Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá hiện nay đang diễn ra nhanh
chóng và quyết liệt, thì việc hội nhập vào khu vực và thế giới là một xu thế tất
yếu khách quan của bất kỳ quốc gia nào. Để có thể tồn tại và phát triển đi lên thì
đất nước Việt Nam của chúng ta cũng không thể nằm ngoài khỏi xu thế đó, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì, theo lịch trình hội nhập hoàn toàn vào
khu vực mậu dịch tự do ASEAN(gọi tắt là AFTA)vào năm 2005 và quá trình
hoàn thiện đầy đủ thủ tục và chính sách vận động để xin gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới (WTO), đã và đang đặt nước ta trước những cơ hội rất to
lớn để hội nhập và phát triển đi lên trong khu vực và thế giới, nhưng nó cũng
đang đặt ra cho chúng ta rất nhiều khó khăn và thử thách phải đương đầu, đó là
sự cạnh tranh khốc liệt “Một mất, một còn”. Thực tế hiện nay đang đặt ra cho
các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang làm gì để hội nhập vào xu thế toàn cầu
hoá và quốc tế hoá đó một cách tốt nhất? Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý
doanh nghiệp Việt Nam là cần phải làm gì và làm như thế nào để có thể hội
nhập thành công và tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt đó. Thực tế cho
thấy, những doanh nghiệp nào biết phát huy nội lực và tự hoàn thiện những mặt
còn tồn tại của mình thì có thể nhanh chóng nắm bắt được những cơ hội thuận
lợi và hạn chế những rủi ro để tồn tại và phát triển đi lên trong quá trình hội
nhập đó.
Là một doanh nghiệp nhà nước, trước đây là một bộ phận của công ty văn
phòng phẩm Hồng Hà tách ra, trực thuộc tổng công ty nhựa Việt Nam và hiện
nay là trực thuộc quản lý của Bộ Công Nghiệp, công ty văn phòng phẩm Cửu
Long cũng đang từng bước hoàn thiện mình để hội nhập vào xu thế hội nhập đó.
Với sự chỉ đạo sát sao của Bộ Công Nghiệp và Ban giám đốc công ty văn phòng
phẩm Cửu Long, hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và công tác quản lý
tiền lương, tiền thưởng nói riêng tại công ty đã có nhiều kết quả đáng khích lệ:
Sản lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách Nhà Nước và tiền
lương- thu nhập của người lao động đều tăng lên qua các năm. Công tác quản lý
Đó là các nội dung của công tác quản lý tiền lương, tiền thưởng trong
doanh nghiệp, bao gồm : Công tác lập kế hoạch quỹ tiền lương, tiền thưởng; xây
dựng đơn giá tiền lương, xây dựng các chỉ tiêu, điều kiện, mức thưởng; và áp
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dụng các hình thức tiền lương, tiền thưởng để trả lương, trả thưởng cho người
lao động trong doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nội dung của công tác quản lý tiền lương,tiền thưởng trong các doanh
nghiệp được nhìn nhận dưới hai góc độ: Vĩ mô và vi mô, tức là dưới góc độ
quản lý của doanh nghiệp và góc độ quản lý của nhà nước. Trong phạm vi đề tài
nghiên cứu này Em chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ quản lý
vi mô của doanh nghiệp về công tác quản lý tiền lương, tiền thưởng, đó là một
nội dung của công tác quản trị nhân lực trong doanh nghiệp tại công ty văn
phòng phẩm Cửu Long.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu:
Trong chuyên đề này, em nghiên cứu trên cơ sở số liệu các báo cáo của công
ty trong ba năm gần đây (2000, 2001, 2002) và các số liệu thu thập được qua khảo
sát thực tế (Quan sát, phỏng vấn, điều tra bảng hỏi) và được thực hiện bởi các
phương pháp nghiên cứu: Phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp các vấn đề có liên
quan.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu với ba phần cụ thể
sau:
Phần I: Cơ sở lý luận và sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý
tiền lương, tiền thưởng trong các doanh nghiệp hiện nay.
