BÀI KIỂM TRA MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
DANH SÁCH NHÓM:
1. Nguyễn Linh Ngọc : 3120117
2. Nguyễn Mỹ Yên Trinh : 3120196
3. Hoàng Kim Thoa : 3120170
4. Sử Hoàng Minh Trúc : 3120235
5. Lâm Quang Việt : 3120217
6. Hà Đăng Việt : 3120218
7. Hà Phương Quỳnh : 3120144
8. Nguyễn Thị Thương : 3120157
9. Trần Minh Quang : 3120143
CÂU 1:
Ngày nay, với sự toàn cầu hóa mạnh mẽ, các quan hệ quốc tế cũng ngày càng đa dạng, do đó
các quy phạm pháp lý điều chỉnh các quan hệ đó cũng ngày càng được ký kết nhiều hơn. Tổng
thể các mối quan hệ đó không ngoại trừ nhóm quan hệ Tư pháp quốc tế - nhóm quan hệ về dân
sự có yếu tố nước ngoài. Việc gia tăng về số lượng các quy phạm pháp luật tư pháp quốc tế là
điều tất yếu của sự phát triển, khi mà thế giới đang mở cửa - các mối quan hệ về dân sự có yếu tố
nước ngoài ngày càng nhiều hơn. Sự hợp tác giữa các quốc gia trên thực tế có thể tiến hành theo
nguyên tắc có đi có lại hoặc trên cơ sở điều ước quốc tế với mục đích chính là đảm bảo sự thừa
nhận về quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân và pháp nhân của quốc gia này trên phạm
vi lãnh thổ của một quốc gia khác.
Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia thực hiện việc ký kết các điều ước quốc tế trong đó
thừa nhận và điều chỉnh sự hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai bên về các vấn đề: xác định
thẩm quyền của các Toà án, áp dụng pháp luật, đảm bảo các quyền tố tụng của cá nhân và pháp
nhân nước ngoài, thực hiện các uỷ thác tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án
hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn
đề khác thuộc lĩnh vực hình sự. Trong tất cả các vấn đề được nêu ở trên, việc thực hiện các uỷ
thác tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các
vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự
được gọi chung là hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế. Do đó, hoạt động tương trợ tư pháp quốc
tế được hiểu là hoạt động mang tính trợ giúp về mặt pháp lý giữa các quốc gia, nếu không có sự
đời của các hiệp định tương trợ tư pháp dường như xóa bỏ được hoàn toàn nguy cơ bất ổn này,
tạo thuận lợi trong việc giải quyết các tranh chấp nhanh chóng hơn. Ví dụ như trong Hiệp định
tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Trung Hoa tại điều 18 quy
định về Thẩm quyền xét xử của các bên như sau:
1. Để thực hiện Hiệp định này, Toà án của một trong hai Bên ký kết ra quyết định sẽ được coi
là có thẩm quyền đối với vụ việc, nếu:
1) Bị đơn có nơi thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thổ của Bên ký kết đó tại thời điểm bắt
đầu tiến hành trình tự tố tụng;
2) Bị đơn có cơ quan đại diện trên lãnh thổ của Bên ký kết đó tại thời điểm bắt đầu trình tự tố
tụng;
3) Bị đơn đã chấp nhận một cách rõ ràng bằng văn bản về thẩm quyền của Toà án của bên ký
kết đó;
4) Bị đơn tham gia tranh tụng mà không có ý kiến về thẩm quyền của Toà án;
1 Tr59 – Tư Pháp quốc tế - Nguyễn Thị Nam Giang NXB Chính trị Quốc Gia
5) Trong trường hợp tranh chấp về hợp đồng, mà hợp đồng đã được ký kết trên lãnh thổ của
Bên ký kết đó hoặc đã hay sẽ được thực hiện ở đó hoặc đối tượng được tranh chấp hiện có
trên lãnh thổ của Bên ký kết đó;
6) Trong trường hợp phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng, hành vi gây thiệt hại hoặc hậu
quả của hành vi này xảy ra trên lãnh thổ của bên ký kết đó;
7) Trong trường hợp liên quan đến quy chế nhân thân, đương sự có nơi thường trú hoặc tạm
trú trên lãnh thổ của Bên ký kết đó;
8) Trong trường hợp liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng, người có nghĩa vụ có nơi thường trú
hoặc tạm trú trên lãnh thổ của Bên ký kết đó;
9) Trong trường hợp thừa kế, người chết có nơi thường trú hoặc có phần lớn di sản trên lãnh
thổ của bên ký kết đó tại thời điểm người này chết;
10) Bất động sản là đối tượng của vụ tranh chấp nằm trên lãnh thổ của Bên ký kết đó.
2. Các quy định tại khoản 1 Điều này không được xâm hại đến thẩm quyền xét xử riêng biệt
được pháp luật của mỗi Bên ký kết quy định. Hai Bên ký kết sẽ thông báo cho nhau bằng
văn bản qua đường ngoại giao các quy định liên quan đến thẩm quyền xét xử riêng biệt
được pháp luật của nước mình quy định.
yếu tố nước ngoài được giải quyết nhanh chóng, dễ dàng. Ví dụ như điều 12 trong hiệp định
Tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Pháp có quy định về thủ tục giao giấy tờ:
“1. Cơ quan trung ương của Nước ký kết được yêu cầu thực hiện hoặc cho thực hiện việc tống
đạt giấy tờ theo cách mà mình xác định là thích hợp nhất, phù hợp với pháp luật của nước mình.
2. Bằng chứng của việc đã tống đạt được hoặc tống đạt không thành thể hiện bằng biên lai, giấy
xác nhận hoặc biên bản. Những giấy tờ này kèm theo 01 bộ giấy tờ cần tống đạt được gửi trả lại
trực tiếp cho cơ quan tư pháp đã yêu cầu tống đạt.
