Tài liệu Cây rau củ quả chữa bệnh - Pdf 10



Cây,Rau,Củ,Quả tr bnh
Cây rau khúc
Rau khúc còn có tên gọi là rau khúc vàng, thử khúc thảo Đây là cây cỏ sống hằng năm,
cao 40-50 cm. Thân đứng, có lông như bông. Lá nguyên, mọc so le, thuôn hình dải, tù và
có mũi cứng ở đỉnh, thon hẹp dài lại ở gốc, hơi men theo cuống, dài 4-7 cm, rộng 5-15
mm, có lông mềm. Đầu hoa màu vang ánh, tập hợp thành ngũ, với nhiều lá bắc có lông
như bông ở mặt lưng. Quả bế thuôn hình trứng, có mào lông gồm những tơ sợi tóc.
Rau khúc nhân bổ ở vùng Viễn Đông, từ Ấn Độ tới Trung Quốc, Nhật bản sang
Philippin. Ở nước ta rau khúc rất phổ biến ở những nơi đất trống các ruộng bỏ hoang,
nhiều nhất là các tỉnh phía Bắc. Còn có một lòai khác là rau khúc tẻ hay rau khúc Ấn Độ
Một số bài thuốc Nam có rau khúc thường dùng:
- Chữa cảm sốt: Rau khúc 30 g, gừng tươi 5 lát, hành 2 củ. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ho, viêm họng: Rau khúc 30 g, củ rẻ quạt 5 g, diếp cá 50 g. Sắc uống ngày một
thang.
- Chữa hen suyễn: Rau khúc 30 g, lá bồng bồng 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày
một thang, chia 2-3 lần.
- Chữa tăng huyết áp: Rau khúc 30 g, lá dâu 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày.
- Chữa chấn thương đụng dập: Rau khúc lượng vừa đủ, giã nát, băng đắp nơi sưng đau.
- Chữa rắn cắn: Lá rau khúc tươi giã nát, đắp rịt vào chỗ rắn cắn.
Cây ngh
Phụ nữ có thai bị ra máu, đau bụng (dọa sẩy) có thể lấy nghệ vàng, đương quy, thục địa,
ngải cứu, lộc giác giao (sừng hươu) mỗi vị 1 lạng, sao khô vàng, tán nhỏ, mỗi lần uống 4
đồng cân (khoảng 40 g). Dùng gừng tươi 3 lát, táo 3 quả, sắc với nước, uống trước bữa ăn
khi thuốc còn ấm.
Củ nghệ vàng còn có các tên gọi như khương hoàng, vị cay đắng, tính bình, có tác dụng
hành khí, hoạt huyết, làm tan máu, tan ứ và giảm đau. Uất kim (củ con của cây nghệ) vị
cay ngọt, tính mát, làm mát máu, an thần, tan máu ứ, giảm đau.
Sách Đông y bảo giám cho rằng khương hoàng có tác dụng phá huyết, hành khí, thông
kinh, chỉ thống (giảm đau), chủ trị bụng chướng đầy, cánh tay đau, bế kinh, sau đẻ đau

