LUẬN VĂN
“Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam thực trạng và giải
pháp”
MỤC LỤC
L I NÓI UỜ ĐẦ 3
CH NG IƯƠ
TÌNH HÌNH S N XU T VÀ TIÊU D NG HÀNG D T MAY TRÊN TH GI IẢ Ấ Ù Ệ Ế Ớ 3
1. GI I THI U CHUNG L CH S PHÁT TRI N NGÀNH D T MAY TRÊN TH Ớ Ệ Ị Ử Ể Ệ Ế
GI I:Ớ 4
1.1. Giai o n tr c chi n tranh th gi i th hai:đ ạ ướ ế ế ớ ứ 4
1.2. Giai o n t sau chi n tranh th gi i th hai n n m 1997:đ ạ ừ ế ế ớ ứ đế ă 4
1.3. Giai o n sau n m 1997:đ ạ ă 5
2. VAI TRÒ C A NGÀNH D T MAY TRONG N N KINH T :Ủ Ệ Ề Ế 5
3. TÌNH HÌNH S N XU T VÀ XU T KH U HÀNG D T MAY TRÊN TH GI I:Ả Ấ Ấ Ẩ Ệ Ế Ớ . .5
3.1. Trung Qu c:ố 6
3.2. Thái Lan: 6
3.3. In ônêxia:đ 7
3.4. Các n c khác:ướ 8
4. NHU C U TIÊU D NG HÀNG D T MAY TRÊN TH GI I:Ầ Ù Ệ Ế Ớ 8
CH NG IIƯƠ
TÌNH HÌNH S N XU T VÀ XU T KH U HÀNG Ả Ấ Ấ Ẩ
D T MAY VI T NAMỆ Ở Ệ 11
1. L CH S PHÁT TRI N NGÀNH D T MAY VI T NAM:Ị Ử Ể Ệ Ệ 11
1.1. Giai o n tr c n m 1986:đ ạ ướ ă 11
1.2. Giai o n t 1986 - 1997:đ ạ ừ 12
1.3. Giai o n t 1997 t i nay:đ ạ ừ ớ 15
2. TÌNH HÌNH S N XU T, XU T KH U HÀNG D T MAY VI T NAM:Ả Ấ Ấ Ẩ Ệ Ệ 16
2.1. Tình hình s n xu t:ả ấ 16
2.2. Tình hình xu t kh u: ấ ẩ 17
3. M T S TH TR NG TR NG I M C A D T MAY VI T NAM:Ộ Ố Ị ƯỜ Ọ Đ Ể Ủ Ệ Ệ 18
có nhiều cải tiến và hiện đại hoá công nghệ sản xuất nhưng đạt được đến tầm cỡ khu vực.
Do đó, cần phải có những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả cạnh tranh.
Đây là một công việc hết sức cần thiết, vì ngành dệt may trong nước đóng vai trò rất quan
trọng không chỉ về kinh tế, mà còn cả về xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may đối với nền
kinh tế cũng như những thách thức mà ngành này phải đối mặt trong bối cảnh hiện nay, em
đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thực
trạng và giải pháp”.
Mục đích khi chọn đề tài này là làm sáng tỏ về thực trạng kinh doanh hàng dệt may Việt
Nam trong những năm qua. Trên góc độ cá nhân, xin được có ý kiến đánh giá những thành
công, tồn tại, phân tích thuận lợi và khó khăn của ngành để từ đó đưa ra một số giải pháp
nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
Với mục đích nghiên cứu, bài viết được chia làm ba phần chính:
- Chương I: Tình hình xuất khẩu và tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới.
- Chương II: Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam hiện nay.
- Chương III: Giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
Xin gửi tới các cán bộ, chuyên gia của Tổng công ty Dệt may Việt Nam
(VINATEX), đơn vị đã cung cấp những tài liệu quý giá để hoàn thành bài viết này. Đặc
biệt em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Hoàng Ánh đã hướng dẫn em thực hiện bài viết
và đã có những ý kiến quý báu để bài viết được hoàn thiện hơn.
Do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan không cho phép, bài viết sẽ không
tránh khỏi những sai sót. Do vậy em rất mong nhận được góp ý, đóng góp của các thầy cô
và những người cùng quan tâm tới đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
SINH VIÊN
CHƯƠNG I
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG HÀNG DỆT MAY TRÊN
THẾ GIỚI
1. GIỚI THIỆU CHUNG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY
TRÊN THẾ GIỚI:
- Sự ra đời và phát triển sợi nhân tạo thay thế một phần sợi tự nhiên. Cùng với sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều loại tơ, sợi tổng hợp được tạo ra. Loại sợi này
có tính năng mới và độ bền hơn hẳn sợi tự nhiên, dẫn tới việc chúng được sử dụng ngày
một nhiều trong quá trình chế tạo sản phẩm may mặc.
- Do giá nhân công tăng cao tại các nước phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Canada, Nhật
Bản… nên đã dần chuyển giao các công nghệ dệt may sang các nước kém phát triển. Họ
chỉ giữ lại những gì có giá trị cao như sản xuất hàng thời trang, hay tập trung sang nghành
dệt và chế biến tơ sợi hoá học tổng hợp nhằm khống chế nguồn cung cho ngành dệt may
trên thế giới.