Phần II: Phân tích thực trạng công tác quản lý tiền lương tiền thưởng
tại công ty VPP Cửu Long.
trên và đồng nghiệp…
Môi trường công việc: Như các chính sách của tổ chức, thời gian
làm việc linh hoạt, bầu không khí làm việc tốt đẹp …
2.2 Cơ cấu thù lao lao động theo nghĩa hẹp: Được chia làm 3 loại sau
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
a) Thù lao cơ bản: Là phần thù lao cố định (phần cứng) mà người lao
động nhận được một cách thường kỳ dưới dạng tiền công hay tiền lương. Phần
thù lao này được trả trên cơ sở của loại công việc cụ thể, mức độ thực hiện công
việc và thâm niên của người lao động
b) Các khoản khuyến khích: Là các khoản phụ thêm ngoài tiền công hay
tiền lương để trả cho người lao động thực hiện tốt công việc (nhằm khuyến
khích tăng năng suất lao động và giảm chi phí). Loại thù lao này gồm: Các loại
tiền thưởng, tiền hoa hồng, tiền chia lợi nhuận …
c) Các phúc lợi: là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các hỗ trợ
cho cuộc của người lao động(Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế …)
3. Khái niệm và bản chất của tiền lương của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường
3.1 Khái niệm về tiền lương trong nền kinh tế thị trường ở nước ta:
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho nên cơ chế thị
trường buộc chúng ta phải có những trao đổi lớn trong nhận thức quan niệm về
tiền lương. Trong nền kinh tế thị trường, do thừa nhận người lao động được tự
do làm việc theo hợp đồng thoả thuận, tự do di chuyển lao động giữa các thành
phần kinh tế, giữa các cơ sở sản xuất. Nghĩa là về mặt lý luận đã thừa nhận sự
tồn tại khách quan của phạm trù thị trường sức lao động. Cũng như các loại thị
trường khác, thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung- cầu và quy
luật giá trị về hàng hoá sức lao động. Mỗi công dân đều được quyền thuê mướn,
sử dụng sức lao động theo đúng pháp luật của nhà nước, khi đó sức lao động là
hình thức trả lương của doanh nghiệp và sự điều tiết bằng các chính sách của
nhà nước
3.2 Phân biệt tiền lương với tiền công:
Ngoài khái niệm về tiền lương ở trên ta đi tìm hiểu và phân biệt giữa tiền
lương với tiền công. Tiền công thực chất chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác
của tiền lương. Trong đó, tiền lương- tiền công là các khoản biểu hiện của phần
thù lao cơ bản mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn
lao động giữa họ với người sử dụng lao động.Cụ thể là:
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tiền lương(Salary): Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị thời gian(tuần,
tháng, quý, năm), dụa trên cơ sở loại công việc cụ thể, mức độ thực hiện công
việc, trình độ và thâm niên cong tác của người lao động. Tiền lương thường áp
dụng đối với lao động quản lý, cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn kỹ thuật.
Tiền công(Wages): Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động tuỳ thuộc vào số lượng(số giờ làm việc thực tế, khối lượng sản phẩm
sản xuất ra, khối lượng công việc hoàn thành) và chất lượng mà công việc mà
người lao động hoàn thành.Tiền công thường áp dụng đối với công nhân trực
tiếp sản xuất hay nhân viên bảo dưỡng máy móc thiết bị… Mặt khác, tiền công
còn được hiểu là số tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, là tiền
trả theo khối lượng công việc được thực hiện phổ biến trong những thoả thuận
thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể được gọi là giá nhân công. Như
vậy, tiềncông được trả trên cơ sở: Khối lượng công việc thực hiện hoàn thành
hay số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, thời gian làm việc thực tế …
Trong nền kinh tế thị trường phát triển thì khái niệm tiền lương và tiền
công được xem là đồng nhất về bản chất kinh tế(chúng đều là giá cả sức lao
động hay phản ánh một phần giá trị sức lao động) cũng như là phạm vi và đối
tượng áp dụng. Nhưng ở các nước đang phát triển đang chuyển từ nền linh tế kế
lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận lại sẽ tăng lên, nó làm bổ sung
thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích của người lao động. Hơn
nữa, khi lợi ích của người lao động được đảm bảo bằng mức lương thoả đáng,
nó tạo ra sự gắn kết tập thể người lao động vì mục tiêu, lợi ích của doanh
nghiệp, tạo ra cho người lao động một sự tự giác, trách nhiệm hơn đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và do đó sẽ hoàn thành tốt chức
năng nhiệm vụ của mình ứng với mỗi vị trí công việc mà họ đảm nhận…Mặt
khác, cũng thông qua tiền lương doanh nghiệp có thể tiến hành kiểm tra, theo
dõi, giám sát người lao động làm việc theo ý đồ của mình, đảm bảo đạt được
mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra với chi phí hợp lý, tối ưu…
3.4 Các chức năng cơ bản của tiền lương
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để tiền lương phát huy tốt vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là phải làm
cho tiền lương thực hiẹen đầy đủ các chức năng của nó.Cụ thể là bao gồm 5
chức năng cơ bản sau:
a) Thứ nhất: Chức năng thước đo giá trị(sức lao động). Đây là chức năng
cơ bản, nó phù hợp với quy luật giá trị. Vì tiền lương phản ánh sức lao động đã
hao phí, nó là giá cả sức lao động trong thị trường hàng hoá sức lao động. Nên
theo quy luật giá trị nó phải đảm bảo đúng quy luật đó. Thực hiện chức năng này
để làm cơ sở cho việc điều chỉnh giá cả(bao gồm cả sức lao động) biến động.