Cà rốt 250 g cạo vỏ, thái miếng; dâu tây 250 g bỏ cuống, dùng máy ép hai thứ lấy nước
cốt, hòa với 5 ml nước ép chanh và 2-3 miếng đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.
Dùng cho những người bị cao huyết áp, viêm thận, tiểu đường, táo bón mạn tính, phụ nữ
da thô và khô
Cà rốt là một trong những thực phẩm rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin. Sách
Bản thảo cương mục viết: "Cà rốt có tác dụng hạ khí bổ trung, làm lợi cho cơ hoành và
tràng vị, làm yên ngũ tạng và giúp ăn khỏe". Sách Y lâm cải yếu cho rằng cà rốt có khả
năng "nhu nhuận tạng thận, làm khỏe dương khí, ấm hạ bộ, trừ hàn thấp". Sách Nhật
dụng bản thảo xem cà rốt là thứ thuốc "có thể chữa chứng quáng gà, suy dinh dưỡng, trẻ
em còi xương, không muốn ăn, khô tròng mắt".
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, cà rốt rất giàu dinh dưỡng, ngoài protid, lipid, glucid
và chất xơ còn có nhiều nguyên tố vi lượng và các vitamin, nhất là carotene. Về tác dụng
dược lý, cà rốt có khả năng điều tiết cơ năng sinh lý của cơ thể, tăng cường thể chất, nâng
cao năng lực miễn dịch, kháng khuẩn, giải độc, làm hạ đường máu, dự phòng tích cực các
bệnh lý do thiếu vitamin A, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đau thắt ngực và nhồi máu
cơ tim. Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh cà rốt còn có tác dụng
chống lão hóa và dự phòng tích cực bệnh lý ung thư.
Từ cà rốt, có thể tạo ra các loại đồ uống thơm ngon vừa có tác dụng giải khát bổ dưỡng
vừa giúp phòng chống bệnh tật. Sau đây là một số công thức:
- Cà rốt 150 g, mật ong 50 g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái
thành miếng nhỏ rồi dùng máy ép lấy nước (nếu không có máy ép thì giã thật nát rồi dùng
vải bọc lại, vắt lấy nước cốt), cho mật ong và chế thêm nước vừa đủ, quấy đều rồi uống.
Dịch thể thu được có màu quất chín rất hấp dẫn, mùi vị thơm ngon tự nhiên. Nước có
công dụng bổ dưỡng, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, giúp phòng chống bệnh
cao huyết áp.
- Cà rốt 150 g, táo tây (loại táo quả to nhập từ Trung Quốc hoặc châu Âu) 150 g, nước ép
chanh 15 ml, mật ong 10 ml. Cà rốt và táo rửa sạch, thái miếng rồi dùng máy ép lấy nước
(với táo nên ép ngay vì để lâu sẽ bị biến màu, nếu cần thì ngâm trong dung dịch nước
muối 2-3%), cho mật ong và nước chanh vào quấy thật kỹ và uống hàng ngày. Đây là loại
thức uống giàu chất dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao sức đề kháng và giúp phục hồi sức

- Giảm mức độ nhồi máu cơ tim. Khi tiêm dẫn chất tanshinon II natri sulfonat, trong đó
tanshinon II là một hoạt chất của đan sâm, vào động mạch vành sẽ làm giảm nhồi máu cơ
tim cấp tính. Kích thước vùng thiếu máu mất đi hoặc giảm đáng kể.
- Ổn định màng hồng cầu, làm tăng sức kháng của hồng cầu nhờ dẫn chất tanshinon II
natri sulfonat. Hồng cầu ủ với cao đan sâm có thể tăng khả năng kéo giãn và phục hồi
hình dạng nhanh hơn so với hồng cầu không ủ với thuốc.
- Ức chế sự kết hợp tiểu cầu, chống huyết khối nhờ các hoạt chất miltiron và salvinon của
đan sâm.
- Bảo vệ cơ tim, chống lại những rối loạn về chức năng và chuyển hóa gây ra bởi thiếu
hụt oxy.
- Chống oxy hóa, loại bỏ các gốc tự do có hại cho cơ thể.
Một số bài thuốc với đan sâm:
1. Chữa đau tức ngực, đau nhói vùng tim:
- Đan sâm 32 g, xuyên khung, trầm hương, uất kim, mỗi vị 20 g. Hồng hoa 16 g, xích
thược, hương phụ chế, hẹ, qua lâu, mỗi vị 12 g. Đương quy vĩ 10 g. Sắc uống ngày một
thang.
- Đan sâm 32 g, xích thược, xuyên khung, hoàng kỳ, hồng hoa, uất kim, mỗi vị 20 g.
Đảng sâm, toàn đương quy, trầm hương, mỗi vị 16g. Mạch môn, hương phụ, mỗi vị 12 g.
Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa suy tim:- Đan sâm 16 g, đảng sâm 20 g, bạch truật, ý dĩ, xuyên khung, ngưu tất,
trạch tả, mã đề, mộc thông, mỗi vị 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm, bạch truật, bạch thược, mỗi vị 16 g. Thục linh, đương quy, mã đề, mỗi vị 12
g. Cam thảo, can khương, nhục quế, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
3. Chữa tim hồi hộp, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai: đan sâm, sa sâm, thiên môn,
mạch môn, thục địa, long nhãn, đảng sâm, mỗi vị 12 g. Toan táo nhân, viễn chí, bá tử
nhân, mỗi vị 8 g. Ngũ vị tử 6 g. Sắc uống ngày một thang.
4. Chữa viêm tắc động mạch chi:
- Đan sâm, hoàng kỳ, mỗi vị 20 g. Đương quy vĩ 16 g, xích thược, quế chi, bạch chỉ,
nghệ, nhũ hương, một dược, hồng hoa, đào nhân, tô mộc, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một
thang.

