khi đó vượn người đã biết sử dụng gậy gộc, đá,
xương động vật làm công cụ và bắt đàu biết chế tạo công cụ lao động thô sơ
cũng như dùng lửa. Nhưng cuộc sống của loài vượn vẫn theo quy luật sinh
vật : sống hoà lẫn vào thiên nhiên, sinh sống hoàn toàn tuỳ theo bản năng
vốn có trong cơ thể và những thứ sẵn có trong tự nhiên, có thể nói là hoàn
toàn phụ thuộc vào tự nhiên.Theo thời gian vượn người tiến hoá thành người
khéo, người đứng thẳng, người khôn và con người hiện đại ngày nay. Nhưng
sự tiến hoá ấy không làm thay đổi mối quan hệ mật thiết giữa con người với
tự nhiên. Ngày nay, con người vẫn đang chinh phục tự nhiên bằng nhiều
hình thức và phương pháp khác nhau. Như vậy, ngay từ thời kỳ sơ khai nhất,
con người đã biết dựa vào những thứ vốn có trong tự nhiên để cải biến nó
4
Tiểu luận Triết học
theo nhu cầu sinh tồn và phục vụ nhu cầu sống của mình. Do đó ta thấy rõ
một sự thật tất yếu khách quan là con người không thể tồn tại nếu không có
mối quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ với tự nhiên.

của con người hay những yếu tố sẵn có trong tự nhiên. Nói cách khác trong
quá trình sản xuất vật chất không thể không cần đến LLSX.
b. Cấu trúc LLSX.
LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất.
Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con
người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội.
Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản
xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động
trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất
ra của cải vật chất.
Bước kinh tế tri thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt :
. Trí lực đóng vai trò chủ đạo, tức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động trí óc
đông đảo hợp thành chủ thể trong đội ngũ những người lao động.
. Những nhân tố mới thúc đẩy LLSX sẽ được phát triển rộng khắp.
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Con
người không thể SXVC mà không cần đến những yếu tố sẵn có trong tự
nhiên như đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối
tượng lao động. Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao
động biểu hiện chủ yếu ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ,
6
Tiểu luận Triết học
cuối cùng là hàm lượng tri thức được kết tinh trong sản phẩm ngày càng
nhiều.
Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con
người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật
chất. Thông qua các công cụ của họ đã chứng tỏ họ có hoạt động lao động
và đây cũng chính là ranh giới tách người ra khỏi giới sinh vật nói chung,
thế giới động vật nói riêng.
c. Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại.
Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to

thành người điều đó được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của
Đacuyn. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý,
các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con
người.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản
chất con người . Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới
loài vật là mặt xã hội. Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản
xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành
và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động
là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình
thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
8
Tiểu luận Triết học
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển của con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau
nhưng thống nhất với nhau. Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất
hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã
hội. Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành các nhu cầu về
sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở,
nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu
hưởng thụ các giá trị tinh thần.
Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con
người còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với
loài vật. Hai mặt trên thống nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên- xã
hội hay một thực thể song trùng.
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người Mác đã nêu trong luận
đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbăc: “bản chất con người không phải là
một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”.
Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan

