Tài liệu Isotretionin điều trị mụn: Công dụng và độc tính - Pdf 10

Isotretionin điều trị mụn:
Công dụng và độc tính

Khi một thuốc mới được đưa vào sử dụng, người ta chưa khám phá hết
được những công dụng cũng như độc tính của thuốc đó. Phải có thời gian
“bản chất” của thuốc mới dần được bộc lộ Isotretionin là một trong những
thuốc như vậy.
Những công dụng của isotretionin
Giảm tiết bã, giảm vi khuẩn Propionilbaterium (P) acnes, chống viêm
Quá trình tạo ra mụn là vòng xoắn bệnh lý. Mụn trứng cá là sự kết hợp giữa
3 yếu tố: tăng tiết, ứ đọng chất bã, nhiễm khuẩn.
Isotretionin làm giảm 99% kích thước, giảm tiết bã nhờn, thay đổi thành
phần lipid của tuyến bã, vì vậy thay đổi môi trường gây nên tác dụng thứ phát
giảm quần chủng Propionilbaterium (P) acnes. Mặt khác, isotretionin ức chế một
vài chất tổng hợp trung gian (giảm phóng thích lysosom, suferoxid), tăng nồng độ
các chất ức chế miễn dịch IgG, IgA, IgM nên chống viêm. Vì thế, dùng
isotretionin trị mụn giảm tổn thương do viêm.
Diệt trừ Proteus Klebsiela, Propionilbaterium (P) acnes, chống viêm nang
lông
Isotretionin làm thay đổi mô học của tuyến bã (giảm tuyến, teo nang lông,
xơ hóa quanh nang lông, giảm tế bào được biệt hóa và chưa biệt hóa), làm thay đổi
môi trường, gây tác dụng thứ phát diệt trừ hoàn toàn các vi khuẩn trên. Dùng điều
trị viêm nang lông, thấy giảm hết các tổn thương sẩn, nốt, mụn mủ, giảm hồng
ban, phù giãn mạch, sau 9 tháng ngừng thuốc, không thấy tái phát.
Làm giảm tiêu keratin hóa, tiêu sừng, chống các bệnh tăng sừng
Ngoài việc dự phòng keratin hóa trong trị mụn, isotretionin còn được dùng
trong các bệnh tăng sừng khác: với bệnh vảy nến, bệnh Darier, bệnh vảy cá, bệnh
vảy phấn đỏ nang lông đều cho kết quả tốt, nhưng sau khi ngừng thuốc bệnh tái
phát.
Ức chế sự hình thành phát triển khối u, thử dùng chống u và tiền u ác tính
Sự tăng sinh tế bào nhân lệ thuộc vào yếu tố tăng trưởng biểu mô.

khi xảy ra, không có ý nghĩa lâm sàng, đặc biệt không thấy gây viêm gan.
Với thần kinh - tâm thần: Gây đau, nhức đầu. Hiếm khi gây tăng áp lực nội
sọ, u giả não (pseudotumor cerebri), song nếu phối hợp với kháng sinh nhóm
cyclin thì dễ xảy ra.
Với người có thai: Gây tích lũy, hại thai. Nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phải thử
chắc chắn không có thai mới dùng, trước khi dùng và sau khi dùng một tháng cũng
như trong suốt thời gian dùng thuốc, phải dùng các biện pháp tránh thai chắc chắn.
Isotretionin uống là thuốc điều trị mụn có hiệu quả cao hơn các thuốc khác,
chắc chắn, ít tái phát. Tác dụng không mong muốn nhẹ, tập trung ở hệ da niêm
mạc, không cần ngừng thuốc. Tác dụng phụ khác ở cơ quan tổ chức nặng hơn
(gan, tụy, thần kinh - tâm thần, tiêu hóa, mắt) thường do dùng liều cao và/hoặc kéo
dài, do phối hợp không đúng.
Uống thuốc kháng sinh sao cho hiệu quả?
Đối với các bệnh nhiễm khuẩn thì kháng sinh là một trong những
thuốc bắt buộc phải dùng. Cần lưu ý rằng ngoài kỹ thuật bào chế thì cách
uống thuốc cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tác dụng của thuốc. Vậy để phát
huy tối đa tác dụng của thuốc cần lưu ý:
Lượng nước dùng để uống thuốc: Phải đủ lớn (khoảng 200-250ml nước) để
thuốc trôi nhanh xuống dạ dày mà không bị mắc lại ở thực quản. Tốt nhất nên
dùng nước đun sôi để nguội. Điều này còn quan trọng hơn đối với các kháng sinh
có độ tan thấp. Ví dụ: amoxicilin nếu uống 1 viên có hàm lượng 500mg với 250ml
nước thì tác dụng của thuốc sẽ gấp đôi so với uống lượng kháng sinh này với
25ml nước.
Ảnh hưởng của bữa ăn: Đối với các thuốc kháng sinh kém bền vững trong
môi trường acid như nhóm beta-lactamin (amoxicilin, ticarcilin), nhóm macrolid
(erythromycin, clarithromycin, azithromycin, spiramycin) hoặc các thuốc kháng
sinh bị thức ăn làm giảm hấp thu (tetracyclin, lincomycin) nên uống xa các bữa
ăn khoảng 1 giờ. Nếu uống các thuốc này trong bữa ăn sẽ làm cho thời gian lưu lại
của thuốc ở dạ dày lâu hơn, thuốc sẽ bị dịch vị acid của dạ dày phân huỷ làm cho
thuốc kém hoặc mất tác dụng. Tuy nhiên đối với các kháng sinh không bị thức ăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status