Tài liệu Đề tài: “Thị trường tiền tệ Việt Nam – thực trạng và giải pháp” - Pdf 10

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

Tiểu luận
Thị trường tiền tệ Việt Nam – thực trạng và
giải pháp
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
Phần 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM 8
Phần 3: 16
MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TIỀN TỆ VIỆT NAM ĐẾN 2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2015 16
1. Mục tiêu, định hướng: 16
1.1. Mục tiêu 16
KẾT LUẬN 19
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn liền với
tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước. Cho đến nay, mặc dù thị trường tiền tệ
Việt Nam chưa thực sự phát triển, nhưng nó đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết
cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế. Đặc biệt, thị trường đã thực hiện chức năng
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 2
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
cân đối, điều hòa nguồn vốn giữa các ngân hàng, góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng đảm
bảo khả năng thanh toán, hoạt động an toàn và hiệu quả. Thông qua các hoạt động trên thị
trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện điều tiết tiền tệ nhằm
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Có thể khẳng định rằng, thị trường tiền tệ Việt Nam đã
góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là quá trình chuyển đổi
sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh tế

Việt Nam giai đoạn 7/1993 – 5/2008. Trong đó, tập trung vào các ngiệp vụ thị trường chủ
yếu: thị trường liên ngân hàng, thị trường mở, thị trường đấu thầu trái phiếu chính phủ.
Phần 3: Mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam từ nay
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2015: Phần này đưa ra các mục tiêu, định hướng và giải
pháp phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam cần hoàn thiện đến năm 2010 và định hướng
phát triển đến năm 2015.
Những người tham gia bài viết này gồm:
1. Trần Văn Phước
2. Lê Quốc Khánh
3. Trần Văn Thanh
4. Lê Quốc Thành
5. Nguyễn Xuân Tân
6. Nguyễn Văn Hương
7. Lê Thị Thanh Huyền
8. Nguyễn Chí Linh
9. Phạm Yến Vy
10. Phachantha Aphawhone
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 4
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm thị trường tiền tệ
- “Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn
dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế” (Sử Đình Thành và
Vũ Thị Minh Hằng, 2006: 488).
- Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ
còn ít nên luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị trường
tiền tệ. Theo điều 9, luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) định
nghĩa: “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ
có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và
các giấy tờ có giá khác”.

trường lưu thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ.
- Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phương tiện thanh
tóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ. Thị
trường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng những nhu
cầu về thương mại, đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tạo điều kiện can
thiệp của NHTW nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia.
Công cụ hoạt động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp đồng hoán
đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn (Option)…. nhờ đó đáp ứng
được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị trường ngoại hối trở
nên nhộn nhịp hơn.
3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ
- Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng là hình thức
sơ khai của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữa các NHTM
với các TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các TCTD. Vì vậy, nếu xét theo
chiều ngang, thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM, các TCTD.
Còn nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mối quan hệ giữa NHTW và NHTM
qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu là một công cụ linh hoạt để
NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ.
Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm vi điều tiết
vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị trường đa dạng hơn.
Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:
- Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: NHTW, NHTM, các TCTD khác… Việc đầu tư
nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường này có độ rủi ro thấp, do trong thời gian ngắn giá cả
chứng khoán biến động không đáng kể.
- Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc nhà nước
Thông qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được nguồn vốn ngắn hạn dễ
dàng và chi phí thấp.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 6
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
- Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên

