Tài liệu Tiểu luận: “Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác quản lý tiền lương tại Công ty Sông Đà 2” doc - Pdf 10


TRƯỜNG
KHOA…………………… TIỂU LUẬN
Đề tài
Một số ý kiến nhằm hoàn
thiện công tác quản lý tiền
lương tại Công ty Sông Đà 2

1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG 7
I/ KHÁI QUÁT VỀ TIỀN LƯƠNG 7
1. Khái niệm tiền lương 7
2. Bản chất, chức năng của tiền lương. 8
2.1. Bản chất của tiền lương . 8
2.2. Chức năng của tiền lương. 10
2.2.1. Chức năng thước đo giá trị của sức lao động 10
2.2.2. Chức năng duy trì và mở rộng sức lao động 10
2.2.3. Chức năng động lực đối với người lao động 11
2.2.4. Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội 11

A/ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY SÔNG ĐÀ 2 ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC
QUẢN LÝ QUỸ TIỀN LƯƠNG. 29
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Sông Đà 2 thuộc Tổng
Công ty Sông Đà. 29
II. Một số đặc điểm chủ yếu của Công ty có ảnh hưởng tới công tác quản lý
tiền lương. 32
1. Chức năng, nhiệm vụ sản xuất của Công ty xây dựng Sông Đà số 2 32
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy sản xuất và quản lý của công ty. 34
3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tiền lương ở công ty: 37
3.1. Kế toán trưởng Công ty 38
3.2. Phó kế toán trưởng công ty - Kế toán Tổng hợp toàn công ty 39
3.3. Kế toán Nhật ký chung Cơ quan Công ty, 41
3.4. Kế toán Ngân hàng, Phải trả người bán. 42
3.5. Theo dõi thanh toán các hợp đồng xây lắp giao khoán cho các đơn vị 42
3.6. Kế toán Tiền mặt, thanh toán tạm ứng, kế toán giao khoán 43

3
3.7. Kế toán Tiền lương và Bảo hiểm xã hội, phải thu khách hàng, Phải thu
khác, kế toán thu vốn 43
3.8. Kế toán vật tư, Theo dõi TSCĐ, dụng cụ hành chính, Công cụ xuất dùng 44
3.9. Thủ quỹ làm công tác hành chính của phòng lưu trữ công văn đi, đến 45.
3.10. Nhiệm vụ của các kế toán chủ công trình 45
3.11. Nhiệm vụ trưởng ban kế toán các đơn vị trực thuộc 45
B/ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ QUỸ TIỀN LƯƠNG Ở CÔNG TY SÔNG ĐÀ 2 48.
I Xây dựng kế hoạch quỹ tiền lương. 48
1. Nguyên Tắc trả lương 48
1.1. Đối tượng áp dụng 48
1.2. Mức lương 48
1.3. Cán bộ đoàn thể 52
1.4. Các chế độ khác theo lương 53

sống, là điều kiện để người lao động tái sản xuất sức lao động mà họ đã hao
phí. Đối với doanh nghiệp thì tiền lương được coi là một khoản chi phí trong
quá trình sản xuất và được tính vào giá thành sản phẩm.
Thực tế đã chứng minh rằng ở doanh nghiệp nào có chính sách tiền
lương đúng đắn, tiền lương mà người lao động nhận được xứng đáng với
công sức mà họ đã bỏ ra thì người lao động trong doanh nghiệp đó sẽ hăng
hái lao động, tích cực cải tiến kỹ thuật, sáng tạo đem lại hiệu quả sản xuất
kinh doanh cao. Ngược lại nếu doanh nghiệp không có chính sách tiền lương
tốt, người lao động được trả lương không xứng đáng với công sức mà họ bỏ
ra hoặc không công bằng trong việc trả lương thì sẽ không kích thích được
người lao động thậm chí họ sẽ bỏ việc.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiền lương, sau quá trình
học tập tại trường Đại học Công đoàn và thời gian thực tập tại Công ty Sông
Đà 2 thuộc Tổng Công ty Sông Đà em đã chọn đề tài: “Một số ý kiến nhằm
hoàn thiện công tác quản lý tiền lương tại Công ty Sông Đà 2” làm đề tài
chuyên đề tốt nghiệp, em hy vọng qua chuyên đề này sẽ nghiên cứu sâu hơn

6
về vấn đề tiền lương tại Công ty và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn
công tác quản lý quỹ tiền lương.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN
LƯƠNG.
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TẠI
CÔNG TY SÔNG ĐÀ 2 THUỘC TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY SÔNG ĐÀ 2.

