Tài liệu Văn chương và hội họa Việt Nam - Pdf 10

Văn chương và hội họa Việt Nam
Nguyên nhân của sự phát triển lệch pha này so với những người viết xuôi
hay kịch nói mà, thiết nghĩ, ở sức mạnh của truyền thông, ở sức ỳ của tư duy thơ
ca được nuôi dưỡng bằng sức ỳ của thị hiếu công chúng
Dưới đây là nguyên văn bản tham luận mà GS. Phạm Vĩnh Cư đã trình bày
tại Hội thảo quốc tế " Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực
và quốc tế" diễn ra ngày 3.4/11/2006 vừa qua.
Văn chương và hội họa Việt Nam

Bên đầm sen - Nguyễn Gia Trí
Chủ đề của tham luận này hẹp hơn rất nhiều so với cái tên của nó. Quan hệ
qua lại giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở nước ta là một đề tài
nghiên cứu khoa học lớn và liên ngành, đòi hỏi tập trung nhiều lực lượng tinh
nhuệ, nhiều học giả hiểu biết sâu rộng văn hóa - nghệ thuật nước nhà và thế giới.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập một cách qua loa đến tương quan so sánh
giữa văn chương và hội họa Việt Nam dưới hai góc độ: vị trí của chúng trong đời
sống xã hội và những cống hiến của chúng cho kho tàng văn hóa nước nhà. Vì vậy
xin xem những gì sẽ nói sau đây chỉ là đề cương chi tiết cho một báo cáo khoa học.
Ngoảnh nhìn lại nền văn nghệ cổ truyền của nước ta, con người Việt Nam
ngày nay không thể không ngạc nhiên về vị trí rất đỗi chênh lệch giữa một bên là
văn chương và một bên là các ngành nghệ thuật khác. Từ thế kỷ này sang thế kỷ
khác, xã hội Việt Nam xưa kia chỉ coi trọng văn chương và xem nhẹ mọi loại hình
nghệ thuật khác. Có kỹ năng sáng tác thơ văn hầu như là điều kiện nhất thiết phải
có ở những người thuộc giới "sĩ phu" - tầng lớp được trọng vọng nhất trong xã hội.
Từ "văn nhân" vừa có nghĩa là một trí thức nhân văn, vừa có nghĩa là người cầm
bút. Những sáng tác thơ văn hay của họ được công luận tán tụng và phẩm bình
rộng rãi.
Cùng với chúng tên tuổi các tác gia được lưu truyền cho hậu thế để học tập,
noi gương. Còn những nghệ nhân hoạt động trong các khu vực nghệ thuật khác thì
dù họ có tài đến đâu (thí dụ như kiến trúc sư Vũ Như Tô trong thế kỷ 18) vẫn cứ bị
xem là thợ. Họ không được đề tên dưới những tác phẩm của mình và vì thế không