Chính vì sự phân công mang tính quốc tế như vậy đã dẫn tới sự phát triển mạnh thương
mại hàng dệt may trên thế giới. Cuối giai đoạn này, hầu như nguồn cung hàng may mặc
cho thế giới là từ các nước đang phát triển và các nước công nghiệp mới.
1.3. Giai đoạn sau năm 1997:
Tình hình chính trị trên thế giới tương đối ổn định, song nó được tách ra thành một giai
đoạn riêng bởi vì tình hình kinh tế trên thế giới có nhiều biến động khiến bản đồ kinh tế có
sự thay đổi đáng kể.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra cuối năm 1997 ở Thái Lan, sau đó lan rộng ra
nhiều nước khác đã để lại những hậu quả kinh tế lâu dài. Cuộc khủng hoảng này đã chỉ ra
những yếu điểm của các nền kinh tế mới phát triển. Điều đó đã dẫn tới sự suy giảm của cả
nền kinh tế nói chung và công nghiệp dệt may nói riêng.
Tuy nhiên, thời gian này cũng chứng kiến sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc về sản
xuất hàng dệt may. Vượt qua cuộc khủng hoảng năm 1997 một cách thuyết phục, với sự ổn
định chính trị, chính sách tiền tệ hợp lý của Chính phủ, cùng với chiến lược cạnh tranh và
phát triển sản phẩm, các doanh nghiệp đã đưa Trung Quốc lên vị trí hàng đầu trong các
nước xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới. Điều đó, các nước xuất khẩu hàng dệt may đều
phải coi Trung Quốc như đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.
2. VAI TRÒ CỦA NGÀNH DỆT MAY TRONG NỀN KINH TẾ:
Dệt may đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt với
các nước đang phát triển. Vai trò đó thể hiện ở ba khía cạnh trong nền kinh tế:
- Đây là ngành cung cấp cho xã hội những sản phẩm thiết yếu của đời sống hàng ngày.
3.1.1. Về sản xuất:
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dệt may Trung Quốc là
9%/ năm. Hiện nay, Trung Quốc có hơn 13.600 công ty sản xuất, xuất khẩu hàng may mặc
và có 43,1 triệu nhân công. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn là một trong 10 quốc gia có chi
phí nhân công rẻ nhất trong ngành dệt may với chỉ có 0,7 USD/ giờ.
3.1.2. Về xuất khẩu:
Trung Quốc là nước dẫn đầu ở cả thị trường dệt và may. Năm 2000, giá trị xuất khẩu hàng
dệt là 16,14 tỷ USD, chiếm 10,2% thị phần trên thế giới, giá trị xuất khẩu hàng may mặc là
36,07 tỷ USD, chiếm tới 18% thị phần, chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
Trung Quốc. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, năm 2002, nước này sản xuất được 20 tỷ
sản phẩm may mặc và có doanh thu 48 tỷ USD. Nếu chia số sản phẩm này cho dân số trên
thế giới thì có nghĩa là Trung Quốc có thể cung cấp cho mỗi người 4 sản phẩm.
Những phân tích trên cho thấy, Trung Quốc là nước có nhiều thế mạnh về may mặc. Hơn
nữa, Chính phủ cũng ưu tiên chú trọng phát triển ngành dệt may. Đây là bài học điển hình
cho các nước khác.
3.2. Thái Lan:
3.2.1. Về sản xuất:
Năm 2001, Thái Lan có 4.544 công ty sản xuất hàng dệt may. Trong đó, khoảng 90% nhà
máy nằm ở Băngkok và các vùng lân cận (Băngkok, Samut Prakarn, Samut Sakhon,
Nontaburi, Patumtani Nakhon Pathom). Cũng trong năm 2001, công nghiệp dệt may Thái
Lan có số nhân công 1.081.540 người. Đây cũng là số nhân công lớn nhất so với các ngành
công nghiệp chế tạo khác. Các sản phẩm chính gồm có tơ, sợi, vải tổng hợp các loại và
quần áo. Sản lượng của các sản phẩm này được thống kê như sau:
Bảng 1: Sản lượng đầu ra của ngành dệt may Thái Lan năm 2001
Đơn vị:1.000 tấn
Sản phẩm Sản lượng
Tơ nhân tạo 742,3
Sợi cotton 337,7
Sợi tổng hợp 550,5
Vải các loại 718,8
3.3.1. Về sản xuất:
Ngành dệt may Inđônêxia có khoảng hơn 2.600 doanh nghiệp và hơn 1,2 triệu lao động.
Inđônêxia đã cố gắng duy trì được mức tăng trưởng liên tục của ngành dệt may, kể cả khi
có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997. Chính phủ Inđônêxia có chính sách chú
trọng đặc biệt đến ngành dệt may.
3.2.2. Về xuất khẩu:
Inđônêxia đứng trong “top” 15 nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may trên thế
giới. Với tốc độ tăng trưởng đều đặn của sản xuất và xuất khẩu, năm 2001, kim ngạch xuất
khẩu đạt 7,68 tỷ USD, chiếm 17,6% kim ngạch xuất khẩu của nước này.
Bảng 3: Xuất khẩu hàng dệt may của Inđônêsia năm 1997 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 135 146 97 135 105
Sợi 762 889 1.177 1.326 1.244
Vải 1.354 1.345 1.614 1.913 1.526
Hàng may mặc 2.678 2.406 3.526 4.281 4.000
Hàng dệt may khác 243 235 437 549 800
Tổng giá trị 7.319 7.321 7.157 8.204 7.678
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại hội nghị hàng dệt may khu vực Châu Á - Thái Bình Dư-
ơng năm 2002.