tiền hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 7
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
Phần 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM
Do sự bất ổn định trên thị trường tiền tệ thế giới vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008
mà cụ thể nhất là cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ do giá nhà đất sụt giảm làm cho
đồng USD mất ổn định mà đỉnh điểm của sự mất giá đồng USD là ngày 15/04/2008 tỉ giá
EUR/USD=1,6000 đi kèm với việc đồng USD mất giá là giá dầu thô và vàng liên tục lập
những kỷ lục mới, có lúc vàng tiến đến 1031USD/ounces và dầu đã lập kỷ lục với mức
135USD/thùng đã làm cho lạm phát tăng cao trên toàn thế giới.Mặt khác trong thế giới
ngày nay sự đan xen và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia là không tránh khỏi đã gây
nên những xáo trộn trên thị trường hối đoái của các nước trong đó có Việt Nam.
- Song song với nguyên nhân trên còn có nguyên nhân là do sự yếu kém xuất phát từ
nội tại của nền kinh tế trong điều hành chính sách vĩ mô nền kinh tế thông qua chính sách
tiền tệ mà cụ thể là việc điều hành chính sách tỉ giá có lúc tỉ giá do NHNN công bố xuống
15.700 VND ăn 1 USD và trên thị trường tự do là VND/USD=15.500 trong tháng 02/2008
nhưng đến ngày 27/05/2008 thì mọi chuyện hoàn toàn ngược lại tỉ giá chính thức do ngân
hàng nhà nước công bố là VND/USD16.212 nhưng trên thị trường tự do
VND/USD=17.550.
- Một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng do nhập siêu trong 5 tháng
đầu năm 2008 quá cao 14,4tỉ USD(do có lúc doanh nghiệp xuất khẩu không bán được USD)
cộng với tâm lý của người dân khi lạm phát tăng cao(15,96%) nên đổ xô đi mua USD tích
trữ làm cho thị trường ngoại tệ biến đổi khó lường trong thời gian qua trong khi đó trên thị
trường quốc tế EUR/USD =1,579 tức đồng USD đang mất giá.
1. Thị trường liên ngân hàng
- Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời theo Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho phép các TCTD được thực hiện cho vay và
đi vay lẫn nhau và chính thức hoạt động từ tháng 7/1993. Theo Quyết định số 114/QĐ-
NH14 ngày 21/6/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân
hàng và Quyết định số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung, sửa đổi Quy chế

từng bước đổi mới, hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ, thực hiện vai
trò là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế:
+ “Đến nay, tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM chủ yếu được thực hiện dưới các
hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá. Các
hình thức cho vay theo chỉ định của Chính phủ trước đây (từng chiếm tỷ trọng lớn trong cho
vay tái cấp vốn) đã giảm mạnh qua các năm” (Phùng Khắc Kế, 2006).
+ Cơ sở pháp lý cho các hoạt động nghiệp vụ tái cấp vốn hoàn thiện; thủ tục, quy
trình nghiệp vụ tái cấp vốn được cải tiến theo hướng tinh giản và thuận lợi:
Năm 2003, Luật sửa đổi một số điều của luật NHNN đã cho phép giấy tờ có giá dài
hạn như các loại trái phiếu của Chính phủ được sử dụng trong các giao dịch giữa NHNN và
các ngân hàng; NHNN ban hành đầy đủ các quy chế nghiệp vụ tái cấp vốn. Thời gian xử lý
đề nghị xin vay giảm xuống còn 2 ngày (trước đây 5 ngày).
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 9
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
+ Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu ngày càng được điều hành linh hoạt, phù
hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 2003 đến nay, lãi suất tái
cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu được điều chỉnh dần để hình thành khung lãi suất định
hướng lãi suất thị trường. Cùng với việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu để trở thành lãi suất
sàn, NHNN đã thực hiện phân bổ hạn mức chiết khấu cho từng ngân hàng. Qua đó, nghiệp
vụ chiết khấu được điều hành như một kênh thường xuyên với giá rẻ từ NHNN. Trong khi
đó nghiệp vụ cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá áp dụng lãi suất tái cấp vốn là
mức lãi suất trần để NHNN từng bước thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị
trường.
+ Hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứng kịp
thời nhu cầu thanh khoản của các NHTM, nhất là vào các thời điểm cuối năm và gần Tết
Nguyên đán.
* Những bất cập, tồn tại và hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng thị trường liên ngân hàng vẫn
còn nhiều bất cập, hạn chế cần hoàn thiện. Đó là:
- Số lượng các thành viên tham gia và quy mô giao dịch còn hạn chế và phần lớn là