bức thư pháp. Nước Việt Nam ta không có những Tào Thực, Vương Duy, Tô
Đông Pha, Ba Tiêu (Ba Sô) - những nhà thơ lớn đồng thời là những danh họa và
thư pháp gia. Thiếu nữ - Dương Bích Liên
Trong một nền văn hóa mà chỉ một nghệ thuật văn chương giữ địa vị độc
tôn, bản thân nghệ thuật ấy không phát triển được phong phú và muôn màu muôn
sắc do thiếu cọ sát, tương tác, thi sức với các nghệ thuật khác. Trong bối cảnh như
thế, không thể hình thành một nền phê bình văn nghệ, chứ chưa nói đến lý luận và
triết học nghệ thuật. Điều này sẽ gây ra nhiều trở ngại rất khó khắc phục cho
những ai ấp ủ kỳ vọng viết lịch sử mỹ học Việt Nam hay lịch sử văn hóa Việt Nam
nói chung.
Tình hình thay đổi hẳn nếu chúng ta ngoái nhìn sang các nước "đồng văn"
với chúng ta: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Ở đấy, trước tiên là ở Trung
Quốc - trung tâm của thế giới Hán hóa (cinisé), nước láng giềng liền núi liền sông
đã ảnh hưởng tạo tác đến thế, đến toàn bộ nền văn hóa vật chất và tinh thần của
người Việt chúng ta - hội họa cũng như thư pháp được coi trọng và khuyến khích
phát triển không kém văn học. Như nhiều người biết, ở Trung Quốc, bên cạnh
những nhà thơ đại tài được hậu thế tôn là "thi thánh" , có những "họa thánh" và
"thư thánh".
Thư pháp và hội họa là hai chị em ruột sinh hạ hầu như cùng một lúc,
trưởng thành trong sự giúp đỡ lẫn nhau, tương tác và liên kết với nhau trong sự
quan tâm, bảo trợ của nhà nước và xã hội. Nhiều hoàng đế Trung Hoa là những
họa sĩ và những thư pháp gia, hoặc là những nhà sưu tập nghệ thuật trứ danh. Họa
viện được thành lập bên cạnh hoàng gia và hoạt động có quy củ từ thế kỷ 8.
Không chỉ thi tứ, mà cả thư họa đã sớm trở thành những thú vui tao nhã của giới sĩ
phu Trung Hoa, cả những người làm quan cũng như những người tránh xa quan
trường.
Chính do sự khác biệt giữa nghệ thuật cung đình - quan phương với nghệ

được ghi nhớ mãi mãi, của một họa sỹ người Pháp Victor Tardieu (1870 - 1937)
cùng các cộng sự của ông - những họa sĩ Pháp khác và những nhà nghiên cứu
nghệ thuật làm việc tại Trường Viễn Đông Bác cổ (Inguimberty, De Fénis, Roger,
Goloubev, Besacier ).

Gió mùa hạ - Phạm Hậu
Chính họ với nhiệt tình và lương tâm nghề nghiệp cao đã tuyển chọn vào
trường những thanh niên thực sự có năng khiếu để đào tạo thành những nghệ sĩ tạo
hình chân chính., truyền đạt cho họ những kiến thức vững chắc về những nền nghệ
thuật lớn của thế giới, với lịch sử lâu đời, quanh co khúc khuỷu, đầy những biến
đổi và dồi dào thành tựu của chúng. Và điều quan trọng hơn cả, chính những
người ngoại quốc ấy đã khích lệ, hướng dẫn, giúp đỡ những họa sĩ trẻ Việt Nam
tìm ra những con đường nhiều hứa hẹn để trong một thời gian lịch sử ngắn sáng
tạo nên một nền hội họa vừa hiện đại vừa mang rõ dấu ấn dân tộc.
Trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 là buổi đơm hoa
kết trái đầu tiên trong tiến trình văn hóa Việt Nam hội nhập văn hóa thế giới. Nó
được đánh dấu bằng nhiều biến chuyển lớn, trong đó có hai biến chuyển kỳ diệu:
sự phát triển gia tốc của văn xuôi nghệ thuật với một số đỉnh cao cho đến giờ vẫn
chưa được vượt qua và sự ra đời và sớm đạt độ chín muồi của hội họa (tranh lụa
cảu Nguyễn Phan Chánh, tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí và Hoàng Tích Chù,
tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân và Trần Văn Cẩn, nếu chỉ điểm những thành công
nổi bật nhất).
Phong trào Thơ Mới ở ta trong những năm 30 được gọi là "cuộc cách mạng
trong thơ ca" và hiện nay đã được nghiên cứu đến mức vắt kiệt, theo chúng tôi lại
không có được ý nghĩa to lớn và trường cửu như thế. Cái đó thể hiện ở ngay ngôn
ngữ và hình thức thi ca, mà rất nhiều độc giả người Việt hôm nay, đặc biệt các nhà
thơ, cảm thấy rõ ràng đó là ngôn ngữ và hình thức của một thời đại đã qua và
không bao giờ trở lại (chưa nói đến thế giới cảm xúc và tâm tưởng mà dòng thơ
lãng mạn ấy biểu tả.
Trong khi đó thì những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan,