b) Thứ hai: Chức năng tái sản xuất sức lao động.
Thực hiện chức năng này của tiền lương nhằm duy trì năng lực làm việc
lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lương đảm bảo bù đắp được sức lao động đã
hao phí của người lao động.
c) Thứ ba: Chức năng kích thích
Thực hiện chức năng này nghĩa là phải đảm bảo là khi người lao động làm
việc có hiệu quả, có năng suất lao động cao thì về mặt nguyên tắc tiền lương
phải được nâng lên và ngược lại. Để thực hiện được chức năng này đòi hỏi phải
thành công việc; thâm niên công tác; tiềm năng của người lao động …
Nhóm yếu tố thuộc về bản thân công việc: Kỹ năng nghề nghiệp
đòi hỏi; đòi hỏi trách nhiệm của người lao động; đòi hỏi sự nỗ lực của người lao
động; các điều kiện làm việc…
4. Khái niệm và bản chất của tiền thưởng
4.1 Khái niệm về tiền thưởng:
Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ xung cho tiền lương, nhằm quán
triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động và nhằm khuyến khích người lao
động trong việc nâng cao năng suất, cải tiền nâng cao chất lượng sản phẩm và
tiết kiệm nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
Tiền thưởng là một trong khững biện pháp khuyến khích vật chất rất lớn
đối với người lao động trong quá trình sản xuất, qua đó nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm và rút ngắn thời gian làm việc. Ta cũng biết rằng về
mặt nguyên tắc thì tiền lương phải trả đúng giá cả sức lao động đã hao phí,
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhưng đó mới là mức hao phí sức lao động trung bình, phần vượt hơn mức hao
phí sức lao động trung bình là do tiền thưởng bù đắp. Do đó tiền thưởng là
khoản bổ xung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nữa nguyên tắc phân phối
theo lao động, trả đúng giá trị sức lao động đã hao phí
4.2 ý nghĩa của tiền thưởng:
Chúng ta biết rằng tiền thưởng là phần tiền mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động khi họ hoàn thành tốt một công việc hay có các thành tích,
hay sáng kiến làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm… Bên cạnh số
tiền mà người lao động nhận được đó về mặt vật chất nó còn có ý nghĩa cả về
mặt tinh thần, vì họ cảm thấy công việc của mình được người khác công nhận và
đánh giá. Điều này càng thúc đẩy người lao động tích cực hơn trong công việc
mà không phải chỉ vì tiền mà còn là địa vị, niềm đam mê trong công việc hay sự
thoả mãn về công việc của mình làm. Đồng thời tiền thưởng còn là một cong cụ
1. Hệ thống trả công thống nhất của nhà nước
Bao gồm hai chế độ tiền lương sau:
1.1. Chế độ tiền lương cấp bậc:
a) Khái niệm: Đó là toàn bộ các quy định của nhà nước mà các doanh
nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lương cho người lao động căn cứ vào chất
lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định nào đó.