Tiền lương dưới chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN).
Trong thời kỳ TBCN, mọi tư liệu lao động điều được sở hữu của các
nhà tư bản, người lao động không có tư liệu lao động phải đi làm thuê cho chủ
tư bản, do vậy tiền lương được hiểu theo quan điểm sau: “Tiền lương là giá cả
của sức lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động”. Quan
điểm về tiền lương dưới CNTB được xuất phát từ việc coi sức lao động là một
hàng hoá đặc biệt được đưa ra trao đổi và mua bán một cách công khai.
Tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu của người
lao động và của các doanh nghiệp. Đối với người lao động thì tiền lương là
nguồn thu nhập chủ yếu của bản thân người đó và với gia đình họ, còn đối với
doanh nghiệp thì tiền lương lại là một yếu tố nằm trong chi phí sản suất.

8
Trong mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau
thì quan niệm về tiền lương cũng có sự thay đổi để phù hợp với hình thái kinh
tế xã hội.
2. Bản chất, chức năng của tiền lương.
2.1. Bản chất của tiền lương .
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung tiền lương có đặc điểm sau :
Tiền lương không phải giá cả của sức lao động, không phải là hàng hoá
cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như quản lý nhà nước xã hội .
Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối, tuân thủ những
nguyên tắc của quy luật phân phối .
Tiền lương được hiểu là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình
thức tiền tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân - viên chức
- lao động phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã
cống hiến, tiền phản ánh việc trả lương cho công nhân - viên chức - lao động
dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động.
Tiền lương được phân phối công bằng theo số lượng, chất lượng lao
động của người lao động đã hao phí và được kế hoạch hoá từ trung ương đến

: Chỉ số tiền lương thực tế
I
LDN
: Chỉ số tiền lương danh nghĩa.
I
G
: Chỉ số giá cả.
Tiền lương thực tế là sự quan tâm trực tiếp của người lao động, bởi vì
đối với họ lợi ích và mục đích cuối cùng sau khi đã cung ứng sức lao động là
tiền lương thực tế chứ không phải là tiền lương danh nghĩa vì nó quyết định
khả năng tái sản xuất sức lao động.
Nếu tiền lương danh nghĩa không thay đổi. Chỉ số giá cả thay đổi do
lạm phát, giá cả hàng hoá tăng, đồng tiền mất giá, thì tiền lương thực tế có sự
thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho người lao động.
Tiền lương tối thiểu: Theo nghị định 197/CP của Chính phủ ngày
31/12/1994 về việc thi hành bộ luật lao động ghi rõ: "Mức lương tối thiểu là
mức lương của người lao động làm công việc đơn giản nhất, (không qua đào
tạo, còn gọi là lao động phổ thông), với điều kiện lao động và môi trường
bình thường ". Đây là mức lương thấp nhất mà nhà nước quy định cho các
doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trả cho người lao động.

10
Tiền lương kinh tế là số tiền trả thêm vào lương tối thiểu để đạt được
sự cung ứng lao động theo đúng yêu cầu của người sử dụng lao động.
Về phương diện hạch toán, tiền lương của người lao động trong các
doanh nghiệp sản xuất được chia làm 2 loại tiền lương chính và tiền lương
phụ.
Trong đó tiền lương chính là tiền trả cho người lao động trong thời gian
họ thực hiện nhiệm vụ chính của mình, bao gồm tiền lương cấp bậc và các
khoản phụ cấp kèm theo. Còn tiền lương phụ là tiền trả cho người lao động

2.2.4. Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội .
Khi tiền lương là động lực cho người lao động hăng hái làm việc sản
xuất thì sẽ làm cho năng xuất lao động tăng lên, đây là tiền đề cho việc phân
công lao động xã hội một cách đầy đủ hơn. Người lao động sẽ được phân
công làm những công việc thuộc sở trường của họ .
Ngoài các chức năng trên tiền lương còn góp phần làm cho việc quản lý
lao động trong đơn vị trở nên dễ dàng và tiền lương còn góp phần hoàn thiện
mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quá trình lao động .