Trong lịch sử văn học và nghệ thuật Pháp, giai đoạn 1789 -1815 là giai
đoạn để lại những trang trắng, không phải vì trong thời kỳ ấy người Pháp không
sáng tác thơ, văn xuôi, kịch, hội họa, điêu khắc và những sáng tác ấy không được
cổ vũ, biểu dương, ghi công, mà vì tất cả chúng (trừ những ngoại lệ hy hữu) đều
không qua được thử thách của thời gian. Văn chương, nghệ thuật Pháp chỉ bắt đầu
hồi sinh từ thời Trung hưng (1915 - 1830).

Hai thiếu nữ đi trên đồng lúa - Nguyễn Tiến Cung
Tình trạng văn nghệ Việt Nam trong ba thập kỷ đương nói đến không giống
như thế. Sẽ còn lại dài lâu với thời gian không ít những bài thơ và đặc biệt những
bài hát kháng chiến hay, những truyện ngắn và những bài ký thành công, nhưng
đáng tiếc rất thưa thớt những kịch phẩm và hoàn toàn thiếu vắng những tiểu thuyết
đã chứng tỏ có sức sống lâu bền.
Mà diện mạo của một nền văn học hiện đại được quyết định bởi hai thể loại
ấy, trong đó tiểu thuyết giữ vai trò số một. Giảng bài cho những học viên Trường
Viết văn Nguyễn Du vào đầu những năm 80, một nhà văn rất có tên tuổi, xưa kia
là bạn thân của Nam Cao, tác giả tiểu thuyết Sống mòn, nói rằng người Việt Nam
ta chưa xây dựng được một nền tiểu thuyết, và nhận định ấy của ông là đúng đắn,
bởi vì một cây cao (Sống mòn) công với một cây cao nữa (Số đỏ) thành hai vẫn
chưa thể làm nên non.
Muốn làm nên non (tức là có nền) cần ít nhất nhất ba cây, trong thực tế thì
số cây hợp lại phải có nhiều hơn gấp bội. Tiểu thuyết Nga trở nên có nền trong vài
ba thập kỷ nhờ 5 tiểu thuyết của Dostoievski, 3 tiểu thuyết của Tolstoi và hàng
chục tiểu thuyết xuất sắc của những nhà văn Nga khác. Tiểu thuyết Hoa Kỳ lớn
mạnh vượt bậc trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới cũng nhờ
hàng chục tác phẩm lỗi lạc của một loạt cây bút văn xuôi có biệt tài. Trong những
thập niên 1950 - 1970 không phải một mà nhiều nền văn học của các nước Trung -
Nam Mỹ đã hợp lực làm nên hiện tượng "tiểu thuyết Mỹ Latinh" và hiện nay cả
thế giới đang chăm chú theo dõi "tiểu thuyết Nhật Bản" - một hiện tượng nữa được
tạo nên bởi nhiều tác phẩm tài tình của mấy thế hệ nhà văn Nhật từ sau Đại chiến