Nấm hương: chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan.
Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.
Lá trà: có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi
thành mạch, giảm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
Lá sen: giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen
được dùng dưới dạng hãm với nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.
Rau cần: chứa nhiều vitamin, tác dụng mát gan, hạ cholesterol trong máu, thúc đẩy quá
trình bài tiết các chất phế thải và làm sạch huyết dịch. Ngoài ra, người bệnh gan nhiễm
mỡ nên bổ sung các loại rau tươi như cải xanh, cải cúc, rau muống có công dụng giải
nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí đao, mướp, dưa gang, dưa chuột thanh
nhiệt, thông phủ, hành khí, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng, dầu đậu
tương chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; các loại
thịt, cá ít mỡ và các thức ăn chế biến từ đậu tương, đậu xanh, đậu đen
Một số loại trà tốt cho bnh nhân gan nhiễm mỡ:
- Trà khô 3 g, trạch tả 15 g. Hai vị hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì được.
Trà này có công dụng bảo vệ gan, tiêu mỡ, lợi niệu, giảm béo. Trạch tả có tác dụng điều
chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ cholesterol, triglycered và lipoprotein có tỷ trọng thấp,
góp phần phòng chống tình trạng xơ vữa động mạch.
- Trà khô 2 g, uất kim 10 g (có thể thay bằng nghệ vàng), cam thảo sao vàng 5 g, mật ong
25 g. Tất cả thái vụn, hãm với nước sôi, uống trong ngày Thức uống này có công dụng
làm cho gan thư thái, tiêu trừ tích trệ và lợi niệu. Đặc biệt uất kim có tác dụng điều chỉnh
hội chứng rối loạn lipid máu khá tốt.
- Trà khô 3 g, cát căn (sắn dây thái phiến) 10 g, lá sen 20 g. Tất cả thái vụn hãm uống
thay trà có công dụng giải độc, hạ mỡ máu, giảm béo. Cần dùng lá sen tươi hoặc khô thái
vụn hãm uống thay trà hàng ngày.
- Rễ cây trà 30 g, trạch tả 60 g, thảo quyết minh 12 g. Tất cả thái vụn hãm uống hàng
ngày. Những vị này có công dụng làm giảm mỡ máu và phòng chống béo phì. Loại trà
này rất thích hợp với những người bị nhiễm mỡ gan kèm theo tình trạng rối loạn lipid
máu, bệnh lý mạch vành.
- Trà 30 g, sinh sơn tra 10-15 g. Hai vị hãm nước sôi uống hằng ngày, giúp tiêu mỡ giảm