Với sự phát triển liên tục, kể cả khi có khủng hoảng trên thế giới và trong khu vực,
sự kỳ vọng đạt được 9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2004 của Inđônêxia là có khả
năng. Đây là nước có tiềm năng đáng để các nước khác kính nể.
Bảng 4: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 797 8566 905 1.039 1.049
Sợi 1.937 2.074 2.107 2.298 2.3215
Vải 1.752 1.894 1.904 1.972 1.992
Hàng may mặc 486 564 572 573 584
chung và hàng dệt may nói riêng không ngừng tăng. Với sự vượt trội về kinh tế Hoa Kỳ
cùng với EU và Nhật Bản đã trở thành những thị trường tiêu dùng hàng hoá với số lượng
lớn trên thế giới. Song trong những năm gần đây, với sự phát triển kinh tế thần kỳ của
mình, Trung Quốc được biết đến như một thị trường mới đầy hấp dẫn. Trung Quốc chiếm
tỷ lệ lớn trong tổng tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới.
Biểu đồ 1: Tiêu dùng hàng dệt may ở một số khu vực thị trường
Đơn vị: triệu tấn
Nguồn : Textile Outlook International.
Tuy nhiên, cứ với đà tăng trưởng như hiện nay thì chỉ đến năm 2005, Trung Quốc sẽ trở
thành thị trường lớn nhất trên thế giới. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra, vì Hoa Kỳ cũng
như EU đang áp dụng rất nhiều rào cản kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước
ngoài. Còn Nhật Bản, dù có chính sách phi hạn ngạch, với số dân 193 triệu người (năm
2000) và có mức tiêu dùng đầu người rất cao cũng không thể sánh được với thị trường 1,2
tỷ dân của Trung Quốc. Có thể nói trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ là thị trường
đầy tiềm năng cho hàng dệt may.
Ngoài ra, cũng có thể thấy qua con số thống kê lượng hàng nhập khẩu của các nước này
trong những năm 1980 – 2000:
Hoa Kỳ
Trung Qu cố EU
Nh t B nậ ả
0
2
4
6
8
10
12
4.8
3.9
Canada 4,13 2,3 2,2 2,5 6 4 -1 3
Bỉ 3,63 - - 2,2 - - - -4
Tây Ban Nha 3,32 0,6 1,9 2 5 12 -2 -4
Hàn Quốc 3 0,7 1,8 1,9 5 -38 35 -
Hà Lan 2,64 4 3,4 1,6 -3 -24 -4 -6
Ba Lan 2,43 0,5 0,2 1,5 26 14 -7 -4
Tổng cộng 89,27 55,4 62,6 53,4 - - - -
Nguồn: www.wto. org
Biểu đồ số 1 và bảng số liệu 6 cho thấy Hoa Kỳ đang là thị trường tiêu thụ hàng dệt may
lớn nhất trên thế giới. Mức tiêu thụ sản phẩm dệt may của Hoa Kỳ là 9,6 triệu tấn năm
2001. Tiếp theo sau là Trung Quốc với mức tiêu thụ 8,7 triệu tấn. Các vị trí tiếp sau thuộc
về EU và Nhật Bản.
Qua phân tích vai trò của dệt may trong nền kinh tế quốc dân, tình hình nhu cầu tiêu thụ,
sản xuất và xuất khẩu một số nước tiêu biểu trên thế giới, ta rút ra nhận xét: dệt may chiếm
một vị thế quan trọng không thể thiếu được đối với chính sách phát triển kinh tế của mỗi
nước, đặc biệt những nước đang phát triển. Hỗu hết các nước mạnh về dệt may đều có
những điểm tương đồng với Việt Nam. Bài học của họ rất có ích cho chúng ta. Đồng thời,
ta cũng nên phát huy những ưu điểm của họ và những nhược điểm mà các nước này mắc
phải.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY Ở VIỆT NAM
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM:
Ta đã biết, sản phẩm may mặc rất thiết yếu đối với nhu cầu của con người, nên nó đã xuất
hiện từ rất sớm. Việt Nam cũng vậy, dệt may cũng có một quá trình phát triển lâu dài. Nơi
đây có hàng loạt làng nghề thủ công trồng bông, nuôi tằm, xe tơ, kéo sợi, dệt vải… trải dài
theo chiều dài đất nước. Tuy nhiên, nếu xét về quy mô sản xuất công nghiệp, thì dệt may
Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, mới chỉ có gần nửa thập kỷ phát triển. Nhưng trái lại đây là
ngành có những thay đổi nhảy vọt. Cùng với sự chuyển mình và phát triển của nền kinh tế,
dệt may cũng có những giai đoạn phát triển tương ứng. Ta có thể chia làm ba giai đoạn như
bằng giữa ngành may và ngành dệt.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn còn những hạn chế do cơ chế chung của cả nền kinh tế.
Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao, mà không có sự linh
động sáng tạo trong sản xuất, cũng như cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng. Điều đó
dẫn đến cần có những thay đổi nhận thức mới để tạo ra một thời kỳ chuyển biến mới.