tượng tương tự, chúng nói lên sức phản ứng sáng tạo chiến thắng cường quyền của
những nền văn nghệ dồi dào nội lực.
Iosif Brodski, một thi hào Nga nửa sau thế kỷ XX, đã nếm trải đầy đủ mọi
sự o bế, thậm chí bức hại, của nhà đương cục nước ông, rồi sau đó được hưởng
mọi tự do của một công dân Hoa Kỳ cộng với vinh quang của giải thưởng Nobel
và nhiều giải thưởng quốc gia Mỹ, đã buông một câu có cánh chứa đựng một phần
quan trọng của chân lý: « Các đế chế sản sinh ra thơ ca, các nền dân chủ đại chúng
sản sinh ra giấy lộn ». Tất nhiên, trong văn hoá hiện đại, ngay giấy lộn cũng có
loại hạng. Có giấy lộn thượng hạng (chẳng hạn không ít best-seller ở phương Tây)
và có giấy lộn mạt hạng - những sách giật gân đơn thuần hay khiêu dâm, khiêu bạo
lực hiện nay đầy rẫy trên thị trường sách ở nhiều nước phương Tây cũng như
phương Đông và cám dỗ ngay cả một số văn sĩ rất nổi tiếng).
Vậy tiền đề thiết yếu hơn cả là chính cái nội lực ấy của văn hoá mà những
yếu tố hun đúc nên nó, ngoài tài năng bẩm sinh và ý chí sáng tạo, là độ sâu của tư
duy, năng lực nhận thức và nhận thức lại thực tại, học thức nhân văn, sự am hiểu
văn học thế giới và nhiều điều kiện chủ quan khác ở người nghệ sĩ. Cái nội lực ấy
xem ra còn chưa dồi dào lắm trong các nhà tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chính
vì thế cho nên trong 20 năm đổi mới vừa qua, tiểu thuyết nước ta mặc dù đã đạt
được một số thành tựu mới, được độc giả hoan nghênh (mà trình độ văn hoá kéo
theo mức độ đòi hỏi của độc giả nước nhà trong những thập kỷ qua đã được nâng
cao rất đáng kể), nhưng nó vẫn chưa cất mình lên được lên một đẳng cấp mới, cho
phép khẳng định sự tồn tại của một nền tiểu thuyết Việt Nam.
Trong dòng tiểu thuyết nước nhà khá trù phú về lượng trong hai thập kỷ
qua, không thể không nhắc đến với niềm trân trọng Thời xa vắng và Chuyện làng
Cuội của Lê Lựu, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Những nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh, Lão khổ và Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Cõi người rung chuông
tận thế của Hồ Anh Thái, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Giàn thiêu của
Võ Thị Hảo và Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (có thể còn có những
tác phẩm khác mà chúng tôi chưa có dịp đọc), song những thành công ấy vẫn chưa
đạt được độ hoàn hảo như nó đã từng có được trong Sống mòn của Nam Cao và

sôi động, với những triển lãm hàng năm, nơi người xem nhận ra nhiều khuôn mặt
sáng tác trẻ, sung sức - tuyệt đại đa số họ là những cựu sinh viên tốt nghiệp hay,
nhiều hơn, chưa kịp tốt nghiệp những khoá cuối cùng của Trường mỹ thuật Đông
Dương hoặc những người vừa qua những lớp đào tạo trong kháng chiến.
Nhiều tác phẩm hội họa của họ cho thấy những nỗ lực lớn tiến bước trên
con đường đầy gian truân của một nghệ thuật còn rất non trẻ ở nước ta, ý chí nâng
cao tài nghệ, học tập các bậc thầy của hội họa thế giới và tìm kiếm những phương
cách và phương tiện mới để phát triển những thể loại đặc thù của dân tộc hay khu
vực. Và những thành công đã sớm xuất hiện, đặc biệt trong thể loại tranh sơn mài
(Phan Kế An, Trần Đình Thọ, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Tư
Nghiêm ), đem lại niềm vui cho những người yêu chuộng nghệ thuật không chỉ
trong nước, mà còn ngoài nước (Triển lãm hội họa quốc tế ở Moskva năm 1958).
Từ cuối những năm 50 - đầu những năm 60 của thế kỷ trước, áp lực của
những lý thuyết văn nghệ chính thống, được vay mượn từ các nước đàn anh khác
cùng một ý thức hệ, yêu cầu văn nghệ nhất tề phục vụ những nhiệm vụ chính trị -
xã hội trước mắt đã ảnh hưởng tiêu cực trông thấy đến không chỉ văn chương mà
cả mỹ thuật nước nhà. Cái quý giá nhất mà không có nó thì không thể có nghệ
thuật hiện đại - tính độc đáo, « độc bản » của từng tài năng sáng tạo, thế giới nghệ
thuật không giống nhau của từng nghệ sĩ, sự không ngừng tìm kiếm cái mới,
không lặp lại không chỉ người khác, mà ngay cả bản thân mình - chính cái đó đã
nhiều phen bị hiến sinh trong những phong trào sáng tác tập thể nhằm đạt những
tác dụng xã hội rất nhất thời.
Những khuôn vàng thước ngọc hạn hẹp, chủ yếu được lấy từ chủ nghĩa hiện
thực cổ điển Nga thế kỷ 19 và nghệ thuật Xô viết chính thống, được khuyến cáo
đến mức áp đặt cho mọi văn nghệ sĩ, bóp méo và nhiều khi xoá nhoà khuôn mặt
sáng tạo của nhiều người, cản trở sự tìm hiểu, học tập kinh nghiệm của nghệ thuật
toàn thế giới.