II/ CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Các nguyên tắc trả lương trong doanh nghiệp.
Để có thể tiến hành trả lương một cách chính xác và có thể phát huy
được một cách hiệu quả nhất những chức năng cơ bản của tiền lương thì việc
trả công lao động cần phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

12
- Trả lương ngang nhau cho lao động ngang nhau.
Đây là nguyên tắc cơ bản hàng đầu, nó phản ánh việc phân phối theo lao
động, dựa trên số lượng và chất lượng lao động, đảm bảo tính công bằng,
không phân biệt tuổi tác, giới tính dân tộc.
- Đảm bảo tăng tốc độ, tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân.
Đây là nguyên tắc làm cơ sở cho việc hạ giá thành sản phẩm, tăng tích
luỹ để tái sản xuất mở rộng, tăng năng xuất lao động là điều kiện để phát triển
sản xuất.
Tăng tiền lương bình quân là để tăng sự tiêu dùng.
Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, vì khi người lao

Lương tháng
=
Mức lương theo bảng
lương của Nhà nước
+
Các khoản phụ cấp
(nếu có)
Lương tuần = Tiền lương ngày x số ngày làm việc/tuần
Lương ngày: Là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và
số ngày làm việc thực tế của họ.

Lương tháng
Lương ngày =
26 ngày hoặc 22 ngày làm việc tuỳ theo chế độ
Lương công nhật: Là tiền lương thoả thuận giữa người sử dụng lao
động với người lao động, làm việc ngày nào hưởng lương ngày ấy theo quy
định đối với từng loại công việc.
Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm, để tính toán giản đơn.
Nhưng mang tính bình quân, thường không khuyến khích được tính
tích cực của người lao động, ít quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động.

14
• Trả lương theo thời gian có thưởng:
Thực chất là sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn với tiền thưởng,
khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất lượng và điều kiện thưởng
quy định.
Lương tháng =
Tiền lương theo
thời gian lao động
+ Tiền thưởng

i
: Đơn giá tiền lương một sản phẩm loại i

15
I : Số loại sản phẩm.
Hình thức này bao gồm:
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: Là hình thức mà số tiền
thưởng phải trả cho người lao động bằng đơn giá tiền lương trên một đơn vị
sản phẩm nhân với số lượng sản phẩm hoàn thành.
Cách áp dụng đối với người trực tiếp sản xuất trong điều kiện quá trình
lao động của họ mang tính tương đối độc lập, có thể tính mức kiểm tra,
nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể riêng biệt.
Tiền lương sản phẩm trực tiếp cá nhân được tính đơn giản dễ hiểu,
khuyến khích người lao động nâng cao trình độ lành nghề, nâng cao năng xuất
lao động nhằm tăng thu nhập. Tuy nhiên chế đọ lương này làm cho người lao
động ít quan tâm đến máy móc thiết bị, chỉ chạy theo số lượng, không chú ý
đến chất lượng, tiết kiệm nguyên vật liệu và không chú ý đến tập thể.
+ Trả lương theo sản phẩm tập thể: Hình thức tiền lương này áp dụng đối
với công việc yêu cầu một nhóm người phối hợp thực hiện như lắp ráp thiết
bị, sản xuất các bộ phận, làm việc theo dây chuyền, sửa chữa cơ khí.
Trường hợp công việc đa dạng có thể tiến hành theo mức lao động trên
cơ sở khoa học, nhưng thực tiễn tiền lương dựa trên cơ sở kinh nghiệm đơn
giá tiền lương. Cách tính như sau:
Nếu tổ chức sản xuất hoàn thành nhiều sản phẩm trong kỳ:
Đ
g
= L
CB
x Q
o