dạng thấp, tăng huyết áp. Cần rau thai nhi 1 cái, đảng sâm (hoặc bố chính sâm) 16 g, thục
địa 16 g, đỗ trọng 12 g, ngưu tất 16 g, hoàng bá 8 g, thiên môn 12 g, mạch môn 12 g,
bạch linh 12 g, quy bản 12 g. Tán bột, nhào với mật ong làm viên, uống 20g mỗi ngày,
chia làm 2 lần.
Các món ăn chữa suy nhược cơ thể:
Bài 1: Chữa suy nhược do tăng huyết áp. Cần râu ngô hoặc bắp ngô non 30 g, móng giò
1 cái, gừng 5 g, hành và gia vị vừa đủ. Tất cả ninh nhừ. Cách ngày ăn 1 lần, ăn trong 3
tuần liền.
Bài 2: Chữa suy nhược cơ thể ở người gầy yếu và phụ nữ sau sinh. Dùng gà trống non
(7-8 lạng): 1 con, quy thân 10 g, đảng sâm 15 g, thục địa 15 g, kỷ tử 10 g, hạt sen 20 g,
ngải cứu 20 g, gừng, hành, gia vị vừa đủ. Tất cả hầm nhừ, 1 tuần ăn 2 lần, ăn trong 4 tuần
liền.
Bài 3: Chữa viêm suy nhược do phế quản mạn, hen phế quản. Cần chim cút 1 con, cát
cánh 15 g, mạch môn 12 g, sa sâm 12 g, đại táo 7 quả, gừng, hành, rượu, gia vị vừa đủ.
Tất cả hầm nhừ, cách ngày ăn 1 lần, trong 4 tuần liền.
Chữa bnh
bằng hạt bí ngô/Cây, củ, rau tr bnh
Ngoài một hàm lượng lớn các khoáng chất và dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, hạt bí ngô
còn chứa delta 7-phytosterol, một hoạt chất sterol đặc hiệu giúp phòng ngừa và điều trị
chứng rối loạn lipid máu, đồng thời làm chậm tiến triển bệnh xơ vữa động mạch
Hạt bí ngô có đủ các protein và khoáng chất như sắt, Mg, Ca, Zn, Selen , chất xơ; các
axit béo không no như omega-3 và omega-6; vitamin E; beta caroten; tiền chất
prostaglandin; và một số axit amin khác như axit glutamic, arginine
Đặc biệt, chất delta7-phytosterol chỉ được tìm thấy trong hạt bí ngô mà không có ở bất kỳ
loại dầu thực vật nào khác. Chính delta7-phytosterol quyết định khả năng phòng ngừa và
điều trị bệnh của hạt bí ngô, song hàm lượng của nó lại phụ thuộc phần lớn vào điều kiện
khí hậu, thổ nhưỡng và thời vụ gặt hái
Tác dụng của hạt bí ngô:
- Giảm các triệu chứng của bệnh phì đại tiền liệt tuyến như hạn chế số lần tiểu tiện ban
đêm, giảm thể tích nước tiểu tồn dư, cải thiện chứng khó tiểu, đi tiểu buốt và nhiều lần.