Theo Thông tư 19/2004/TT-BTC ngày 18/3/2004 của Bộ Tài chính, hiện nay có hai
loại trái phiếu đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là: Tín phiếu kho bạc Nhà nước
và Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (trái phiếu ngoại tệ).
- Thành viên thị trường: Trước đây, số đơn vị được NHNN công nhận thành viên thị
trường đấu thầu Trái phiếu kho bạc là 47 thành viên. Tuy nhiên trong quá trình tham gia, có
một số thành viên đã không tham dự một phiên đấu thầu nào. Sau khi áp dụng Quy chế đấu
thầu Trái phiếu chính phủ (TPCP) theo Quyết định 935/2004/QĐ-NHNN ngày 23/7/2004
và triển khai chương trình đấu thầu TPCP qua mạng, NHNN xem xét và công nhận tổng số
thành viên thị trường đấu thầu TPCP đến nay là 20 thành viên (chi tiết phụ lục 01).
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 11
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
2.1. Kết quả đạt được
- Việc đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua NHNN đã mở ra một kênh huy động vốn với chi
phí thấp cho Ngân sách Nhà nước. Doanh số và tỷ trọng tín phiếu Kho bạc phát hành dưới
hình thức đấu thầu qua NHNN trong tổng doanh số huy động vốn của Kho bạc Nhà nước
tăng qua các năm. Điều này phù hợp với xu thế phát triển thị trường và thông lệ quốc tế.
Bên cạnh đó, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc đã trở thành nguồn cung cấp hàng hóa
chủ yếu cho các giao dịch nghiệp vụ tiền tệ giữa NHNN với các NHTM, nhất là nghiệp vụ
thị trường mở để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc đến nay đã đa dạng hơn trước, gồm 364 ngày, 273 ngày và
182 ngày. Bên cạnh các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và
chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng đã từng bước trở thành thành viên tham gia thị
trường.
Khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành qua các năm:
Năm thực hiện Tín phiếu kho bạc Trái phiếu ngoại tệ
Số
phiên
Khối lượng trúng thầu
(tỷ đồng)
Số

sở pháp lý để thị trường mở ngày càng phát huy vai trò, tác dụng trong sự phát triển của thị
trường tiền tệ.
- Các công cụ tài chính được phép giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở bao gồm các
loại giấy tờ có giá (GTCG) phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, TPCP
(tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư do
Quỹ Hỗ trợ phát hành công trái) và trái phiếu chính quyền địa phương do Uỷ ban nhân dân
TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội phát hành bằng đồng VN và có thời hạn còn lại tối đa là 91
ngày (Đối với trường hợp mua, bán hẳn) và dài hơn thời hạn mua, bán (Đối với trường hợp
mua hoặc bán có kỳ hạn).
3.1. Kết quả đạt được:
- Số thành viên tham gia tăng lên hàng năm. Đến nay có 35 thành viên tham gia (chi
tiết phụ lục 02).
- Tần suất và khối lượng trúng thầu tăng dần qua các năm. Từ tháng 11/2004,
NHNN đã tăng định kỳ giao dịch lên 3 phiên/ tuần và đến nay mỗi ngày có từ 2 đến 3 phiên
giao dịch. Bên cạnh đó, NHNN còn mở các phiên giao dịch đột xuất hoặc các phiên giao
dịch hàng ngày vào những dịp giáp Tết để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, không để
xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán cũng như chậm trả đối với khách hàng. Nhờ đó,
hoạt động ngân hàng được diễn ra bình ổn, củng cố uy tín của hệ thống ngân hàng.
KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỞNG MỞ
(12/7/2000 – 31/12/2006)
Năm thực
hiện
Số phiên
thực hiện
Khối lượng trúng thầu theo các phương thức giao dịch (tỷ đồng)
Mua kỳ hạn Mua hẳn
Bán kỳ
hạn
Bán hẳn Tổng cộng
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 13

trường mở vẫn chưa thực sự đa dạng, nhất là tín phiếu Kho bạc với thời hạn ngắn dưới 6
tháng.
- Số lượng thành viên tham gia hạn hẹp nên lãi suất nghiệp vụ thị trường mở chưa
phản ánh đúng quan hệ cung-cầu về vốn trên thị trường.
4. Thị trường hối đoái
4.1. Kết quả đạt được
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 14
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các
hoạt động kinh doanh hối đoái, đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường; tạo các
công cụ phòng ngừa rủi ro trước những biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị trường trong
tương lại; giúp cho các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ động trong kinh
doanh; thúc đẩy và phát triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn thiện thị trường hối
đoái ở Việt Nam.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chính thức được hình thành từ năm 1994. Thị
trường này giúp kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Qua thị trường này, NHNN
đã theo dõi được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, thấy được diễn biến
cung cầu và tham gia thị trường với vai trò là người mua bán cuối cùng. NHNN tham gia thị
trường này nhằm thực thi chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Kể từ năm 1999, ngoài điều
hành linh hoạt tỷ giá, NHNN còn thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời tỷ giá trên thị
trường giúp các NHTM cân đối ngoại tệ đã góp phần làm ổn định tỷ giá.
4.2. Một số hạn chế, bất cập
- Thị trường ngoại hối của Việt Nam vẫn thuộc loại kém phát triển, ngay cả khi so
với các nước trong khu vực, kể cả quy mô và chiều sâu do chất lượng quản lý không cao,
thiếu thống nhất, các quy định lỏng lẻo, tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm về quản
lý. Phổ biến tình trạng niêm yết giá cả bằng ngoại tệ, thanh toán, mua bán ngoại tệ bất hợp
pháp vẫn còn diễn ra phổ biến, các nguồn thu bằng ngoại tệ vẫn còn phân tán trong nhân
dân, doanh nghiệp hoặc một số quỹ ngoại tệ khác, chưa được thu hút vào hệ thống ngân
hàng, chưa nâng cao được tính chuyển đổi của đồng Việt Nam và chưa phát huy được tác
dụng trong việc khắc phục tình trạng đô la hóa của nền kinh tế.