1.2. Giai đoạn từ 1986 - 1997:
Nếu như giai đoạn trước 1986 là quá trình hình thành và định hình ngành công nghiệp dệt
may Việt Nam thì giai đoạn này chính là quá trình phát triển.
1.2.1. Tình hình kinh tế trong nước:
Trước năm 1990, do Việt Nam chỉ quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa nên phần lớn sản
phẩm dệt may được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các nước Đông Âu. Khi thị
trường xã hội chủ nghĩa tại các nước Đông Âu sụp đổ, cũng như việc Việt Nam chuyển
nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường đã khiến
cho các doanh nghiệp (phần lớn là doanh nghiệp nhà nước) gặp không ít khó khăn. Họ vấp
phải những khó khăn về tổ chức sản xuất, về nguyên liệu đầu vào, cũng như tiêu thụ đầu
ra.
Quen với cơ chế làm ăn thời bao cấp, doanh nghiệp được cấp vốn, đầu vào có sẵn, sản xuất
theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, đầu ra được bao tiêu toàn bộ, thì nay, phải hoạt động như
một chủ thể kinh tế hoàn toàn độc lập. Các doanh nghiệp bắt đầu lộ ra những nhược điểm:
quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn hoạt động, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, kỹ năng tổ chức sản
xuất thiếu khoa học
1.2.2. Tình hình sản xuất kinh doanh chung của ngành dệt may:
Theo Nghị định số 338/NĐ - CP của Chính phủ, các doanh nghiệp dệt may không thuộc
sự quản lý, điều hành của Liên hiệp Sản xuất - Xuất nhập khẩu dệt may nữa, mà chuyển
cho Bộ Công nghiệp. Các doanh nghiệp do đó phải tự hạch toán độc lập. Đây thực sự là
một thời điểm khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam.
Thời kỳ này, nhiều doanh nghiệp do không thích ứng được với tình hình mới, nên kinh
doanh bị thua lỗ liên tục, đứng trên bờ vực phá sản. Để tự cứu mình nên các doanh nghiệp
hoạt động tách rời. Vì thế nên đã xuất hiện tư tưởng cục bộ mạnh ai nấy làm, cá lớn nuốt
cá bé. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, phát triển kinh doanh một cách tự phát, dù
công nghệ cùng với việc giảm bớt lao động dư thừa phản ánh cam kết của ngành tới công
tác cải tiến chất lượng liên tục. (Continuous Quality Improvement – CQI), đặc biệt là hiện
đại hoá, tăng năng suất và đẩy mạnh công tác marketing. Công việc nghiên cứu, triển khai
ứng dụng (R&D) rất được chú trọng. Kết quả đến nay cho thấy Tổng công ty Dệt may Việt
Nam vẫn là một trong những đơn vị hoạt động có hiệu quả nhất trong các Tổng công ty 90,
91 khác. Các chỉ tiêu ké hoạch đề ra của Tổng công ty đèu đạt và vượt. Tích cực đổi mới,
tăng cường tập đầu tư vào những lĩnh vực xương sống là phương châm đề ra của
VINATEX. Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng về kết quả hoạt động kinh doanh trong
thời gian 1993- 1997:
Bảng 7: Kết quả thực hiện chỉ tiêu của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Chỉ tiêu Đơn vị 1993 1994 1995 1996 1997
Giá trị tổng sản lượng Tỷ đồng 1.445 2.488 2.964,5 3.283,6 3.653
Tổng doanh thu Tỷ đồng 2.692 3.500 4.566,9 4.593 5.283
Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 111,9 138 350 395,4 474,7
Kim ngạch nhập khẩu Triệu USD 121 180,6 347 407,5 417,8
Sợi các loại 1.000 tấn 7,6 43,5 51,2 56,9 59
Vải lụa thành phẩm Triệu mét 109,2 104 124,4 127,8 140
Quần áo dệt kim Triệu sản
phẩm
20,1 15,5 22,1 23 25
Quần áo may sẵn Triệu sản
phẩm
25.5 30,9 33,3 35,1 41,3
Nguồn: Báo cáo tổng kết – Ban kế hoạch đầu tư (VINATEX).
Qua bảng trên cho thấy Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có tốc độ phát triển khá cao. Sản
lượng tăng 10% đến 19%, doanh thu tăng từ 15% tới 30%, kim ngạch xuất khẩu tăng từ
13% tới 24%, có năm lên tới 154%. Số liệu về tốc độ phát triển có thể tổng hợp theo bảng
sau:
Bảng 8: Tốc độ phát triển của VINATEX gia đoạn 1993 - 1997
Chỉ tiêu
Nhật Bản, ASEAN… Đây là nguồn gốc tạo nên sự phát triển vượt bậc trong ngành dệt may
Việt Nam.
- Tuy nhiên, đối với ngành dệt may, sự phát triển nhanh chóng đó cũng bộc lộ những
nhược điểm phải giải quyết. Ngoài yếu tố như ít vốn, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý
kém cỏi đã được giải quyết một phần nào nhất là từ cuối thập niên 90 thế kỷ 20. Chúng ta
còn một nhược điểm lớn nữa là sự phát triển mất cân đối giữa ngành dệt và ngành may.
Nếu trước đây, quy hoạch các nhà máy dệt và nhà máy may được phát triển đồng đều theo
kế hoạch của Nhà nước, thì trong giai đoạn này quá trình đầu tư lại tập trung vào phát triển
vào ngành may.