loại cholesterol độc hại LDL - thủ phạm gây ra các bệnh tim mạch.
Hợp chất từ vỏ cam quít có tên khoa học là polymethoxylated flavones (PMF) - thực chất
là những yếu tố chống oxy hóa tích cực thuộc nhóm flavonoid, tiến sĩ Elzbieta Kurowska
làm việc cho một công ty dược của Canada tại Mỹ có tên là KGK Synergize, cho biết.
Nhóm flavonoid tập trung trong các loại rau quả, lá chè và rượu vang đỏ.
Trong phần thịt của hoa quả chua cũng chứa các chất PMF, song chỉ ở một lượng rất nhỏ
do hợp chất này không hòa tan trong nước. Trong khi đó, vỏ của chúng lại tập trung PMF
nhiều gấp 20 lần. Cơ thể con người rất dễ hấp thu và chuyển hóa các chất này.
Trong nghiên cứu, Kurowska và cộng sự đã vỗ béo cho những con chuột đồng bằng một
chế độ dinh dưỡng giàu cholesterol, rồi cho chúng hấp thu hợp chất PMF từ vỏ cam, quít.
Kết quả cho thấy, chỉ 1% PMF trong khẩu phần ăn hằng ngày cũng làm giảm tới 40%
lượng cholesterol LDL ở số chuột trên.
Nhóm nghiên cứu cũng thử nghiệm hai chất flavonoid đặc trưng khác là hesperetin và
naringenin trên một số con chuột có cholesterol cao, và tác dụng hạ cholesterol LDL cũng
được ghi nhận. Tuy nhiên, hai chất này phải cần tới một lượng lớn gấp 3 lần hợp chất
PMF từ vỏ cam, quít mới cho hiệu quả tương tự.
Theo Kurowska, PMF có thể đã khống chế khả năng phân tiết cholesterol LDL của gan.
Nhóm đang tính đến việc tăng cường hiệu quả chống loại cholesterol độc hại này bằng
việc kết hợp PMF với vitamin E. Tuy nhiên, để giảm cholesterol, người ta không thể
trông cậy hoàn toàn vào vỏ cam quít. Lời khuyên đáng tin cậy nhất vẫn là năng vận động
cơ thể, ăn nhiều rau quả và hạn chế tối đa chất béo no
Tác dụng chữa bnh của tỏi
Sức mạnh của gia vị này đã được biết từ mấy nghìn năm trước. Những người xây Kim tự
tháp đã ăn tỏi để lấy sức mạnh. Các chiến binh La Mã ăn tỏi để chữa bệnh cúm. Các vận
động viên Olympic Hy Lạp cổ đại cũng dùng nó để cải thiện sức bền. Còn trong Thế
chiến 1, nhiều người lính sử dụng tỏi như thuốc kháng sinh.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, tỏi giúp phục hồi allicin, một hợp chất tự nhiên trong cơ
thể, có tác dụng chống ung thư, giảm cholesterol và giảm huyết áp.
Trong vòng 20 năm qua, có hơn 700 nghiên cứu về tác dụng của tỏi. Viện Ung thư (Mỹ)
phát hiện thấy tỏi giúp làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày. Nhiều nghiên cứu khác kết luận

được. Sáng sớm và tối trước khi đi ngủ ăn 1-2 tép tỏi và uống một tí nước giấm ngâm tỏi.
Ăn 15 ngày, nghỉ 3 ngày lại ăn tiếp. Huyết áp sẽ hạ xuống một cách ổn định. Thuốc này
cũng chữa viêm khí quản mạn tính và ho lâu ngày.
- Viêm xoang, viêm mũi dị ứng: Giã tỏi lấy nước cốt trộn với dầu vừng, nửa nọ nửa kia.
Rửa mũi bằng nước muối, lau sạch, lấy bông tẩm thuốc nhét vào.
- Viêm, đau khớp: Tỏi và lá lốt đun sôi để xông, sau đó ngâm khớp tay chân đau. Nếu
đau lưng, đầu gối thì lấy khăn nhúng nước thuốc nóng mà chườm. Ngày làm 2 lần sáng,
tối, sẽ khỏi.
- Lỵ, tiêu chảy: Lấy 5 củ tỏi lớn bóc vỏ, sắc cùng 2 lạng củ cải, lấy nước uống hằng ngày.
- Chảy máu cam: Giã vài tép tỏi đắp gan bàn chân (từ gốc ngón giữa đo xuống bằng 3 đốt
ngón tay giữa của bệnh nhân). Nếu chảy lỗ mũi phải, đắp gan bàn chân trái và ngược lại.
Nếu chảy máu cả 2 lỗ mũi thì đắp cả 2 gan bàn chân. Hết chảy máu, bỏ tỏi, rửa chân sạch.
- Sưng vú: Dùng 50-100 g tỏi giã nhỏ, trộn với bột mì, đường đỏ, dùng nước ấm trộn đều
đắp nơi sưng, chỉ 1 ngày sẽ giảm.
- Giun đũa, giun kim: Giã nhỏ tỏi, trước khi đi ngủ xát vào hậu môn. Hoặc sắc 25 g tỏi
với 1 lít nước, đun sôi 10 phút, ngày uống 30 ml. Cũng có thể dùng 2 củ tỏi giã nhỏ, hòa
với nước sôi, gạn lấy nước, thụt vào hậu môn ngay lúc giun kim đang chòi ra, rất có hiệu
quả.
Có thể trị các chứng đau sưng khớp, các bệnh đái tháo đường, trĩ, béo phì, bệnh ở tim
mạch, phế quản, hệ tiêu hóa bằng cách dùng rượu tỏi. Cách làm: Tỏi khô bóc vỏ 40 g,
thái nhỏ, bỏ lọ, đổ vào 100 ml rượu trắng 45 độ. Sau 10 ngày dùng được. Sáng uống 40
giọt trước khi ăn, tối uống 40 giọt trước khi đi ngủ (hòa thêm nước nguội mà uống).
Ngâm uống liên tục.
Lương y Minh Chánh, Sức Khoẻ & Đời Sống