giữa các thị trường tiền tệ bộ phận, giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán nhằm
tăng tính linh hoạt của thị trường, khả năng phòng ngừa và khả năng chuyển đổi rủi ro giữa
các thị trường; hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động thị trường tiền tệ.
2. Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ đến năm 2010 và tầm nhìn 2015
2.1. Giải pháp trước mắt
2.1.1 – Tháo gỡ ngay một số vướng mắc pháp lý để tạo thuận lợi cho các giao dịch
trên thị trường tiền tệ và tăng cường công cụ giao dịch thị trường:
- Đề nghị Chính phủ cho phép trái phiếu đặc biệt được giao dịch trên thị trường tiền
tệ như các loại trái phiếu khác của Chính phủ.
- Đề nghị Bộ Tài chính xem xét phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc với nhiều
loại kỳ hạn.
- Đề nghị NHNN bổ sung, sửa đổi một số qui định để tăng thêm tính thông thoáng
cho thị trường:
+ Sửa đổi quy chế cho vay cầm cố bằng giấy tờ có giá của NHNN đối với các ngân
hàng theo hướng không qui định điều kiện thời hạn còn lại của giấy tờ có giá dài hạn được
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 16
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
phép cầm cố (qui định hiện nay là không quá 2 năm); đồng thời có thể giải chấp ngay các
giấy tờ có giá cầm cố bảo đảm nợ đã quá hạn thanh toán để tăng cung cho thị trường;
+ Sửa đổi Quy chế chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN theo hướng
quy định hạn mức tín dụng trên cơ sở giá trị giấy tờ có giá NHTM nắm giữ để phù hợp nhu
cầu của từng ngân hàng và khuyến khích các NHTM tăng cường giao dịch, nắm giữ giấy tờ
có giá đủ điều kiện giao dịch trên thị trường mở và bảo đảm trong nghiệp vụ tái cấp vốn.
+ Bổ sung nghiệp vụ bảo lãnh phát hành vào Quy chế bảo lãnh của ngân hàng đối
với khách hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành giấy tờ có giá của doanh
nghiệp, làm nền tảng cho sự phát triển của thị trường tiền tệ trong tương lai và là cầu nối
giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán.
2.1.2 - Điều hành linh hoạt thị trường mở và thị trường đấu thầu trái phiếu chính
phủ:
- Điều hành linh hoạt thị trường mở với việc tăng số phiên và khối lượng giao dịch,

- Tăng cường công tác phân tích, dự báo thị trường.
- Nâng cấp và đồng bộ hóa máy móc thiết bị, chương trình phần mềm, ứng dụng nối
mạng trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ, đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Chính
phủ qua NHNN.
- NHNN tăng cường công tác phổ biến, hướng dẫn các thành viên thị trường tiếp cận
với các công cụ thị trường tiền tệ.
2.2.3. Tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn, năng lực kinh doanh của các tổ
chức tín dụng- các thành viên chủ yếu của thị trường
- Hoàn thiện hệ thống thông tin thanh toán nhằm thực hiện quản lý vốn tập trung,
trực tuyến điều chuyển vốn linh hoạt trong nội bộ từng hệ thống ngân hàng, cũng như giữa
các ngân hàng ; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực quản lý kinh doanh,
năng lực tài chính và sức cạnh tranh.
- Các NHTM tăng cường công tác đào tạo cán bộ trong hoạt động thị trường tiền tệ,
nâng cao trình độ kinh doanh, giao dịch tiền tệ cùng với việc xây dựng các biện pháp đảm
bảo an toàn và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 18
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
KẾT LUẬN
Thị trường tiền tệ là một bộ phận của nền kinh tế thị trường, cũng chịu tác động của
các quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường. Cũng giống như những thị trường tiền tệ của
các nước khác trên thế giới. Từ khi hình thành cho đến nay, thị trường tiền tệ Việt Nam
cũng trải qua những bước thăng trầm của nó. Sự ổn định và phát triển của thị trường tiền tệ
góp phần vào sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Xuất phát từ vai trò của thị trường
tiền tệ đối với nền kinh tế, cũng như những biểu hiện của thị trường tiền tệ Việt Nam trong
thời gian gần đây, nhóm nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam từ năm 1993 đến 5/2008.
Sau khi tìm hiểu về thị trường tiền tệ Việt Nam, nhóm đã hoàn thành xong đề tài của
mình. Trên cơ sở vận dụng lý thuyết đã học, sự hướng dẫn của Giảng viên và kết hợp vơi
kiến thức thực tế, nhóm đã phản ánh được thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời
gian từ năm 1993 đến 5/2008. Cụ thể: đề tài đã phân tích thực trạng cho từng thị trường