Tự họa - Bửu Chỉ
Trong bối cảnh ấy, nội lực của văn hoá - nghệ thuật thể hiện trước tiên ở ý

chúng tôi rất dễ chỉ ra một loạt điểm không thể chấp nhận trong sản phẩm hội họa
đại trà ở ta hiện nay. Song về trình độ phát triển của nghệ thuật nào cũng nên phán
xét theo những đỉnh của chúng, những đỉnh ấy đã có hay chưa, nếu có thì còn quá
ít hay đã tương đối nhiều.
Có hai hiện tượng giúp ta đánh giá công bằng trình độ và công dụng xã hội
của hội họa Việt Nam hôm nay. Thứ nhất, nhiều khách sạn mới, thượng hạng ở
nước ta trang trí cho mình một cách có «gu» bằng những họa phẩm nội địa, không
cần đến các họa sĩ ngoại quốc. Thứ hai, hàng chục họa sĩ Việt Nam trung niên và
trẻ tuổi thường xuyên tham gia những triển lãm quốc tế và bán được khá nhiều
tranh cho người nước ngoài theo giá không rẻ rúng. Hội họa Việt Nam chưa có uy
tín quốc tế, cho nên không thể nghĩ rằng người nước ngoài tìm mua tranh Việt
Nam vì thời thượng hay để kiếm lời nhanh chóng. Chắc có những động cơ khác
nghiêm túc hơn, đáng mừng hơn cho chúng ta .
Còn nếu nói về những họa sĩ Việt Nam đương thời thực sự có tài và có
những đóng góp độc đáo, không ai giống ai, cho nền hội họa đương hình thành của
nước nhà, thì danh sách khá dài, xin chỉ điểm một số tên theo trật tự tuổi tác: Bửu
Chỉ, Thành Chương, Nguyễn Quân, Đặng Xuân Hòa, Đinh Quân, Mai Hiên, Kim
Công Hoa, Đinh Thị Thắm Poong (ba người sau là nữ) Về từng họa sĩ ấy cần
phải nói riêng, nhưng chúng tôi chỉ xin dừng lại trong giây lát ở Bửu Chỉ (1948 -
2002), một họa sỹ lớn theo chúng tôi còn chưa được đánh giá như anh xứng đáng.
Với Bửu Chỉ, nghệ thuật Việt Nam đã có một họa sĩ - nhà tư tưởng, họa sĩ -
triết gia. Ở anh, tài năng nghệ thuật không thể hồ nghi kết hợp nhuần nhuyễn với
một trí tuệ cao cường, sự mê đắm cái đẹp, sự thiết tha với cái thiện song hành với
sự nhạy cảm cao độ đối với cái ác và sự thấu hiểu sức mạnh khủng khiếp của nó,
tình yêu nồng nàn sự sống, quý giá từng khoảnh khắc cuộc đời hoà lẫn với nỗi đau
khắc khoải về thân phận hữu tử do bản chất không hoàn hảo của con người, nỗi
khao khát cái tận Chân, tận Thiện, tận Mỹ nhuần thấm ý thức về sự bất khả của
chúng, nhu cầu khôn nguôi về ý nghĩa của sinh tồn tô đậm thêm cảm quan thường
trực về sự phi lý của tất cả
Có thể yêu thích hay không yêu thích hội họa của Bửu Chỉ, nhưng không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status