Chế độ tiền lương cấp áp dụng cho công nhân – những người lao động
trực tiếp và trả lương theo kết quả lao động, thể hiện qua số lượng và chất lượng
lao của họ nhằm đảm bảo tính đúng đắn và công bằng, thể hiện ở mức thời gian
hao phí để sản suất sản phẩm trong một thời gian nhất định, trình độ lành nghề
của người lao động sử dụng vào quá trình lao động và có tính đến yếu tố điều
kiện lao động để thực hiện công việc đó.
b) Các yếu tố của chế độ tiền lương cấp bậc:
Thang lương: Là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các
công nhân trong cùng một nghề hoặc nhóm nghề giống nhau, theo trình độ lành
nghề(cấp bậc của họ). Mỗi thang lương có một số bậc lương và các hệ số lương
phù hợp với các bậc lương đó.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mức lương: Là lượng tiền lương để trả công cho người lao động
trong một đơn vị thời gian(giờ, ngày, tháng) phù hợp với các bậc trong thang
lương. Thông thường, Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc một hay mức
lương tối thiểu, còn các mức lương của các bậc khác trong thang lương được
tính bằng cách lấy mức lương bậc một hay mức lương tối thiểu nhân với hệ số
lương của các bậc khác tương ứng.
Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: Là văn bản quy định về mức độ phức
tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở bậc nào đó
Phải cố sự hiểu biết nhất định về mặt kiến thức lý thuyết và phải làm được
những công việc nhất định trong thực hành.
Đó là quá trình thu thập các thông tin chi tiết có liên quan đến: Nhiệm vụ,
nghĩa vụ và các điều kiện làm việc đối với tất cả các công việc cần đánh giá.
Giai đoạn 2: Viết bản mô tả công việc.
Đó là việc hệ thống hoá các thông tin thu thập được thành một văn bản
viết thật chi tiết về: Nhiệm vụ, nghĩa vụ và các điều kiện làm việc
Giai đoạn 3: Viết các bản xác định yêu cầu công việc đối với người
thực hiện(Bản tiêu chuẩn trình độ chuyên môn).Bao gồm các yêu cầu rất chi tiết
về số năm và loại kinh nghiệm làm việc, loại và trình độ giáo dục cần có, các
chứng chỉ, đào tạo nghề …
Giai đoạn 4: Đánh giá giá trị của công việc
Công việc này được thực hiện bởi một hội đồng đánh giá và sử dụng một
phương pháp đánh giá công việc được lựa chọn từ trước. Hiện nay có bốn
phương pháp đánh giá công việc là: Phương pháp xắp xếp thứ tự các công việc;
phương pháp phân hạnh công việc;phương pháp so sánh các yếu tố của công
việc; phương pháp cho điểm. Trong đó, phương pháp cho điểm đang đượccác
doanh nghiệp sử dụng phổ biến.
Phương pháp cho điểm: Là phương pháp mà phân phối cho mỗi công việc
một tổng số điểm dựa trên phân tích đặc trưng của từng công việc. Cách thực
hiện phương pháp cho điểm này được tiến hành với 5 bước sau:
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thù lao, thông thường bao gồm các
yếu tố: Trách nhiệm; các yêu cầu về thể lực, trí lực, sự nguy hiểm; các kỹ năng ;
các điều kiện làm việc;các trách nhiệm giám sát. Thông thường là lấy từ 4 đến 5
yếu tố.
• Phân chia các cấp độ (mức độ) của từng yếu tố (thường là từ 3 đến 5 cấp
độ (đơn giản: rất đơn giản, đơn giản; trung bình; phức tạp: rất phức tạp; phức
tạp)
• Xây dựng bảng điểm theo các yếu tố ứng với từng cấp độ
Thứ ba: Quản lý là làm việc với người khác đế đạt được mục tiêu
của tổ chức và các thành viên của nó
1.2. Thực chất của công tác quản lý tiền lương, tiền thưởng trong các
doanh nghiệp:
Theo từ điển kinh tế thị trường: Quản lý tiền lương là một hoạt động mà
một mặt tiến hành điều chỉnh tổ chức (doanh nghiệp) và kế hoạch kinh doanh
của tổ chức, có quan hệ đối với tiền lương. Mặt khác, nó là một khâu của quản
lý nhân sự, đó là một quá trình thực hiện việc trả lương cho người lao động
trong doanh nghiệp, nó bao gồm các hoạt động bao gồm các hoạt động: Từ lập
kế hoạch quỹ tiền lương, tiền thưởng; xây dựng đơn giá tiền lương; các chỉ tiêu
thưởng, điều kiện thưởng, mức thưởng; đến việc áp dụng các hình thức trả lương