có hiệu quả mọi tài sản vô giá ấy. Trên phương diện đó vai trò nhân tố con
người lao động trong LLSX là yếu tố động nhất sáng tạo nhất của quá trình
sản xuất. Nhân tố trung tâm của con người chính là sức lao động bao gồm
thể lực và trí lực. Không có người lao động nào trong quá trình sản xuất vật
chất lại không cần đến lao đông thể lực hay lao động cơ bắp. Chính những
người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và
kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao
10
Tiểu luận Triết học
động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng
với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con
người không ngừng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người ngày
càng phát triển. Trong quá trình đó không những con người sử dụng trí tuệ
nội tại của mình mà còn được kế thừa những kinh nghiệm qua học hỏi lẫn
nhau giữa những người lao động cho nên có thể nói kinh nghiệm cũng là
một LLSX. Kinh nghiệm được tích luỹ dần trở thành kỹ năng và cao hơn
nữa nó có thể trở thành tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ.
Vai trò con người trong thời đại mới là cần hiểu sâu sắc những giá trị
lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng
tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc
gia….Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng
xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của CNXH.
Hơn nữa, các nhân tố khác đều là sản phẩm của người lao động . Chỉ
có nhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất làm
cho sản xuất ngày càng phát triển với năng suất và chất lượng cao, thay đổi
quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác. Công cụ lao động thô sơ hay
hiện đại, xấu hay tốt, phụ thuộc trực tiếp vào nhân tố con người. Giới tự
nhiên nói chung và đối tượng lao động nói riêng, chỉ là những vật vô tri vô
giác mà thôi. Nó chỉ có ý nghĩa khi trở thành sản phẩm phục vụ nhu cầu của

công nghiệp cơ khí hoá đã tạo cái cốt cho chủ nghĩa tư bản tồn tại. Nó tự
khẳng định mình là một phương thức sản xuất thống trị trong lịch sử. Việt
Nam quá độ lên CHXH bỏ qua giai đoạn tư bản thiếu một tiền đề VCKT mà
12
Tiểu luận Triết học
chủ nghĩa tư bản để lại. Mặt khác Việt Nam là một nước có nền kinh tế kém
phát triển, chưa có nền sản xuất lớn dựa trên nền tảng công nghiệp lớn. Do
đó để xây dựng CNXH tất yếu nước ta phải CNH, HĐH.
Gắn CNH với HĐH làm cho kinh tế nước ta dần đạt tới trình độ tiên
tiến của thế giới. Thời đại ngày nay cách mạng khoa học công nghệ là một
đặc trưng, khoa học công nghệ trở thành LLSX trực tiếp, nó vừa là nền tảng
vừa là động lực của quá trình CNH. Đồng thời gắn CNH với HĐH sẽ tránh
được nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển.
Hơn nữa CNH là cần thiết và có nhiều tác dụng. Đó là :
. Thúc đẩy LLSX phát triển cao dẫn đến năng suất lao động cũng cao.
. Củng cố quan hệ sản xuất mới đảm bảo cho sự thắng lợi hoàn toàn trong
công cuộc xây dựng CNXH nước ta.
. Tạo ra những điều kiện cho sự phát triển văn hoá giáo dục. Bản thân sự
nghiệp xây dựng cơ sở VCKT đòi hỏi quần chúng phải có trình độ giác nhộ
cách mạng, trình độ văn hoá, trình độ khoa học ngày càng cao.
. Tạo ra cơ sở cho việc phát triển kinh tế đối ngoại.
. Để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ phải có một nền công nghiệp
hiện đại tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an toàn lương thực.
. Nó là cơ sở vật chất cho củng cố an ninh quốc phòng, độc lập dân tộc và
CNXH được bảo vệ vững chắc.
b. Nội dung CNH, HĐH nước ta.
Thực chất CNH, HĐH là chuyển nền kinh tế từ lao động thủ công
sang lao động cơ khí hay nói cách khác là tiến hành trang bị kỹ thuật hiện
đại cho nền kinh tế quốc dân. Không tiến hành cách mạng kỹ thuật thì không