Cây trâu cổ chữa bệnh
Loại cây này còn có tên là xộp, vảy ốc, bị lệ, tên khoa học Ficus pumila L. Nó mọc hoang
ở nhiều nơi và được một số gia đình trồng làm cảnh. Trâu cổ chữa được nhiều bệnh như
liệt dương, đau lưng, kinh nguyệt không đều, ung nhọt
Trâu cổ là loại dây leo, mọc bò, rễ bám lên đá, bờ tường hay cây cổ thụ. Toàn thân có

Nếu mắc chứng ho lâu ngày, dai dẳng không khỏi thì bài thuốc này cũng trị được.
- Trị rắn cắn: Lấy rau dền đỏ giã nát, vắt lấy khoảng 1 bát nước cho uống, còn bã đắp lên
vết thương. Khi bị rắn cắn, phải lập tức băng chặt (bằng dây chun hoặc dây vải) phía trên
vết cắn (phía gần với tim hơn) rồi mới dùng thuốc. Sau đó, phải đưa ngay đến bệnh viện
gần nhất.
- Chữa vết ong đốt: Nếu bị ong đốt (nhất là giống ong to có độc) thì lấy rau dền vò nát,
xát cả vào vết đốt là khỏi.
Lưu ý: Không nên ăn thịt ba ba cùng với rau dền vì theo Đông y, việc 2 thứ này kết hợp
với nhau có thể gây độc. Gặp trường hợp này, cần uống nước rau muống giã hoặc ăn rau
muống sống để giải độc.
BS Ngọc Khôi, Sức Khỏe & Đời Sống

Cây cỏ ngọt - bạn của bnh nhân tiểu đường
Trong thiên nhiên có nhiều loại cây chứa đường năng lượng thấp, với độ ngọt cao gấp
hàng trăm lần đường mía. Chúng được dùng làm chất thay thế đường cho những người
phải kiêng loại thực phẩm này. Cỏ ngọt (còn gọi là cỏ mật, cỏ đường, cúc ngọt, trạch lan)
là một loại cây như thế.
Cỏ ngọt được biết đến từ năm 1908. Hai nhà khoa học Reseback và Dieterich đã chiết
xuất được glucozit từ lá cỏ ngọt. Đến năm 1931, Bridel và Lavieille mới xác định được
glucozit đó chính là steviozit, chất cơ bản tạo nên độ ngọt ở loại cây này. Steviozit sau
khi thủy phân sẽ cho 3 phân tử steviol và isosteviol. Chất steviol ngọt gấp 300 lần đường
saccaroza, ít năng lượng, không lên men, không bị phân hủy mà hương vị thơm ngon, có
thể dùng để thay thế đường trong chế độ ăn kiêng.
Đặc tính quan trọng của các glucozit này là có thể làm ngọt các loại thức ăn và đồ uống
mà không gây độc hại cho người, không đòi hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp, năng suất
cao, công nghệ thu hái chế biến đơn giản. Khối lượng thân, lá và chất lượng cỏ ngọt đạt
cao nhất ở thời kỳ trước khi nở hoa, nghĩa là nên thu hoạch ở giai đoạn hình thành nụ.
Cỏ ngọt có nguồn gốc tự nhiên ở vùng Amambay và Iquacu thuộc biên giới Brazil và
Paraguay. Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã phát triển việc dùng loại cây này trong
đời sống. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, người dân Paraguay đã biết sử dụng cỏ

