Tài liệu Luận văn " ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI " - Pdf 10


Luận văn
Đề tài " ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI "
§Ò ¸n m«n häc

1

LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời gian qua đã thu được những kết
quả bước đầu quan trọng. Việt Nam không những đã vượt qua được sự khủng
hoảng triền miên trong thập kỷ 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong
phát triển kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân năm
6,94% (sau 15 năm đổi mới 1986-2000). Công nghiệp giữ nhịp độ tăng giá trị
sản xuất bình quân hàng năm 13,5%, lạm pháp đẩy lùi, đời sống đại bộ phận
nhân dân được cải thiện về mặt vật chất lẫn tinh thần.

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình thức di chuyển vốn
quốc tế. Trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và
điều hành hoạt động sử dụng vốn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu:
 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
 Doanh nghiệp liên doanh.
 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên
(gọi là bên hợp danh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên,
để tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà không lập thành một pháp nhân.
Hình thức đầu tư này đã xuất hiện từ sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho
đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các quy định pháp lý cho hình thức này. Điều
đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng vào
thực tế ở Việt Nam. Ví dụ như có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng hợp tác kinh
doanh với các dạng hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.(như hợp đồng gia công sản phẩm, hợp
đồng mau thiết bị trả chậm vv ). Lợi dụng sơ hở này, mà một số nhà đầu tư
nước ngoài đã trốn sự quản lý của Nhà Nước. Tuy vậy hợp đồng hợp tác kinh
doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn
trong việc phối hợp sản phẩm .Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp
thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là xu
hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu hướng của sự
phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.
2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên
nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vón, cùng kinh doanh, cùng

đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư
nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả
sản xuất kinh doanh.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập
theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân
Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100%
vốn nước ngoài.Thời gian đầu chưa nhiều, những xu hướng gia tăng của các dự
án đầu tư theo hình thức này ngày càng mạnh mẽ. Trong những năm gần đây vì
hình thức này có phần dễ thực hiện và thuận lợi cho họ.
Nhưng bằng hình thức đầu tư này về phía nước nhận đàu tư thường chỉ nhận
được cái lợi trước mắt, về lâu dài thì hình thức này còn có thể phải gánh chịu
nhiều hậu quả khó lường.
Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI
Sau nhiều lần nghiên cứu phân tích, đánh giá lợi hại (được, mất) của
nước nhận đầu tư và của người bỏ vốn đầu tư. Hội đồng kinh tế Brazin- Mỹ đã
rút ra được 12 nhân tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay
một nước nào đó để đầu tư. 12 nhân tố này có thể được chia lại cho gọn như sau:
3.1 Các yếu tố điều tiết vĩ mô
3.1.1 Các chính sách
 Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận đầu tư.
Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà
đầu tư. Tỷ giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tới
hoạt độnh xuất nhập khẩu.
 Chính sách thương nghiệp.Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đề đầu
tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hưởng tới giá
hành xuất khẩu. Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàng rào
thương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích
§Ò ¸n m«n häc

4


chế, quyền tác gỉa, kể cả nhãn hiệu hàng hóa và bí mật thương nghiệp vv
Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào
các ngành hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động (như sản xuất
máy tính, phương tiện liên lạcvv ) ở một số nước, lĩnh vực này được kiểm
tra, giám sát khá lỏng lẻo, phổ biến là sử dụng không hợp pháp các công
nghệ ấy của nước ngoài. Chính vì lý do này mà một số nước bị các nhà đầu
tư loại khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư.
 Điều chỉnh hoạt động đầu tư của các công ty đầu tư nước ngoài. Luật lệ cứng
nhắc cũng tăng chi phí của các công ty đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư rất
thích có sự tự do trong môi trường hoạt động và do vậy họ rất quan tâm đến
một đạo luật mềm dẻo giểp cho họ ứng phó linh hoạt, có hiệu quả với những
diễn biến của thị trường. Ví dụ có những nước cấm sa thải công nhân là
không phù hợp với lợi ích của công ty nước ngoài. Chính sách lãi suất ngân
§Ò ¸n m«n häc