16 NH TMCP Á Châu 11/4/2005
17 NH TMCP Quân đội 06/6/2005
18 NH TMCP Sài gòn thương tín 25/8/2005
19 NH Phát triển Nhà ĐBSCL 12/9/2005
20 NH TMCP Đông Nam Á 07/06/2006
(Nguồn: www.sbv.gov.vn)
Phụ lục 02:
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THỊ TRƯỜNG MỞ
TT Tên thành viên Ngày tham gia
01 NH Đầu tư & PTVN 07/7/2000
02 NH TMCP Đông á 07/7/2000
03 NH TMCP Sài gòn thương tín 07/7/2000
04 NH TMCP Quân đội 07/7/2000
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 20
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
05 NH Chinfon Commercial, HN 07/7/2000
06 NH TMCP Quốc tế VN 07/7/2000
07 NH TMCP Phương Nam 07/7/2000
08 Công ty Tài chính bưu điện 07/7/2000
09 NH TMCP các DN ngoài QD 07/7/2000
10 ABN AMRO Bank, CN Hà Nội 07/7/2000
11 NH Ngoại thương VN 07/7/2000
12 Quỹ Tín dụng nhân dân TW 07/7/2000
13 NH Công thương VN 07/7/2000
14 NH Nông nghiệp & PTNT VN 07/7/2000
15 NH TMCP Tân Việt 11/7/2000
16 STANDARD CHARTERED, CN HN 24/7/2000
17 NH TMCP Á châu 25/7/2000
18 NH TMCP Hàng Hải VN 01/8/2000
19 Citi Bank, CN Hà Nội 16/10/2000

- Phùng Khắc Kế (2006), Thị trường tiền tệ trong quá trình xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, www.sbv.gov.vn.
- Đoàn Phương Thảo: Phát triển thị trường liên ngân hàng Việt Nam www.gov.vn
- Trang Web www.sbv.gov.vn: Chính sách tiền tệ/thị trường tiền tệ
• Văn bản quy phạm pháp luật:
- Luật Ngân hàng Nhà nước năm (1996);
- Luật các tổ chức tín dụng (1996);
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Ngân hàng Nhà nước (2003);
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng các tổ chức tín dụng
(2003);
- Các văn bản về thị trường liên ngân hàng:
+ Quyết định số 114/QĐ-NH14 ngày 21/6/1993 của Thống đốc NHNN ban hành Quy
chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng.
+ Quyết định số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 của Thống đốc NHNN về việc bổ
sung, sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng.
- Các văn bản về thị trường đấu thầu tái phiếu chính phủ:
+ Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 của Chính phủ về việc phát hành trái
phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa
phương.
+ Thông tư 19/2004/TT-BTC ngày 18/3/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc đấu thầu
tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 22
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
+ Quy chế đấu thầu Trái phiếu chính phủ tại Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo
Quyết định số 935/2004/QĐ-NHNN ngày 23/7/2004 của Thống đốc NHNN.
+ Quy trình số 1872/QT-SGD ngày 15/9/2004 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn Quy
trình nghiệp vụ đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại Ngân hàng Nhà nước.
- Các văn bản về nghiệp vụ thị trường mở:
+ Quy chế hoạt động thị trường mở được ban hành kèm theo Quyết định số
85/2000/QĐ-NHNN14 ngày 09/3/2000 và các Quyết định sửa đổi: Quyết định số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status