một thang.
- Viêm loét dạ dày, tá tràng: Bồ công anh 40 g, lá khôi, nghệ vàng 20 g, mai mực 10 g,
cam thảo 5 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm phổi, phế quản: Bồ công anh 40 g, vỏ rễ dâu 20 g, hạt tía tô 10 g, kim ngân hoa 20
g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm gan virus: Bồ công anh 30 g, nhân trần 20 g, chó đẻ răng cưa (kiềm vườn) 20 g,
rau má 30 g, cam thảo nam 20g. Sắc uống ngày một thang.
BS Anh Minh, Sức Khỏe & Đời Sống

Vị thuốc từ cây mía
Để chữa nứt nẻ chân, lấy ngọn mía và bèo cái mỗi thứ khoảng 100 g, giã nát, thêm vào
một bát nước tiểu (trẻ em càng tốt), nấu sôi. Để nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ khoảng 30
phút.
Nước mía vị ngọt mát, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm,
chống nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng. Một số bài thuốc cụ thể:
- Chữa chín mé: Lấy lõi trắng ở ngọn cây mía giã nát, trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp
và băng lại.
- Chữa ngộ độc: Thân mía 80 g, thục địa, ý dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30 g, lá tre, kim
ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20 g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi đun lửa nhỏ
15-20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi người. Cũng có thể chữa ngộ
độc bằng cách lấy thân cây mía giã nát cùng với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với
nước dừa mà uống.
- Chữa khí hư: Lá cây mía tím 30 g, lá huyết dụ 30 g, hoa mò đỏ 20 g, rễ mò trắng 80 g.
Tất cả các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày.
- Làm thuốc an thai: Mầm mía 30 g, củ gai 30 g, ích mẫu 20 g, củ gấu 80 g, sa nhân 2 g.
Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml uống trong ngày, chia
làm 2 lần.
Lưu ý: Trong bữa ăn có cua thì không nên ăn mật mía, dễ sinh độc.
BS Nguyễn Bích, Sức Khỏe & Đời Sống


Chuối sẽ giảm stress?
Bạn không gầy và ốm đau, song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và
bồn chồn. Đó là những biểu hiện thông thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc
sống hiện đại.
Thần kinh căng thẳng cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ. Có rất nhiều loại thực
phẩm hỗ trợ cho thần kinh nhưng không gây béo. Vì vậy, việc lựa chọn đúng loại và đúng
liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn sảng khoái.
Thực đơn hoàn thiện
Ăn đủ bữa và đủ chất là yếu tố đầu tiên cần lưu ý. Trong bữa ăn cần có đủ rau, ngũ cốc và
hoa quả. Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản xuất đủ lượng
đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị hạ đường huyết - nguyên nhân số một gây
bồn chồn và cáu gắt.
Đối với thần kinh yếu
Bột mỳ là dưỡng chất an toàn nhất. Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh mỳ hoặc các
loại bánh quy trong ngày. Nên lưu ý đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm
có tác dụng bồi bổ não như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối Thói quen uống đều đặn
chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh.
Uống nhiều nước
Uống nước lọc vào bất cứ lúc nào có thể. Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày. Cần
loại bỏ thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè đen.
Làm nóng cầu chì năng lượng
Bằng những thực đơn sau:
- Nấu cháo gạo tẻ với sữa 2 lần/tuần.
- Salát hoa quả gồm chuối, dứa.
- Bữa phụ nên ăn lạc rang, hạt điều, hạt dẻ.
Nước sinh tố: 1 quả chuối, 1 thìa nước cốt chanh tươi, 1 thìa lạc rang bóc vỏ, 1 thìa mật
ong, 150 mg sữa tươi. Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống không hoặc kèm với đá bào.
Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng cường năng lượng, sữa
giàu canxi và lạc mang lại lecithin. Tất cả đều rất có lợi cho hoạt động của não bộ.
Cây sắn dây chữa bệnh