5

hàng và chính sách biệt đãi đối với một số khu vực cũng có ý nghĩa đối với
các nhà đầu tư ở một số nước.
 Ổn định chính trị ở nước muốn nhận đầu tư và trong khu vực này. Đây là yếu
không thể xem thường mỗi khi bỏ vốn đầu tư vì rủi ro chính trị có thể gây
thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
 Cơ sở hạ tầng phát triển. Nếu các yếu tố nói trên đều thuận lợi nhung chỉ một
khâu nào đó trong kết cấu hạ tầng (giao thông liên lạc, điện nước) bị thiếu
hay bị yếu kém thì cũng ảnh hưởng và làm giảm sự hấp hẫn của các nhà đầu
tư.
ii. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ (CỦA NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ)
1. Những ảnh hưởng tích cực của FDI
1.1 . Là nguồn hỗ trợ cho phát triển

1.2 . Chuyển giao công nghệ
§Ò ¸n m«n häc

6

Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ
sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ
đầu tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như
máy móc thiết bị, nhuyên vật liệu (hay còn gọi là cộng cứng) trí thức khoa
hoạch bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường (hay còn gọi là phần
mềm.) Do vậy đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước
nhận đầu tư. FDI có thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những
nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá
trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, ta nhanh của các nước nhận
đầu tư. FDI đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ
thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư, thông qua những chương trình đào
tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn mang lại cho họ những kiến thức sản
xuất phức tạp trong khi tiếp nhận công nghệ của các nước nhận đầu tư. FDI còn
thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà
quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước
ngoài.
Thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước thu hút FDI đã cải thiện đáng kể trình
độ kỹ thuật công nghệ của mình. Chẳng hạn như đầu những năm 60 Hàn Quốc
còn kém về lắp ráp xe hơi, nhưng nhờ chuyển nhận công nghệ Mỹ, Nhật, và các
nước khác mà năm 1993 họ đã trở thành những nước sản xuất ô tô lớn thứ 7 thế
giới.
Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác
nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công ghệ cho
nước nào tiếp nhận đầu tư. Thì đây là cơ hội cho các nước đang phát triển có thể
tiếp thu được các công nghệ thuận lợi nhất. Nhưng không phải các nước đang

hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
đầu tư nước ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Bởi vì: Một là, thông qua hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế
mới ở các nước nhận đầu tư. Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát
triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần
thúc đẩy tăng năng suất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó
trong nền kinh tế. Ba là, một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực
tiếp nước ngoài, nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa
bỏ.
1.5 . Một số tác động khác
Ngoài những tác động trên đây, đầư tư trực tiếp nước ngoài còn có một số
tác động sau:
Đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp
thuế của các đơn vị đầu tư và tiền thu tư việc cho thuê đất
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đóng góp cải thiện cán cân quốc tế cho nước
tiếp nhận đầu tư. Bởi vì hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là sản xuất
ra các sản phẩm hướng vào xuất khẩu phần đóng góp của tư bản nước ngoài và
việc phá triển xuất khẩu là khá lớn trong nhiều nước đang phát triển.Ví dụ như
Singapore lên72,1%, Brazin là 37,2%, Mehico là 32,1%, Đài loan là 22,7%,
Nam Hàn 24,7%, Agentina 24,9%. Cùng với việc tăng khả năng xuất khẩu hàng
hóa, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài
nước. Đa số các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có phương án bao tiêu
sản phẩm. Đây gọi là hiên tượng “hai chiều” đang trở nên khá phổ biến ở nhiều
nước đang phát triển hiện nay.
Về mặt xã hội, đầu tư trục tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới,
thu hút một khối lượng đáng kể người lao độngở nước nhận đầu tư vào làm việc
tại các đơn vị của đầu tư nước ngoài. Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm
giảm bớt nạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia. Đặc
biệt là đối với các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú

dụng công nghệ, sự dụng lao động.Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá
của lao động sẽ tăng, kết quả là giá thánhản phẩm cao. Vì vậy họ muốn thay đổi
công nghệ bằng những công nghệ có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm.
Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận
đầu tư như là:
 Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Do đó
nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh
nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
 Gây tổn hại môi trường sinh thái. Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế
phải bảovệ môi trường theo các quy định rất chặt chẽ ở các nước công nghiệp
phát triển, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu môi
trường sang các nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không
hữu hiệu.
 Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất caovà do đó sản phẩm của các nước
nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Thực tiễn cho thấy, tình hình chuyển giao công nghệ của các nước công nghiệp
sang các nước đang phát triển đang còn là vấn đề gay cấn.Ví dụ theo báo cáo
của ngân hàng phát triển Mỹ thì 70% thiệt bị của các nước Mỹ La Tinh nhập
khẩu từ các nước tư bản phát triển là công nghệ lạc hậu.Cũng tương tự, các
trường hợp chuyển giao công nghệ ASEAN lúc đầu chưa có kinh nghiệm kiểm
tra nên đã bị nhiều thiệt thòi.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệ của
các nước nhận đầu tư. Chẳng hạn như Mehico có 1800 nhà máy lắp ráp sản xuất
của các công ty xuyên gia của Mỹ. Mội số nhà máy này được chuyển sang
Mehico để tránh những quy định chặt chẽ về môi thường ở Mỹ và lợi dụng
những khe hở của luật môi trường ở Mehico.
2.2. Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư
§Ò ¸n m«n häc

9

thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Việc làm này
mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc
giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được. Từ đó hạn chế cạnh tranh
của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị trường. Ngược lại, điều này lại gây
chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các
nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn.
Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ sảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ
kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách của
nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được.
Hai là: Sản xuất hàng hóa không thích hợp
Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho
các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho
khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng
thuốclá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay
thế xà phòng vv
§Ò ¸n m«n häc

10

2.4.Những mặt trái khác
Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tình
báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo kiểu
“diễn biến hòa bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch nhằm
phá hoại ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra dưới mọi hình
thức tinh vi và xảo quyệt. Trường hợp chính phủ Xanvado Agiende ở Chile bị
giật dây lật đổ năm 1973 là một ví dụ về sự can thiệp của các công ty xuyên
quốc gia ITT(công ty viễn thông và điện tín quóc tế) và chính phủ Mỹ cam thiệp
công việc nội bộ của Chile.
Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những
nơi có lợi nhất. Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân

USD trong đó có hơn 2600 dự án còn hiệu lực .Với tổng số vốn đăng ký trên 36
tỷ USD số vốn thục hiện .Đến nay đạt gần 20 tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng
ký, trong đó số vốn nước ngoài là 18 tỷ USD theo số liệu thống kê của bộ kế
§Ò ¸n m«n häc

11

hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các giai đoạn 1989-
2001 đuợc thể hiện qua sơ đồ sau:
Biểu 1:

§Ò ¸n m«n häc

12

Quá trình thu hút vốn và số dự án DFI qua các năm
1989-2001

Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư
(Triệu USD)
Tổng số thực hiện
(Triệu USD)
1989 70 539 130
1990 111 596 220
1991 155 1388 221
1992 193 2271 398
1993 272 2987 1106
1994 362 4071 1952
1995 404 6616 2652
1996 501 9212 2371

§Ò ¸n m«n häc

13

Trong giai đọan nay, hình thu hút vốn FDI đã cho thấy có phần giảm hơn so
với giai đoạn trước (1996-1998). Đó là do ảnh hưởng của cuộc khhủnh hoảng tài
chính khu vực, do cạnh tranh thu hút của Việt Nam. Nhưng từ năm 2000, đầu tư
nước ngoài của Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi, đặc biệt trong hai tháng đầu
năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn đầu
tư 71,3 triệu USD, tăng 16,7 t về số dự án và 16,1% về vốn so với cùng kỳ năm
2000. Như vậy cho thấy dấu hiệu của ta đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Về cơ cấu vốn đầu tư.
Đây là một vấn đề rất có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong hoạt động thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Bởi vì nó có tác động to lớn đến quá trình dịch chuyển
cơ cấu kinh tế của Việt Nam.
2.1. Cơ cấu ngành nghề
Biểu 2:
Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài đăng ký 1988-1999

Năm
Chỉ tiêu
1988-1990 1991-1995 1996-1999
CN & XD 41,47% 52,74% 49,66%
N-L-N Nghiệp 21,64% 4,13% 2,14%
Dịch vụ 36,899% 43,13% 48,2%
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Đầu tư nước ngoài trong các năm qua đã đúng mục tiêu đặt ra ban đầu đó là:
Tập trung chủ yếu vào công nghiệp và xây dựng với 1421 dự án và vốn đăng ký
là 18,2 tỷ USD. Các ngành dịch vụ có 613 dự án với 15,632 tỷ USD. Lĩnh vực