– trả thưởng và các khoản phụ cấp khác cho người lao động; Rồi đến quá trình
kiểm tra kết quả thực hiện, tiến hành hiệu ứng ngược để đạt được mục tiêu đặt ra
Ta biết rằng tiền lương vừa là một vấn đề kinh tế vừa là một vấn đề xã
hội. Tiền lương là mối quan tâm của cả doanh nghiệp và người lao động, với
người lao động thì tiền lương là một vấn đề lợi ích.Do đó việc quản lý tiền
lương theo nghĩa rộng chính là giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà
nước, chủ doanh nghiệp và người lao động. Còn về mục đích trực tiếp của công
tác quản lý tiền lương, tièn thưởng trong doanh ngiệp là nhằm là đảm bảo chính
xác việc duy trì sức lao động, nâng cao chất lượng, kích thích tính tích cực của
người lao động trong quá trình lao động và xử lý tốt mối quan hệ giữa con người
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với con người trong nội bộ doanh nghiệp. Với mục đích này thì quản lý tiền
lương, tiền thưởng là một nộ dung quan trọng của quản trị nhân lực trong doanh
nghiệp
2. Những nội dung cơ bản của công tác quản lý tiền lương, tiền thưởng
trong các doanh nghiệp
2.1. Nội dung của công tác quản lý tiền lương trong doanh nghiệp:
• Giám đốc các doanh nghiệp phải có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo xây
dựng và đăng ký định mức lao động và đơn giá tiền lương theo quy định và báo
cáo lên họi đồng quản trị (nếu có) hoặc cơ quan quản lý cấp trên có thẩm quyền
thẩm định và giao đơn giá tiền lương
• Các doanh nghiệp phải tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương từ quý IV
năm báo cáo để gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động – tiêng lương thẩm
định và giao đơn giá tiền lương chậm nhất vào quý I năm kế hoạch
• Nhà nước quản lý tiền lương, thu nhậpcủa các doanh nghiệp thông qua
quản lý quản lý định mức lao động và đơn giá tiền lương thực hiện của doanh
nghiệp để xác định lợi tức chịu thuế
a) Phương pháp xây dựng đơn giá tiền lương
Theo thông tư số 05, LĐTBXH-TT ngày29/1/2001 về hướng dẫn phương
pháp xây dựng đơn giá tiền lươngvà quản lý tiền lương, thu nhập trong các
doanh nghiệp nhà nước thì việc xây dựng đơn giá tiền lương được tiến hành theo
các bước sau:
Xác định nhiệm vụ năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương:
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức
và chỉ tiêu kinh tế gắn với việc trả lương có hiệu quả cao nhất. Doanh nghiệp có
thể lựa chọn nhiệm vụ năm kế hoạch bằng những chỉ tiêu sau để xây dựng đơn
giá tiền lương:
• Tổng sản phẩm(kể cả sản phẩm quy đổi) bằng hiện vật
• Tổng doanh thu
• Tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí (trong chi phí chưa có lương)
• Lợi nhuận
Xác đinh quỹ lương kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương:
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong đó:
• Ldb: Là số lao đông định biên, được xác định trên cơ sở định mức lao
KH
QL
= (
DB
L
*
MINDN
TL
*(
CB
H
+
PC
H
) +
VC
QL
)*
Ldb = Lyc +Lpv +Lql +Lbs
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Tlmindn: Là mức tiền lương tối thiểu do doanh nghiệp tự chọn trong
khung quy định. Tlmindn được xác định như sau:
TLmin≤TLmin ≤TLminđc
Trong đó: TL min là mức tiền lương tối thiểu do chính phủ quy định và là
mức lương thấp doanh nghiệp áp dụng
TLminđc là mức tiền lương điều chỉnh tối đa doanh nghiệp được phép áp
dụng: TLminđc = TLmin(1+ Kđc)
Với Kđc = K1 + K2: Là hệ số điều chỉnh mức lương tối thiểu doanh
nghiệp được phép áp dụng, tối đa không quá 1,5 lần mức TLmin nếu doanh
∑
Tkh
là tổng doanh thu kế hoạch
Vđg là đơn giá tiền lương (đồng/ 1000 đồng)
* Phương pháp 3: Đơn giá tiền lương tính trên tổng doanh thu trừ đi
tổng chi phí (chưa có lương):
Trong đó:
∑
Ckh
: Là tổng chi phí kế hoạch(chưa có lương)
• Đơn giá tính trên lợi nhuận:
Trong đó:
∑
Pkh
: là lợi nhuận kế hoạch
2.1.2. Xác định quỹ tiền lương