Hành ta, hành tây - thuốc quý của mọi nhà
Để rút kim, gai nằm trong vết thương, lấy hành ta 5 phần, muối 1 phần giã nát, đắp vào
vết thương rồi dán băng dính, để qua đêm; gai, kim sẽ ra. Còn để đuổi muỗi, nên cắt đôi
vài củ hành tây đặt vào giường, muỗi sẽ không dám bén mảng đến.
Các nhà dược học cho biết, hành chứa chất kháng sinh alixin, có khả năng diệt khuẩn rất
mạnh. Trong hành tây còn có chất phytonxit là loại kháng sinh mạnh. Theo Đông y, hành
ta vị cay, tính bình, không độc, có khả năng giải cảm, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ
hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sốt cảm, nhức đầu, mặt phù thũng, làm an thai,
sáng mắt, lợi ngũ tạng. Hành còn kích thích thần kinh, làm tăng bài tiết dịch tiêu hóa,
phòng ngừa ký sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Dùng ngoài chữa mưng mủ. Nước hành
nhỏ mũi giúp chữa ngạt mũi cấp tính, mạn tính, viêm niêm mạc mũi.
Hành tây còn dùng chữa ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị
bệnh cổ chướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ giun đũa, trừ
ho, chống béo phì, xơ cứng động mạch, kích dục, chống muỗi, dĩn. Dùng ngoài trị áp xe,
chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên.
Hành sống có tác dụng mạnh hơn.
Các bài thuốc có hành:
- Cảm cúm, nhức đầu: Lấy hành ta 6-8 củ, gừng sống 10 g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước
sôi, xông miệng mũi mỗi ngày 2-3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để uống (1
ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ).
- Động thai: Hành ta tươi 60 g, sắc uống dần đến khi yên thai thì thôi.
- Nhau thai không ra: Dùng 4-5 củ hành ta, nhai nuốt.
- Tăng huyết áp: Hành tây 2-3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường
xuyên. Uống 4-5 lần, huyết áp sẽ hạ.
- Trị phong thấp: 3 củ hành tây xắt lát, đổ 1 lít nước, đun 10-15 phút. Ngày uống 2 ly vào
sáng và tối lúc bụng đói.
- Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm. Đun nước uống trong ngày.
- Tắc ruột do giun đũa: Lá hành tươi 30 g giã nát, trộn với 30 g dầu vừng (dầu mè). Uống
ngày 2-3 lần.

20-30 ml, mỗi ngày 2-3 lần.
- Với tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi sao 12 g, gừng tươi 8 g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc
cùng 500 ml nước, cô còn 200 ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi hay lá ổi non
20 g, vỏ quýt khô 10 g, gừng tươi 10 g nướng chín, sắc với 1 bát nước, cô còn nửa bát,
uống nóng. Cũng có thể lấy búp ổi 60 g, nụ sim 8 g, riềng 20 g, ba thứ sấy khô, tán bột,
mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g với nước ấm.
- Với tiêu chảy do nóng (thấp nhiệt), dùng vỏ dộp ổi 20 g sao vàng, lá chè tươi 15 g sao
vàng, nụ sim 10 g, trần bì 10 g, củ sắn dây 10 g sao vàng, tất cả tán bột, người lớn mỗi
lần uống 10 g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn. Hoặc: Vỏ dộp ổi sao vàng 20 g, vỏ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status