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung ( gần Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi) đứng thứ 3 về thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng so với
hai vùng trên thì lại quá thấp, chiếm 3% về số dự án (72 dự án) và 5,5% về vốn
đăng ký (1,978 tỷ USD). Nếu không tính đén dự án lọc dầu Dung Quất (1,3 tỷ
USD ) thì vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thu hút vốn đầu tư nước ngoài
còn ít hơn nhiều so với vùng đồng bằng sông Cửu Long (113 dự án, với 1 tỷ
USD vốn đăng ký). Miền núi, trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên là 2 trong số 6
vùng kinh tế có sức thu hút FDI kém nhất. Lý do chủ yếu là do điều kiện về cơ
sở hạ tầng, thiếu nguồn nhân lực, có trình độ và khả năng đầu tư sinh lời thấp,
hoàn vốn chậm nên các nhà đầu tư nước ngoài còn đắn đo, e ngại và trong khi
chính sách khuyến khích của Nhà nước cũng chưa thực sự hấp dẫn.
Qua số liệu trên cho thấy, cơ cấu FDI theo vùng lãnh thổ không những không
thực hiện được mục tiêu của Việt Nam là làm xích lại gần nhau hơn về trình độ,
cũng như tốc độ phát triển giữa các vùng mà tráI lạI còn làm dãn xa hơn. Do đó,
trong những n tới nhà nước cần phảI đIều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh
thổ, từng bước phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế.
Các đối tác đầu tư.
Tính đến thời điểm hiện nay, đã có trên 80 công ty và tập đoàn thuộc 65 nước
và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Với sự xuất hiện ngày càng nhiều của
các tập đoàn và các công ty xuyên quốc gia có tiềm lực lớn về tài chính, công
nghệ như Sony, Honda, Sanyo của Nhật Bản; Deawo, Goldstar, Samsung của
Hàn Quốc; Motorota, Ford của Mỹ; Chingpon, Veodan của Đài Loan
Bên cạnh có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư
tại Việt Nam. Điều này là thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất
năng động, thích ứng nhanh với những biến động của thị trường, hoạt động rất
hiệu quả. Từ đó sẽ là vệ tinh cho các tập đoàn và công ty lớn.
§Ò ¸n m«n häc

15


Tổng số
Đài Loan
British Virgin Island
Nhật
Ôxtrâylia
Hàn Quốc
Pháp
Mỹ
Sing ga po
Trung Quốc
Hà Lan
Bermuda
Thái Lan
Anh
Bỉ
Malaysia
Canada
Hồng Kông
Irăc
Bahamas
Đức
Liên bang Nga
Thụy Sĩ
Thụy ĐIển
Đan mạch
76
11
15
2
22