Ngành dệt mới chỉ đủ khả năng cung cấp 10% sợi cotton và 20% lượng vải cần cho nhu
cầu sản xuất trong nước. Phần nguyên liệu còn lại phải nhập khẩu. Điều này dẫn đến phụ
thuộc quá nhiều vào nguồn cung cấp đầu vào của nước ngoài. Nó có thể gây ít ảnh hưởng
tới các hợp đồng gia công xuất khẩu theo phương thức CMT (Cutting - Making
-Trimming). Nhưng nếu chuyển sang xuất khẩu trực tiếp thì sẽ gây ra không ít bất lợi.
1.3. Giai đoạn từ 1997 tới nay:
Giai đoạn này, Việt Nam có những tiến bộ vượt bậc, góp phần quan trọng vào quá trình ổn
định, phát triển kinh tế. Năm 1999, chiếm 8,58% tổng giá trị đầu ra của các nghành công
nghiệp và 15% tổng giá trị xuất khẩu. Hàng dệt may xuất khẩu là một trong những những
mặt hàng có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Ta có
thể thấy rõ trong bảng sau:
Bảng 9: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam so với các hàng khác.
Hàng hoá Đơn vị 2001 2002 Tốc độ tăng
trưởng
Thủy sản Triệu USD 1.778 2.024 13,8%
Gạo 1.000 tấn 3.729 3.241 - 13,1%
Cà phê 1.000 tấn 931 710 -23,7%
Cao su 1.000 tấn 308 444 44,2%
Hạt tiêu 1.000 tấn 57 77 35,4%
Nhân điều 1.000 tấn 41 63 54,8%
Lạc nhân 1.000 tấn 78 107 36,7%
2001 474.340 10.260 2,1 15.810
Nguồn: Bộ Thương mại.
Một trong những tiến bộ của dệt may Việt Nam là thâm nhập thành công thị trường Hoa
Kỳ. Sau một thời gian tìm hiểu về thị trường rộng lớn này, các doanh nghiệp đã xuất khẩu
thành công hàng may mặc sang thị trường này và nhập khẩu nguyên liệu cho quá trình sản
xuất. Nhờ đó mà năm 2002, Hoa Kỳ trở thành thị trường lớn nhất của ngành dệt may Việt
Nam. Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt trên 900 triệu USD. Chi tiết cụ thể về thị
trường này sẽ được ngiên cứu rõ hơn trong phần phân tích về các thị trường chính của
ngành dệt may Việt Nam.
Qua nghiên cứu các giai đoạn phát triển trên, ta thấy được những tiềm năng, những mặt
mạnh cần phát huy, cũng như những tồn tại cần giải quyết, tranh thủ thời cơ để ngành dệt
may Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường thế giới.
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT
NAM:
2.1. Tình hình sản xuất:
Như ta đã biết, trong thời gian qua dệt may Việt Nam đã có những sự phát triển nhảy vọt,
đóng góp to lớn vào sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước. Minh chứng đó được thể
hiện qua các số liệu thực tế:
Bảng 11: Tỷ lệ phát triển trong nền kinh tế quốc dân
Chỉ tiêu 1995 1999 2000 2001
GDP (%) 9,5 4,8 6,75 6,8
Toàn ngành công nghiệp (%) 13,6 8 15,79 14,3
Ngành công nghiệp dệt may (%) 14 12 15 12,5
Tổng kim ngạch xuất khẩu (%) 34,4 23,3 23,9 10,5
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
(%)
29,2 29,3 8,3 5,8
Nguồn : Bộ Thương mại.
Bảng cho thấy từ năm 1993 – 2000, dệt may Việt Nam luôn giữ một tốc độ tăng trưởng cao
và ổn định với mức tăng trưởng hàng năm là từ 12% tới 15%. Theo số liệu thống kê năm
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Tổng kim ngạch xuất
khẩu
35% 17% 0% 29% 8% 4%
Quần áo may sẵn
36% 17% 0% 29% 8% 3%
Vải
40% 14% 2% 27% 10% 14%
Sợi các loại
35% 17% 0% 30% 43% 74%
Các sản phẩm khác
32% 19% -2% 32% 3% -6%
Nguồn: Bộ Thương mại.
Nếu lấy định gốc năm 1995, thì năm 2001, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của
Việt Nam đã tăng 2,3 lần. Các loại hàng hoá cụ thể khác cũng có mức tăng trưởng khá cao
như quần áo may sẵn tăng 2,3 lần, vải tăng 2,6 lần, sợi các loại tăng 5,1 lần, vv…
Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu ta thấy tỷ trọng của hàng may mặc chiếm phần lớn
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may. Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt như
vải, sợi chiếm một tỷ trọng nhỏ nhưng có tốc độ tăng trưởng rất cao so với hàng quần áo
may sẵn. Điều này cho thấy trong ngành dệt may đang có những thay đổi tích cực về mặt
cơ cấu sản phẩm. Việc tăng lên của kim ngạch hàng vải và sợi cho thấy việc đáp ứng nhu
cầu nguyên liệu trong nước trong thời gian qua.
3. MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM CỦA DỆT MAY VIỆT
NAM:
Sau hơn 10 năm tham gia vào thương mại quốc tế, ngành dệt may Việt Nam đã có được
chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Các thị trường chủ yếu là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và
ASEAN. Ngoài ra, các nước Đông Âu, Trung Đông là những khách hàng tiềm năng cần
khai thác.