a) Khái niệm: Quỹ tiền lương là tổng số tiền mà doanh nghiệp dùng để trả
cho người lao động, phù hợp với số lượng và chất lượng lao động trong phạm vi
doanh nghiệp mình phụ trách
b) Phân loại quỹ tiền lương
* Phân loại theo tính chất của quỹ tiền lương:
+ Quỹ tiền lương cơ bản: Là bao gồm các khoản tiền lương cấp bậc hay
cố định, tính theo quy định tại các thang, bảng lương của từng ngành nghề do
nhà nước quy định hay do doanh nghiệp tự xây dựng
+ Quỹ tiền lương biến đổi: Là các khoản tiền bổ sung thuộc quỹ tiền
lương hoặc không thuộc quỹ tiền lương như các khoản phụ cấp, tiền thưởng
* Phân loại theo mục đích của quỹ lương:
+ Quỹ tiền lương kế hoạch: Là tổng tiền lương dự tính theo cấp bậc mà
Vc: là tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch
Vkh là tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền
lương
Vpc là quỹ kế hoạch các khoản lương và các chế độ khác(nếu có)
mà chưa tính trong đơn giá tiền lương
Vbs: là quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch không tham gia sản
xuất được hưởng lương theo chế độ quy định(tính theo số lao đôngkế hoạch mà
khi xây dựng định mức lao động tổng hợp không tính đến)
Vtg: Là quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch
• Xác định quỹ tiền lương thực hiện: Căn cứ vào đơn giá tiền lương do
cơ quan có thẩm quyền giao và kết quả sản xuất kinh doanh, quỹ tiền lương thực
hiện của các doanh nghiệp được xác định như sau:
Trong đó: Vth là tổng quỹ tiền lương thực hiện
Vđg: là đơn giá tiền lương do cơ quan có thẩm quyền giao
22
∑
KH
QL
= (
DB
L
*
MINDN
TL
*(
CB
H
+
PC
H
* Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán,
lương sản phẩm, lương thời gian (ít nhất bằng 76% tổng quỹ tiền lương)
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất,
chất lượng cao, có thành tích trong công tác(tối đa không quá 10%tổng quỹ
lương)
* Quỹ khuyến khích người lao đông có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao, tay nghề giỏi(tối đa không quá 2% tổng quỹ lương)
* Quỹ dự phòng cho năm sau(tối đa không quá 12% tổng quỹ lương)
f. Nguyên tắc và phương pháp quản lý quỹ tiền lương trong doanh nghiệp:
Để đáp ứng đòi hỏi của cơ chế quản lý kinh tế mới, chính phủ đã ban hành
nghị định 26/CP, 28/CP và 03/CP về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong
các doanh nghiệp nhà nước. Theo đó hiện nay nhà nước không trực tiếp quản lý
quỹ tiền lương của doanh nghiệp, mà doanh nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ
tiền lương thông qua đơn giá được nhà nước giao, trên cơ sở doanh nghiệp đã
xác định đơn giá và có sự điều chỉnh của nhà nước sao cho phùb hợp với điều
kiện của từng ngành, tưng lĩnh vực, tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp, đảm
bảo tốc độ tăng tiền lương bình quân phải thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao
động
Về mặt quản lý doanh nghiệp, nhà quản lý phải quan tâm đến vấn đề tiết
kiệm chi phí sản xuất, trong đó có chi phí tiền lương, bằng cách xây dựng và
quản lý quỹ tiền lương bằng phương pháp hợp lý. Điều này không có nghĩa là
cắt giảm tiền lương với người lao động mà là bằng cách tăng năng suất lao động,
giảm chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm bằng việc hoàn thiện quản lý
các chỉ tiêu để xây dựng quỹ tiền lương một cách khoa học và hợp lý. Tìm mọi
biện pháp để tạo nguồn tiền một cách hợp lý, tăng thu nhập cho người lao động
mà không vi phạm các chế độ chính sách, bảo toàn vốn và phát triển doanh
nghiệp mà vừa khuyến khích được người lao động …
nguyên tắc phân phối theo lao động, kích thích không ngừng nâng cao năng suất
lao động, phù hợp với đắc điểm sxkd của doanh nghiệp và với mỗi loại lao động
2.2. Nội dung của công tác quản lý tiền thưởng trong doanh nghiệp
a. Các hình thức tiền thưởng:
Tiền thưởng là một loại kích thích vất chất có tác dụng rất tích cực đối với
người lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn. Tiền thưởng có
25