10000
6600
5160
4995
3615
2900
2374
2200
1000
700
509
150
147
100
50733

69507
35988
27834
28600
36516
2543
13535
8663
8322
3152
15000
5550
2050
2520

vốn đầu tư. Hơn nũa, chúng ta còn phải trả quá nhiều nợ nước ngoài trong khi
thâm hụt ngân sách còn ở mức khá cao. Vì vậy FDI trở thành một nguồn vốn
cần thiết cho sự nghiệp đổi mới của nước nhà.
Trong suốt thời kỳ 5 năm 1991-1995, tỷ trong đầu tư nước ngoài chiếm 22%
và đóng góp khoảng 30% tổng số vốn đầu tư trong nước. Còn tính riêng 5 năm
1996-2000 so với 5 năm trước thì tổng số vốn đầu tư mới đạt khoảng 20,73% tỷ
USD, tăng 27,5% tổng số vốn thực hiện đạt hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 44
tỷ USD. Đây là một con số đáng kể.
Nguồn vốn FDI chủ yếu là ngoại tệ mạnh và máy móc thiết bị tương đối hiện đại
nên đã đóng góp cơ sở vật chất mới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ
tầng, tăng thêm năng lực sản xuất mới của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất
là khu vực công nghiệp.
Hai là:Thông qua v iệc chuyển giao công nghệ kỹ thuật, FDI đã góp phàn
làm tăng năng suất lao động, khả năng sản xuất, kinh nghiệm quản lý ở một số
ngành. Việt Nam bước vào công cuộc hồi phục và phát triển kinh tế với xuất
phát đIểm thấp về mặt công nghệ. Do đó chất lượng sản phẩm thấp, khó có thể
tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Mặt khác, trình độ
công nghệ thấp còn dẫn đến ô nhiễm môi trường. Sau khi thực hiện luật đầu tư
nước ngoài, việc đổi mới nước ta đã thực hiện với quy mô và tốc độ cao hơn
nhiều so với trước đó.
Nước ta đã tiếp nhận được một số công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong nhiều
ngành kinh tế như: thông tin viễn thông, thăm dò dầu khí, hóa chất, sản xuất
công nghiệp, xây dựng khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, sản xuất lắp ghép ôtô,
công nghệ điện tử, xe máy, sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng có chất lượng
Cụ thể trong các ngành dầu khí, nhiều thiết bị và công nghệ tiên tiến của các
hãng nổi tiếng trên thế giới như Mobile của Mỹ, BHP Rertolium, CKA của Úc
và các công ty khác của Hà Lan, Ý, Pháp, Anh, Nga, Ấn độ đã được đưa vào
Việt Nam để thực hiện thăm dò và khai thác dầu khí cũng như xây dựng các nhà
máy lọc dầu. Trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, các thiết bị hiện đại của công

vươn lên đảm nhiệm các công việc quan trọng, có uy tín đối với đối tác nước
ngoài. Sự đóng góp này tuy nhỏ bé, song lại đáng quý trong điều kiện thiếu
nhiều việc làm ở nước ta.
Trên đây là những lợi ích ban đầu mà chúng ta thu được thông qua việc thu
hút FDI. Tuy còn rất khiêm tốn nhưng nó cũng đã góp một phần quan trọng vào
sụ nghiệp đổi mới của nước ta.
Nhận thức được vị trí ngày càng to lớn của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Đảng và nhà
nước ta đã đề ra chủ trương thu hút và sử dụng vốn bên ngoài. Để thực hiện chủ
trương đó, nhà nước Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư
nước ngoài. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành luật đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam. từ tháng 12 năm 1987 đến nay đã bổ sung 3 lần nhằm tạo
điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài. Sau khi ban hành
luật một số các văn pháp quy khác để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành luật.
Chính phủ Việt Nam đã cố gắng hết sức nhằm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi
như: Ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựnh và cải tạo cơ sở hạ tầng, duy trì ta kinh tế
cao Đây là nhân tố chủ quan để đạt được những thành tựu trên mà khu vực có
vốn đầu tư đã đóng góp. Mặt khác, nước ta có nguồn tài nguyên phong phú,
nguồn lao động dồi dào, có vị trí thuận lợi cho việc buôn bán với các nước
trong khu vực và trê thế giới mà nhất là quan hệ Việt-Mỹ hiện nay. Mỹ và Việt
Nam đã ký hiệp định Thương mại song phương là nhân tố quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp tới dòng máu chuyển các nguồn vốn từ bên ngoài vào Việt Nam, là
triển vọng lớn của việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những n tới. Những
nhân tố khách quan hữa hẹn sẽ mang lại cho các nhà đầu tư lợi nhuận cao của
năm tới là nhân tố quyết định những thành công của FDI trong những năm qua.
2. Những hạn chế, nguyên nhân
Bất kỳ một tấm huân trương nào cũng có mặt trái của nó, FDI của nước ta
cũng có những vấn đề đáng phải suy nghĩ:
Một là: Cơ cấu đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chưa hợp lý. Hơn 10 năm
qua, các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mới chỉ tập trung vào một số địa