Tổng quan chung về thị trường xuất khẩu của Việt nam được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 16: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của ngành dệt may
muốn làm ăn và tiêu dùng hàng hoá của các nước Tây Âu, nhưng thực tế, sức mua thị trư-
ờng còn hạn chế bởi mức sống bình quân còn thấp. Trước thực tế đó, không ít các nước
thuộc khu vực này mong muốn nối lại quan hệ làm ăn với Việt Nam và các nước Đông
Nam Á.
3.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu:
Đông Âu là thị trường truyền thống, vốn rất quen thuộc và có quan hệ lâu năm với Việt
Nam, cũng như sự hiểu biết đối với ngành dệt may nước ta. Song do thời gian qua các
doanh nghiệp không chú trọng nên hiện nay, buôn bán hàng may mặc giữa Việt Nam với
các nước Đông Âu mới chỉ là xuất khẩu tiểu ngạch. Nhưng do nhiều nguyên nhân nên hoạt
động này cũng kém hiệu quả.
Hiện nay, dù có yêu cầu cao hơn về mẫu mã chủng loại, chất lượng, song nhìn chung Đông
Âu vẫn là khu vực dễ tính. Điều đó phù hợp với trình độ dệt may của Việt Nam. Việc đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng nơi đây là điều hoàn toàn có khả năng thực hiện.
Để Việt Nam để có thể trở lại tiếp cận thị trường này, cần tích cực mở rộng hoạt động tiếp
thị, tìm ra phương thức kinh doanh hợp lý. Cần có sự can thiệp ở cấp vĩ mô giữa nhà nước
với nhà nước thì hàng dệt may mới có thể thâm nhập mạnh mẽ.
3.2. Thị trường EU:
3.2.1 Đặc điểm thị trường:
Liên minh Châu Âu (EU) gồm 25 nước thành viên, diện tích bằng 1/6 địa cầu, dân số lên
hơn 500 triệu người. Giá trị tổng sản phẩm xã hội hơn 5.000 tỷ USD. EU đạt trình độ cao
về kỹ thuật hiện đại. Có thế mạnh về hầu hết các ngành kinh tế, song lại rất thiếu nguyên
nhiên liệu. Về thương mại, EU chiếm 1/5 kim ngạch mậu dịch toàn thế giới, trong đó xuất
khẩu chiếm 21%. Các bạn hàng thương mại lớn nhất của EU là Hoa Kỳ, Nhật Bản và
ASEAN.
EU có lịch sử phát triển công nghiệp dệt may lâu đời, là trung tâm mốt thời trang với nhiều
công ty tạo mốt thời trang nổi tiếng thế giới như Fendi, Piere - Cardin, Christian Dior,
Yves Saint - Laurent, vv… Đây là nơi có nhiều thông tin nhất về thời trang. EU có kỹ thuật
sản xuất những sản phẩm may mặc cao cấp truyền thống với các loại sợi thiên nhiên như
len, tơ tằm, sợi tổng hợp…
Thời gian qua, với xu hướng chuyển dịch ngành công nghiệp dệt may sang các nước có giá
Năm 1992, nhập khẩu tới 36 tỷ Đôla Mỹ quần áo, 45,7 tỷ USD hàng dệt. Các nước nhập
khẩu quần áo lớn nhất Đức: 24,8 tỷ USD; Pháp: 9,8 tỷ USD và Anh :7,9 tỷ USD.
Năm 1996, giá trị nhập khẩu 38,8 tỷ USD quần áo và 16,9 tỷ USD hàng dệt.
Trong cơ cấu mậu dịch, ngoài số tự sản xuất tiêu dùng chiếm 39% khối lượng quần áo
(bằng 44,8 tỷ USD) được trao đổi trong nội bộ EU, còn lại nhập từ Châu Á chiếm 17,5%
(bằng 18 tỷ USD).
Nhu cầu về hàng dệt may EU ngày càng tăng được bù đắp bằng hàng nhập khẩu từ các
nước có giá lao động thấp. Vì lý do đó, sản phẩm dệt may xuất khẩu ở các nước Châu Á
cũng sẽ gia tăng với tốc độ cao. Chẳng hạn, Trung Quốc xuất sang Đức 37 triệu bộ đồ lót,
sang Đan Mạch 160 triệu bộ với giá 0,32 USD/bộ. Trong khi đó ở ở Đức giá thường là 10
USD/bộ, ở Italia giá là 17 USD/bộ. Bởi vậy, sức hấp dẫn về giá cả cạnh tranh của khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Trung Quốc sẽ lôi cuốn mạnh mẽ thị trường EU.
Tổ chức quốc tế Kurit Saluen Assosiate đưa ra đánh giá về xu hướng thị trường dệt may
EU như sau: “Vải dệt và quần áo nhập khẩu từ các nước ngoài khối EU sẽ ngày càng
khống chế thị trường Châu Âu trong những năm tới. Các hình thức bán lẻ đa dạng và sự
cạnh tranh của nền công nghiệp dệt và may mặc từ các nước đang phát triển ngày càng
thúc đẩy xu hướng phát triển này ở thị trường Châu Âu”.