a. Vai trò và thực trạng nguồn nhân lực nước ta.
Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn
lực khoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là
quyết định nhất bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả
khi nguồn lực con người được phát huy. Những nguồn lực khác ngày càng
cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú.
Các lĩnh vực khoc học khác nhau có thể hiểu nguồn lực theo những
cách khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố
mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau
tạo nên sự phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó. Từ cách hiểu như
vậy, nguồn lực con người là những yếu tố có thể huy động, sử dụng để thúc
đẩy nền kinh tế đất nước và sự phát triển xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn
lực con người là nói tới con người với tư cách là chủ thể của quá trình sáng
tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội.
Tỷ trọng (%) các khối kinh tế trong GDP
Ngành
Năm
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
1998 25,75 33,35 41
2010 17 40 43
[Nguồn : Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010, trang 7]
Nói đến nguồn lực con người là nói đến chất lượng và số lượng nguồn
nhân lực. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thực trạng đó ở nước ta như
sau:
• Cơ cấu ngành còn bất hợp lý.
15
Tiểu luận Triết học
• Cơ cấu vùng miền chưa hợp lý. Bình quân chung nước ta là 118
sinh viên/ 1 vạn dân, nhưng Tây Bắc là17 sinh viên/ 1 vạn dân.
• Hình thức đào tạo: - Chính quy : 509637

Phát triển giáo dục mần non. Củng cố vững chắc kết quả xoá mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học tiến hành phổ cập trung học cơ sở trong cả
nước phần lớn thanh thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và vùng nông thôn
đang được học hết trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và được
đào tạo nghề. Điều chỉnh cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng,
cơ cấu dân tộc…trong hệ thống GDĐT phù hợp với yêu cầu học tập của
nhân dân và phát triển kinh tế xã hội và các mục tiêu của chiến lược. Chú
trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông. Mở rộng
đào tạo công nhân kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ.
Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học sau đại học tập trung đầu
tư xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia ngang tầm khu vực
tiến tới đạt trình độ quốc tế. Phát triển giáo dục thường cuyên và giáo dục từ
xa.
Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ
chương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu mới
của sự nghiệp páht triển giáo dục trong thế kỷ XXI.
c. Mục tiêu và phương hướng phát triển GDĐT nguồn nhân lực nước ta.
Phát triển toàn diện con người cần đạt tới những giá trị xã hội sau đây
• Con người có bản lĩnh, lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sứ
mệnh CNH, HĐH. Con người cần có tác phong công nghiệp.
17
Tiểu luận Triết học
• Con người có sức khoẻ cường tráng.
• Có nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc tiếp thu tinh hoa văn minh nhân
loại, sống nhân ái, tình nghĩa.
• Có đủ trí tuệ, đầu óc duy lý của thời đại và kĩ năng lao động lành
nghề.
• Có tinh thần công dân sống và làm việc theo pháp luật, thực hiện đúng
quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
Ngoài ra ta cần chú ý đến sự công bằng trong giáo dục, chú ý đến vai

người luôn sáng tạo và hành động. Thứ hai, phải có các nguồn lực và dành
cho mỗi người một khả năng lựa chọn và huy động tổ chức các nguồn lực
thực hiện có hiệu quả mục đích đã đề ra. Tóm lại, điều kiện nảy sinh và phát
triển nhân tài là phải có một nền giáo dục tiên tiến có sự kết hợp hài hoà
giữa ba yếu tố nhà trường - gia đình - xã hội cùng quan tâm đến thế hệ trẻ và
giáo dục.
KẾT LUẬN
Ngày nay, với cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại, đã dần
dần đi đến khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi
sự phát triển. Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của
trí tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người.
Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta phải coi nhân
tố con người là nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như
chuẩn bị tốt nguồn nhân lực có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công nghệ,
19
Tiểu luận Triết học
ý thức và tâm hồn thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực
hiện sự chuyển mình từ một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các cuộc đại thắng của dân đã đi vào lịch
sử suy cho cùng là thắng lợi của chính con người Việt Nam. Bài học đó còn
nguyên giá trị cho tới ngày nay. Với chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn
và khoa học của Đảng, với trí tuệ và phẩm chất của con người Việt Nam,
chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Với kiến thức và sự cố gắng, em đã hoàn thành bài tiểu luận song
không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được lời nhận xét và
đánh giá của thầy để em rút kinh nghiệm trong những bài sau.
Em xin chân thành cảm ơn!
20
Tiểu luận Triết học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status