ty trách nhiệm hữu hạn hàng hải Lizena như vụ nhà máy thuốc lá Lataba và nhà
máy thuốc lá Khánh Hòa hợp tác sản xuất Marboro giả để xuất khẩu sang Hà
Lan.
Ba là: Đầu tư nước ngoà đã và đang tạo ra sự cạnh tranh găy gắt với các
doanh nghiệp nội địa về lao động, kỹ thuật, về thị trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh mặt tích cực của cạnh tranh đó, cũng xuất hiện nhiều yếu tố tiêu
cực ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước. Rõ
nhất là sản xuất bia, bột giặt, dệt, da, lắp ráp điện tử, chế biến nông sản. Ví dụ
công nghiệp điện tử liên doanh với nước ngoài tăng 35% lập tức khu vực trong
nước giảm 5%. Tương tự cũng vậy với vải tăng 37,55% và tăng 1,3% thực
phẩm, đồ uống 19,5% và 11,5%, bột giặt tăng 114,6% và tăng 5,7% Hơn thế
nữa, các nhà đầu tư gây nhiều thiệt thòi cho người lao động. Mục đích của nhà
đầu tư là nhằm thu được lợi nhuận càng cao càng tốt. Vì vậy họ luôn tìm cách
khai thác lợi thế tương đối của nước chủ nhà. Một lợi thế lớn nhất của Việt Nam
là gía lao động rẻ. Vì vậy nhà đầu tư gây nhiều thiệt thòi cho người lao động. Ở
một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các nhà đầu tư đã tăng cường độ lao
động, cắt xén điều kiện lao động thậm chí xúc phạm nhân phẩm của người lao
động, mua chuộc hoặc phản ứng với các cán bộ công đoàn. Vì vậy đã có nhiều
§Ò ¸n m«n häc

19

cuộc tranh chấp về lao động xảy ra ở các xí nghiệp này (14 xí nghiệp trong hơn
700 xí nghiệp đang hoạt động)
Bốn là: Mô hình khu công nghiệp, khu chế xuất tuy có nhiều ưu điểm, nhưng
sự phát triển trong hơn 10 năm qua. Mô hình này ở Việt Nam cũng xuất hiện
những yếu tố hạn chế. Trước hết là xu hướng phát triển tràn lan không theo quy
hoạch, chạy theo số lượng mà chưa tính đến yếu tố hiệu quả. Đến năm 1998,
cả nước có 54 khu công nghiệp, khu chế xuất với tổng diện tích đất 9000 ha
nhưng mới lấp đầy 23% diện tích, 77% còn lại vẫn còn chờ các chủ đầu tư. Cả

nghê, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực còn nhiều vấn đề phải
hoàn thiện.
3. Những vướng mắc, trở ngại
Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam thường xuên lắng nghe các nhà
đầu tư và đã ban hành nhiều biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, tháo gữ khó
khăn cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoàinhư sửa đổi luật đầu tư nước
ngoài, miễn giảm thuế, tiền thuê đất, giảm giá phí một số mặt hàng, dịch vụ,
§Ò ¸n m«n häc

20

điều chỉnh mục tiêu hoạt động của nhiều dự án, bổ sung các biện pháp khuyến
khích và bảo đảm đầu tư, xử lý linh hoạt việc chuyển đổi hình thức đầu tư vv
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn một số vướng mắc gât khó khăn cho việc thu
hút vốn đầu tư nước ngoài.
3.1. Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI của các nước của các khu
vực
Xu hướng gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới là yêu cầu tất
yếu của quá trình quốc tế hóa đới sống kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng
mạnh mẽ. Xu hướng này mang tính lâu dài, cho dù trong số nn cụ thể lượng vốn
FDI có thể giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhất là ở các nước phát
triển. Tuy vậy nhưng tổng số vốn FDI trên thế giới là rất lớn, song tỷ trọng đầu
tư vào các nước phát triển trong tổng FDI chỉ chiếm ít và có thể giảm xuống
trong những nn tới. Do đó cuộc cạnh thanh thu hút FDI giữa các nước đang phát
triển còn tiếp tục tăng. Mặt khác một sự kiện gần đây cho thấy Việt Nam sẽ khó
khăn hơn trong thu hút đầu tư nước ngoài. Đó là nước láng giềng Trung Quốc
gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO).
3.2. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém
Do xuất phát thấp nên cơ sở hạ tầng còn kém của Việt Nam đã tồn tại qua
nhiều thế kỷ qua, gây ra những ấn tượng không mấy hấp dẫn cho các nhà đầu tư