Cho đến nay EU đã ký nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương với các nư-
ớc, các tổ chức kinh tế và các khu vực kinh tế. Với ASEAN, EU đã ký hiệp định hợp tác,
tạo điều kiện tăng cường trao đổi buôn bán và đầu tư.
Sau 10 năm hợp tác, EU là thị trường quen thuộc. Đây là thị trường đòi hỏi chất lượng cao,
điều kiện thương mại nghiêm ngặt, mức bảo hộ đặc biệt cao. EU nổi tiếng là khách hàng
khó tính về mẫu mã, chất lượng, thời gian giao hàng. Mặt khác, mối quan hệ truyền thống
lâu đời giữa EU với 50 bạn hàng khác trên thế giới đã thẩm định tính nghiệt ngã này. Đây
là bức tường thành cản trở sự thâm nhập của ta vào thị trường này. Nếu xem xét kỹ, thì nó
cũng mở ra một thị trường rộng lớn để các doanh nghiệp có cơ hội vươn lên thích ứng và
phát triển. Qua đó sẽ cải thiện được năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, mẫu mã,
chủng loại, phương thức kinh doanh, tiếp thị.
Thực tế cho thấy, EU giữ một vị trí rất quan trọng và là thị trường trọng điểm. So với các
nước có quota vào EU thì Việt Nam mới chiếm khoảng 0,7% tổng kim ngạch nhập khẩu
Nhiều người cho rằng người Nhật khó tính hơn người Mỹ. Còn thương nhân Pháp nhận xét
như sau về thị trường Nhật: “người tiêu dùng Nhật không dùng sản phẩm có bất cứ khuyết
tật nào, người Pháp có thể chấp nhận một lỗi nhỏ như mật độ mũi may không đảm bảo, với
điều kiện bớt tiền, còn người Nhật thì không”. Các thương nhân Đài Loan, Hồng Kông,
Hàn Quốc có nhiều năm kinh nghiệm làm ăn buôn bán với người Nhật Bản đều có chung
nhận xét: “Tốt nhất khi khách hàng Nhật báo cho ta biết một sơ suất hay một khuyết tật
nào đó của sản phẩm thì hãy trình bày biện pháp khắc phục, cải tiến nó. Đừng bao giờ nói
khuyết tật đó không quan trọng, dù chỉ xảy ra một nỗi nhỏ không đáng kể”.
Song nếu am hiểu lịch sử thì điều đó không có gì lạ. Nhật Bản có câu “Đừng quay lưng lại
với người Nhật, thì người Nhật không bao giờ quay lưng lại với bạn ”.
3.3.2. Nhu cầu tiêu thụ:
Người Nhật chỉ mua những cái gì thích hợp với mình. Chất lượng là điều họ quan tâm trên
hết. Họ luôn kiểm tra kỹ lưỡng trước khi mua. Do vậy, muốn xuất khẩu sang Nhật Bản, các
doanh nghiệp đều phải cố gắng tìm ra mặt hàng nào mà khách hàng Nhật thực sự có nhu
cầu. Có như vậy mới tìm ra hướng sản xuất và phải sản xuất hàng có chất lượng cao. Tuy
nhiên, đối với sản phẩm dệt may thì hầu hết các trường hợp đều phải thay đổi, điều chỉnh
hoặc nâng cấp chất lượng trước khi xuất sang Nhật Bản. Các doanh nghiệp cần chú ý đặc
điểm này để sản phẩm thích ứng được với các đối tượng khách hàng khác nhau.
Như đã nêu ở trên, Nhật Bản là thị trường có nhu cầu lớn về sản phẩm dệt may. Năm 1995,
tiêu thụ hàng dệt may tới 116,3 tỷ USD. Thị trường này có sự cạnh tranh rất khắc nghiệt,
đặc biệt là sự cạnh tranh từ các nguồn hàng nhập khẩu. Từ năm 1986, Nhật Bản chuyển đổi
chiến lược, tập trung sản xuất các mặt hàng có hàm lượng chất xám cao, giảm sản xuất
trong nước, tăng nhập khẩu hàng dệt may. Dự kiến trong 5 năm tới sẽ tăng nhập khẩu
hàng dệt may lên 50 -60%.
3.3.3. Tình hình xuất nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản thường rất cao.
+ Năm 1995: 23,48 tỷ USD hàng dệt; 17,5 tỷ USD hàng may mặc.
+ Năm 1996: 27,45 tỷ USD hàng dệt; 18,95 tỷ USD hàng may mặc.
Trong các thị trường phi hạn nghạchq, cần xác định Nhật Bản là một đại bàn quan trọng
đối với các doanh nghiệp dệt may nước ta.
Hiện nay, quan hệ hai bên đã được bình thường hoá. Hiệp định thương mại song phương
và hiệp định hàng dệt may được ký kết. Đó chính là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sản
phẩm dệt may sang thị trường này.
Với Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn chưa áp dụng quy chế “tối huệ quốc” (MFN: Most Favoured
Nation Treatment) thường xuyên và “ưu đãi thuế quan phổ cập”( GSP: Generalired System
of Preferences). Mặt hàng dệt may từ Việt Nam qua Hoa Kỳ do đó sẽ chịu mức thuế nhập
khẩu từ 40 - 90%. Trong khi Trung Quốc và một số nước khác được hưởng quy chế “tối
huệ quốc” chỉ chịu mức thuế 25%.