L
1
: Tiền lương thực tế nhận được cả tổ nhận được.
Q
1
: Số lượng thực tế tổ hoàn thành.
T
1
: Mức thời gian thực tế của tổ.
Vấn đề quan trọng đặt ra với hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là
xây dựng quy chế, phương thức phân phối tiền lương đến từng người trong
nhóm.
Tiền lương theo sản phẩm tập thể có tác dụng khuyến khích mỗi người
lao động trong nhóm nâng cao trách nhiệm với tập thể, quan tâm kết quả cuối
cùng của nhóm, khuyến khích các tổ làm việc theo mô hình tổ chức lao động
tự quản. Nhưng sản phẩm của mỗi lao động không trực tiếp quyết định đến
tiền lương của họ, nên ít kích thích người lao động nâng cao năng suất lao
động cá nhân. Mặt khác chưa tính được tình hình của từng người lao động
cũng như cố gắng của mỗi người nên chưa thể hiện được đầy đủ phân phối
theo số lượng và chất lượng lao động.
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Áp dụng tiền lương cho những
người làm công việc phục vụ, cho hoạt động công nhân chính.
- Tiền lương của công nhân phụ được tính bằng cách nhân đơn giá tiền
với lương cấp bậc của công nhân phục vụ với tỷ lệ % hoàn thành định mức
sản lượng bình quân của công nhân chính.
- Hình thức tiền lương được tính bằng công thức:
L
p
= L
CB

chỉ tiêu (thời gian, số lượng, chất lượng)
Tiền lương sản phẩm có thưởng được tính theo công thức:
L
(M x h)
L
TT
=
L + 100
Trong đó:
L : Tiền lương sản phẩm có thưởng.
L : Tiền lương trả theo đơn giá cố định.
M : Tỉ lệ % tiền lương (tính theo lương sản phẩm với đơn
giá cố định)
H: Tỉ lệ % hoàn thành kế hoạch vượt mức được tính
thưởng.

18
Chế độ tiền lương này kích thích người lao động nâng cao năng suất
lao động, chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian hoàn thành các mức lao
động. Tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất.
+ Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến.
Là hình thức trả lương dùng bằng hai loại đơn giá.
Đơn giá cố định dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn
thành.
Đơn giá luỹ tiến dùng để tính tiền lương cho những sản phẩm vượt định
mức đơn giá cố định nhân với tỉ lệ tăng đơn giá. Tỉ lệ đánh giá được quy định.
Khi tổ chức tiền lương theo đơn giá luỹ tiến phải tuân theo nguyên tắc
sau:
Xác định đúng đắn tỉ lệ tăng đơn giá tiền lương đảm bảo chi phí cố
định.

L
1
: Tiền lương thực tế của công nhân được nhận
Đ
g
: Đơn giá khoán cho một sản phẩm hoặc công việc.
Q
1
: Số lượng sản phẩm hoàn thành.
Giống như trả lương theo sản phẩm tập thể. Sau khi nhận được tiền
công do hoàn thành công việc, việc chia tiền lương cho các thành viên trong
nhóm thường căn cứ vào mức lương của từng thành viên và mức độ tham gia
đóng góp của người đó đối với công việc hoàn thành chung của cả nhóm cách
tính tiền lương này làm cho người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ
thuật để tối ưu hoá quá trình sản xuất, giảm bớt thời gian lao động, hoàn
thành công việc được giao khoán. Mà còn quan tâm nhắc nhở các thành viên
khác tích cực trong sản xuất, hoàn thành công việc thông qua hợp đồng
khoán.
3. Vai trò, ý nghĩa của tiền lương đối với người lao động trong việc nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Đối với các chủ doanh nghiệp, tiền lương là một yếu tố của chi phí sản
xuất, còn đối với người lao động tiền lương là một nguồn thu nhập chủ yếu.
Tiền lương dùng để trang trải mua sắm tư liệu sinh hoạt, các dịch vụ và nhu
cầu cần thiết phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người lao động như ăn ở