hoạt các thông tin đó. Từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn kịp thời. Hơn nữa
phí trong ngành bưu chính viễn thông hiện nay đang còn khá cao so với khu vực
và trên thế giới. Đồng thời khu vực FDI hiện còn phải chịu mức khá cao so với
khu vực trong nước. Điều này gây bất bình đối với các nhà đầu tư và làm cho
chi phí hoạt động tăng cao, gây khó khăn cho việc thực hiện các dự án FDI.
Hệ thống thoát nước và hệ thống cung cấp điện đã được xây dựng và chú
trọng đầu tư. Song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động
FDI. Hệ thống cáp thoát nước đô thị trong những thành phố lớn đang bị xuống
cấp ngiêm trọng, thậm chí nhiều khu vực đô thị chưa có hệ thống thoát nước. Ở
Hà Nội số lượng cống thoát nước chỉ đáp ứng được trên 40% yêu cầu. Ở thành
phố Hồ Chí Minh và ở một số thành phố khác ở phía Nam, hệ thống thoát nước
có khá hơn nhưng cũng chịu áp lực lớn do việc mở rộng khá nhanh của các khu
dân cư.
3.3. Môi trường hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập
Hệ thống pháp luật của Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nên còn
thiếu tính động bộ, chưa đủ mức cụ thể, chưa bảo đảm được tính rõ ràng và dự
đoán được trước. Sau hơn 10 năm qua kể từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam đã được sửa đổi 3 lần. Các văn bản pháp lý liên quan đến FDI rất
nhiều, nhưng việc hệ thống hóa còn yếu, việc tuyên truyền còn hạn chế, việc
hiểu và tận dụng chưa nhất quán, tùy tiện. Tạo nên tình trạng “trên thoáng dưới
chặt” Cụ thể: Một số Bộ ngành chưa ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn.
Nghị Định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính Phủ quy định chi tiết luật
đầu tư nướ ngoài tại Việt Nam gây khó khăn cho các hoạt động của các doanh
nghiệp ví dụ như văn bản hướng dẫn thuế, quản lý tài chính doanh nghiệp, chế
độ kế toán của Bộ Tài Chính, hướng dẫn chuyển giao công nghệ
Mặt khác thủ tục hành chính còn rườm rà, tệ qua liêu, thiếu trách nhiệm của
một số cán bộ công chức gây ách tắc triển khai dự án và sản xuất kinh doanh.
Tình trạng “nhiều cửa nhiều khóa” vẫn đang tồn tại.
Còn nữa các văn bản quy định về sở hữu trí tuệ chưa rõ ràng và thực hiện
mất thời gian. Các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn Chính Phủ xây dựng các

tiếp nước ngoài cần được quan tâm hơn nữa. Bởi nguồn vốn này đem lại cho
nước nhận đầu tư (cho Việt Nam) nhiều lợi ích. Mà thực tiễn trong những năm
qua Việt Nam đã đạt được đó là: Góp phần quan trọng trong việc khắc phục tình
trạng thiếu vốn ở nước ta, khoảng 30% tổng số vốn đầu tư trong nước, tạo công
ăn làm việc cho người lao động, tăng nguồn thu nhập từ xuất khẩu dich vụ và
đóng góp cho ngân sách Nhà nước
Do thời gian và trình độ có hạn, nên bài viết không tránh khỏi những kiếm
khuyết. Em mong được sự góp ý của các thầy cô đẻ bài viết của em được hoàn
thiện. Em xin chân thành cảm ơn.
§Ò ¸n m«n häc

24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
2. Giáo trình kinh tế đầu tư (Đại học kinh tế quốc dân)
3. Chiến lược huy đông vốn phục vụ CNH-HĐH đát nước
4. Luật đầu tư nước ngoài: 1990,1992, 1996, 2000 và các văn bản dưới luật
5. Các tạp chí : Ngiên cứu kinh tế, đầu tư, kinh tếvà dự báo và các tạp chí khác
6. Giáo trình đầu tư nước ngoài (Đại học ngoại thương)
7. Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam
Phần 2: Thực trạng huy động vốn FDI vào việt nam trong thời gian qua 15
I. Tình hình thu hút vốn FDI 15
1. Một số dự án và số vốn đầu tư 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status