3. Không phải thanh toán hoặc hoàn lại các khoản lệ phí hoặc chi phí của Nước ký kết được yêu
cầu về việc chuyển, giao giấy tờ.”
Tóm lại, các hiệp định tương trợ tư pháp là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề
dân sự phát sinh giữa công dân, cơ quan, tổ chức các nước ký kết một cách hiệu quả, là cách giải
quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền xét xử hữu hiệu.
Việt Nam hiện mới ký kết được 14 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương với các nước,
trong khi đó nhiều nước có đông người Việt làm ăn sinh sống và có nhu cầu về tương trợ tư pháp
cao như: Hoa Kỳ, úc, Canađa… thì lại chưa có Hiệp định. Điều này gây nhiều khó khăn cho việc
thực hiện tương trợ tư pháp. Trong thời gian tới, song song với thúc đẩy công tác đàm phán, ký
kết Hiệp định song phương, Việt Nam cần tham gia vào một số Công ước đa phương về vấn đề
này. Việc tham gia Công ước đa phương sẽ tạo thuận lợi, để có thể cùng một lúc hợp tác tương
trợ tư pháp với nhiều nước là thành viên của Công ước, mở rộng phạm vi hợp tác mà không cần
phải trực tiếp đàm phán với từng nước một như điều ước song phương. Đối với hoạt động tương
trợ tư pháp ở Việt Nam hiện nay, theo chúng tôi, nước ta nên tham gia một số công ước như:
Công ước LaHay năm 1956 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp ra nước ngoài; Công
ước LaHay năm 1970 về thu thập chứng cứ cho các vụ kiện dân sự và thương mại… Đây là
những công ước hiện có nhiều nước tham gia, có phạm vi điều chỉnh liên quan các vụ việc uỷ
thác tư pháp về tống đạt giấy tờ cũng như lấy lời khai, thu thập chứng cứ trong các vụ án dân sự
– một loại uỷ thác hiện đang chiếm đa số trong hoạt động tương trợ tư pháp của các Toà án nước
ta. Củng cố các cơ sở pháp lý đóng vai trò quan trọng, tiên quyết đối với hoạt động tương trợ tư
pháp quốc tế. Việc hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết các vấn đề đang vướng mắc hiện nay
như: tổ chức bộ máy thực hiện tương trợ tư pháp, quy trình uỷ thác tư pháp, cơ chế phối hợp, cơ
chế hợp tác giữa Toà án Việt Nam và các nước… Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
các nước đều cố gắng trong khả năng có thể để bảo vệ quyền lợi cho công dân,pháp nhân,cơ
quan tổ chức của nước mình, do đó các quốc gia đều cố gắng để áp dụng pháp luật nước mình
trong các mối quan hệ có các chủ thể của nước mình tham gia. Vì vậy khi xuất hiện các quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài thường đồng thời xuất hiện tình trạng có hai hay nhiều hệ thống
pháp luật có thể được áp dụng. Các hệ thống pháp luật này thường quy định khác nhau khi điều
chỉnh một quan hệ dân sự cụ thể, nên áp dụng các hệ thống pháp luật khác nhau sẽ đưa tới những
hậu quả pháp lý khác nhau. Do đó trong trường hợp này để giải quyết mối quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài cụ thể ta phải xác định được hệ thống pháp luật cần được áp dụng trong các hệ
thống pháp luật liên quan. Việc lựa chọn pháp luật áp dụng nói trên được tiến hành dựa vào các
quy phạm xung đột. Nói cách khác quy phạm xung đột thực hiện nhiệm vụ xác định hệ thống
pháp luật được áp dụng để giải quyết một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Do đối tượng
điều chỉnh của tư pháp quốc tế mang tính đặc thù như trên nên đòi hỏi phải có những công cụ
điều chỉnh đặc thù đó chính là các quy phạm xung đột.
Các quy phạm xung đột không những là quy phạm đặc thù của Tư pháp quốc tế mà còn là
những quy phạm riêng có của Tư pháp quốc tế. Tính riêng có này được hiểu là chỉ có trong
ngành luật Tư pháp quốc tế các quy phạm xung đột mới được sử dụng để điều chỉnh các mối
quan hệ, ngoài Tư pháp quốc tế không một ngành luật nào khác có tồn tại loại quy phạm xung
đột này. Để chứng minh cho tính riêng có này ta phải trở lại tìm hiểu Công pháp quốc tế để kiểm
chứng xem loại quy phạm này có tồn tại trong Công pháp quốc tế hay không. Công pháp quốc tế
có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế ( bao gồm: Quốc
gia, Tổ chức quốc tế liên chính phủ, Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập ) về nhiều mặt như
chính trị kinh tế văn hóa xã hội mà chủ yếu là về chính trị. Để điều chỉnh các quan hệ nói trên
Công pháp quốc tế dựa trên hệ thống các quy phạm luật quốc tế, đó là những quy tắc xử sự do
các chủ thể của luật quốc tế chủ yếu là các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên hoặc cùng nhau
thừa nhận giá trị pháp lý ràng buộc của chúng. Những quy phạm trên được ghi nhận trong các
điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế được chủ thể luật quốc tế thừa nhận rộng rãi. Các hệ
thống pháp luật quốc gia không phải là nguồn của Công pháp quốc tế xuất phát từ nguyên tắc tôn
trọng chủ quyền và bình đẳng giữa các quốc gia, không quốc gia nào đứng trên quốc gia khác do
đó không thể áp đặt pháp luật của một quốc gia để điều chỉnh mối quan hệ giữa quốc gia đó và
một quốc gia khác. Như vậy các quy phạm xung đột với bản chất là sự lựa chọn hệ thống pháp