Khi đó, dẫn đến ưu thế cạnh tranh không thuộc về các doanh nghiệp Việt Nam. Vì chưa có
MFN nên hàng dệt may của ta rất khó vào thị trường Hoa Kỳ. Nhưng nếu biết khai thác lợi
thế so sánh là lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp thì không phải là ta không
xuất được hàng sang Hoa Kỳ. Hơn nữa, sản phẩm của ta gần đây đã phát triển tới trình độ
nhất định, nhiều mẫu hàng đã khẳng định được vị trí và chiếm được uy tín trong một số thị
trường khó tính.
3.4.2. Nhu cầu tiêu thụ:
Một trong những mặt hàng nhập khẩu lớn là hàng dệt may. Hàng nhập khẩu có mẫu mã hết
sức đa dạng phong phú. Đặc biệt, Hoa Kỳ có những hợp đồng rất lớn, do đặc trưng nhu cầu
tiêu thụ hàng dệt may ở thị trường này rất cao. Năm 1995, mức tiêu thụ hàng dệt may của
Hoa Kỳ tới 192 tỷ USD. Trong đó, tự sản xuất được 157 tỷ USD, xuất khẩu 12 tỷ USD,
nhập khẩu 46 tỷ USD.
Trung Quốc vẫn là nguồn cung cấp lớn nhất về hàng dệt may vào Hoa Kỳ, tiếp đến là
Mêhicô, Canađa. Từ năm 1955 đến nay, Canada và Mêhicô (hai thành viên NAFTA) có xu
hướng xuất mạnh hàng dệt may vào Hoa Kỳ, do các thành viên NAFTA được hưởng ưu
đãi thuế quan và hạn ngạch. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng sẵn sàng mua hàng dệt may của
những nước này để tiết kiệm thời gian và cước phí vận chuyển. Từ tháng 1 đến tháng 7
năm 1996, Mêhicô tăng 40,55% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, 40,18% hàng may mặc;
Canađa tăng 20,45% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt. Sau đây là kim ngạch nhập khẩu hàng
dệt may của Hoa Kỳ trong các năm 1989 - 1995:
+ Năm 1989: 24,05 tỷ USD
+ Năm 1990: 26,2 tỷ USD
+ Tuy nhiên về may xuất khẩu, Việt Nam đang gặp một số khó khăn, bất lợi như:
+ Hầu hết các mặt hàng đang được sản xuất đều dùng nguyên liệu nhập khẩu, kể cả phụ
liệu. Do đó, chúng ta không tận dụng được sản phẩm của ngành dệt trong nước.
+ Theo dự báo của các chuyên gia nghiên cứu thị trường, trong vòng 3 - 4 năm tới, Việt
Nam có thể xuất 2 tỷ USD hàng may mặc vào thị trường Hoa Kỳ. Nhưng công nghiệp dệt
may Việt Nam khó có thể đáp ứng ngay nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ về số lượng nếu
không tích cực chuẩn bị nguyên liệu, vốn, năng lực sản xuất, nhân công
Trong khuôn khổ đàm phán WTO từ 1/1/1995, thì trong vòng 10 năm nữa hàng rào hạn
ngạch dệt may bị loại bỏ và thuế sẽ giảm trung bình 9%. Các nước xuất khẩu hàng dệt may
đang chuẩn bị chiến lược xuất khẩu phi hạn ngạch vào thị trường Hoa Kỳ vào năm 2005.
Đặc biệt, những nước có lợi thế nhân công rẻ. Với Việt Nam, tỷ lệ xuất khẩu vào Hoa Kỳ
còn quá thấp (0.037% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ năm 1995 và
0,7% vào năm 2002). Chúng ta cần đề ra chiến lược quy hoạch, phát triển chất lượng, tiếp
thị. Chính sách đó phải tạo ra được sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng và thị hiếu
của thị trường Hoa Kỳ. Chúng ta cũng phải đầu tư đón trước thời cơ. Nếu như vậy, nhất
định sẽ đặt chân vững chắc vào được thị trường này.
3.5. Thị trường ASEAN:
Đây là thị trường gần Việt Nam nhất và cũng có những nét giốngViệt Nam. Đó là thị
trường các nước ASEAN. Thị trường các nước ASEAN đầy tiềm năng và rất dễ thâm nhập
đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
3.5.1. Đặc điểm thị trường:
Trong vài thập kỷ qua, khu vực kinh tế ASEAN được coi là năng động nhất thế giới. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của các nước ASEAN đứng vào hàng đầu thế giới. GDP
tăng trung bình từ 5 – 11%/năm. Tất cả các nước ASEAN đều có ngành công nghiệp dệt
chiếm tỷ lệ khá lớn trong ngành công nghiệp chế tạo. Tỷ trọng ngành dệt của các nước này
đều chiếm trung bình từ 13 – 20% trong toàn bộ ngành công nghiệp. Dệt may giữ vai trò
nòng cốt trong nền kinh tế quốc dân, là nguồn thu ngoại tệ chính chỉ xếp sau dầu khí, tạo ra
nhiều công ăn việc làm.
Trong những năm gần đây, do tốc độ phát triển kinh tế cao, mức sống ở một số nước đang
được nâng lên cùng với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng mãnh liệt khiến cho tốc độ phát
này thì thành công của chúng ta chắc sẽ không nhỏ.