20
đi lại. Tiền lương không chỉ đảm bảo cho cuộc sống vật chất mà còn đảm bảo
cho cuộc sống vật chất mà còn đảm bảo cho cuộc sống tinh thần như: văn
hóa, nghỉ ngơi, tham quan du lịch, …
Mục đích của nhà sản xuất là muốn tối đa hóa lợi nhuận, còn mục đích

các ngành chức năng có những nghiên cứu, đề xuất cải tiến các chính sách
tiền lương.
Ngày 23/05/1993, Chính phủ ban hành nghị định 26/CP quy định tạm
thời chế độ tiền lương đối với các doanh nghiệp. Đây là sự cải tiến khá toàn
diện về tiền lương dựa trên những nguyên tắc, yêu cầu cấp bách của quá trình
đổi mới cơ chế quản lý đặt ra. Hiện nay các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện
các định mức chi phí tiền lương đều dựa trên các thông số về tiền lương của
Nghị định 26 này.
Để thi hành nghị định số 28/CP ngày 28/03/1997 và Nghị định số
03/2001/NĐCP ngày 11/01/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ xung một số điều
của nghị định 28/CP về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong doanh
nghiệp Nhà nước. Sau khi trao đổi ý kiến với Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn
Lao động - Bộ Lao động - Thương binh xã hội có thông tư số
05/2001/TTBLĐ-TBXH hướng dẫn xây dựng đơn giá tiền lương và quản lý
tiền lương trong các doanh nghiệp Nhà nước.
2. Đối tượng áp dụng:
- Là các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh theo luật
doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích.
- Các tổ chức đơn vị được phép sản xuất kinh doanh dịch vụ, các cơ
quan hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, …
3. Nguyên tắc chung:

22
- Sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Nhà nước đều phải có định mức lao
động và đơn giá tiền lương.
- Tiền lương và thu nhập phụ thuộc vào thực hiện khối lượng sản phẩm,
dịch vụ năng suất, chất lượng lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Tiền lương và thu nhập của người lao động được thẻ hiện đầy đủ trong
sổ lương của doanh nghiệp theo mẫu quy định số 238/LĐBXH ngày


IV/ QUAN ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THAM
GIA TỔ CHỨC XÂY DỰNG TIỀN LƯƠNG VÀ TRẢ LƯƠNG CHO
CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC LAO ĐỘNG.
1. Cơ sở pháp lý của vấn đề Công đoàn tham gia xây dựng tiền lương.
Xuất phát từ vai trò vị trí của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong hệ thống
chính trị xã hội. Công đoàn tham gia quản lý Nhà nước xã hội là nguyên tắc
quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa,
được hiến pháp ghi nhận: "Công đoàn tham gia quản lý nhà nước và xã hội,
tham gia kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế" -
Điều 10 hiến pháp năm 1992. Hoạt động tham gia quản lý của Công đoàn thể
hiện qua sự phối hợp hoạt động của Công đoàn với các cấp quản trị của Nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội theo một mục tiêu thống
nhất. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội, liên minh
công nông và tầng lớp trí thức XHCN, cơ sở chính trị (quyền lực chính trị về
nhân dân), cơ sở tư tưởng (Tư tưởng Mác - Lênin). Những cơ sở này là tiền
đề để xác định phạm vi quyền hạn, nội dung, hình thức tham gia quản lý nhà
nước và xã hội của Công đoàn. Theo điều 10 Hiến pháp 1992 của nước cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. "Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội của

24
giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, tham gia kiểm tra và giáo dục cán bộ, công nhân,
viên chức và người lao động xây dựng và bảo vệ tổ chức".
Điều lệ Công đoàn nêu rõ: "Công đoàn tham gia với Nhà nước xây dựng
và thực hiện pháp luật chính sách và chế độ tiền lương, bảo hộ và các chính
sách xã hội khác liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động".
Bảo luật lao động Nhà nước Việt Nam, điều 56, 57 ,131, 132 cũng nêu rõ
quyền hạn của công đoàn trong việc tham gia với chuyên môn, với Nhà nước
về công tác tiền lương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status