CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: Tác động tràn của FDI đến khu vực
kinh tế trong nước
độ lao động.v.v… Tác động này được xem là tác động một tỡnh thế khỏc, vốn FDI
vào một nước có thể làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế nhưng đóng góp của nguồn
vốn này vào tăng trưởng là thấp. Cả hai trường hợp trên đều được coi là không thành
công với chính sách thu hút FDI chưa tận dụng triệt để và lóng phớ nguồn lực này
dưới góc độ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là của các nước đang phát triển, thông qua
hai kênh tác động ở trên.
Đề tài: “Tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nước” sẽ
tập trung giải thớch và làm rừ tỏc động gián tiếp của FDI tới tăng trưởng kinh tế. Kết luận
Trong khoảng gần 20 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành Việt
Nam đó thu được những kết quả khá ấn tượng về thu hút FDI. Cùng với sự tăng
trưởng nhanh về GDP chung của cả nền kinh tế, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng
2
ngày càng tăng trong GDP. Thành quả trên được đánh giá là lết quả của cải cách
chính sách kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong giai đoạn vừa qua, đồng thời kết quả
đó cũng gợi mở về quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
3
Phần một
Lí LUẬN CHUNG
I. FDI
1. Cỏc khỏi niệm:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hỡnh thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và
người sử dụng vốn đầu tư là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân
người nước ngoài trực tiếp tham gia vào quá trỡnh quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận
hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đó bỏ ra.
Theo IMF thỡ đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tổ chức kinh tế(nhà đầu tư trực
tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục
đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh
nghiệp đặt tại nền kinh tế đó.
Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thỡ đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ
chức, cá nhân người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản
nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo
quy định của luật này.
Kể từ năm 1996 thỡ khỏi niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào khác để
tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài.
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một
nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia đó để có
được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia
đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mỡnh.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có
nhân tố nước ngoài : chủ đầu tư, vốn đầu tư, địa điểm đầu tư từ các quốc gia khác
cung người ta thấy khả năng tiết kiệm ít ỏi, tình hình đó là do mức độ thấp của thu
nhập thực tế. Mức thu nhập thực tế phản ánh năng suất lao động thấp, đến lượt mình,
năng suất lao động tháp phần lớn do tình trạng thiếu tư bản gây ra. Thiếu tư bản lại là
kết quả của khả năng tiết kiệm ít ỏi đưa lại. Và thế là cái vòng được khép kín. Trong
cái “vòng luẩn quẩn của sự nghoè đói” đó, nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn. Do vậy,
mở6 cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài được ông xem là giải pháp thực tế nhất đối
với các nước đang phát triển.
Samuelson cũng cho rằng, để phát triển kinh tế phải có cú huých từ bên ngoài
nhằm phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn” đó, phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước
đang phát triển. Theo ông, nếu có quá nhiều trở ngại đối với việc đi tìm nguồn tiết
kiệm trong nước để tạo áôn thì tại sao không dựa nhiều hơn vào các nguồn bên ngoài?
“Chẳng phải lý thuyết kinh tế đã từng nói với chúng ta rằng, một nước giàu sau khi đã
hút hết những dự án đầu tư có lợi nhuận cao cho mình, cũng có thể làm lợi cho chính
nó và nước nhận đầu tư bằng cách đầu tư vào những dự án lợi nhuận cao ra nước
ngoài đó sao”.
FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồn vốn ổn
định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài
hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước
tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi.
2.2. FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển:
Có thể nới công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của
mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định
5
rõ. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên
phát triển hàng đầu của mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi
không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa
học - kỹ thuật.
Lênin cũng đã từng khẳng định: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được
xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức
nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ
công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây là
một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển công
nghệ ở các nước đang phát triển.
62.3. FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm:
Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng
cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó, họ đặc biệt quan
tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư. Số lao động
trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang
phát triển. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI
cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm. Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các
dự án FDI sử dụng nhiều lao động đã tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ. Điều này
không chỉ mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự
nghiệp giải phóng phụ nữ ở các nước này.
FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà
thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo. Các cá nhân làm việc cho
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản
thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI
cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác
mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng. Những cải thiện về nguồn nhân
lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm
việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong
nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.
Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ và dinh
dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y tế, dược
phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm.
nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ.
II. TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI:
1. Khỏi niệm:
Các chuyên gia thực hiện nghiên cứu tác động của đầu tư nước ngoài tới tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam cho rằng, kỳ vọng lớn nhất của các nước đang phát triển
trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế với hai lý
do chớnh.
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài được coi là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung
vốn đầu tư trong nước.
Thứ hai, đầu tư nước ngoài tạo cơ hội cho các nước nghèo tiếp cận công nghệ tiên
tiến hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc đẩy quá trỡnh phổ biến kiến thức,
nõng cao kỹ năng quản lý và trỡnh độ lao động
Tác động này được xem là tác động tràn của đầu tư nước ngoài, góp phần làm
tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước và cuối cùng là đóng góp vào tăng
trưởng kinh tế núi chung.
Vậy Tác động tràn là tác động gián tiếp xuất hiện khi có mặt của các doanh
nghiệp FDI làm cho các doanh nghiệp trong nước thay đổi hành vi của mỡnh như
thay đổi công nghệ, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh…
Cú 4 kờnh xuất hiện tác động tràn nhiều nhất: kênh di chuyển lao động, kênh phổ
biến & chuyển giao công nghệ, kênh liên kết sản xuất và kênh cạnh tranh.
2. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn:
2.1. Kênh di chuyển lao động:
Lao động có kỹ năng chuyển từ doanh nghiệp FDI tới doanh nghiệp trong nước
được coi là một kênh quan trọng có thể tạo ra tác động tràn tích cực. tác động tràn xảy
8
ra nếu như số lao động này sử dụng kiến thức đó học được trong thời gian làm việc tại
các doanh nghiệp FDI vào công việc trong doanh nghiệp trong nước. Có hai cách để
khu vực doanh nghiệp FDI chịu sức ép cạnh tranh lớn nhất giữa các doanh nghiệp này
với nhau thỡ cỏc doanh nghiệp trong nước lại cho rằng họ đang chịu sức ép cạnh
tranh mạnh ngang nhau từ các doanh nghiệp FDI và chính các doanh nghiệp trong
nước. Trong khi doanh nghiệp FDI chịu áp lực mạnh nhất về sản phẩm như chủng
loại , mẫu mó, thỡ cỏc doanh nghiệp trong nước lại đánh giá cao nhất về công nghệ có
trỡnh độ cao hơn từ các doanh nghiệp FDI
9
Phần hai
TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ
TRONG NƯỚC
I. TèNH HèNH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
QUA:
Từ đầu thập niên 1990, kinh tế vĩ mô của Việt Nam được ổn định, tốc độ phát triển
kinh tế cũng lên quỹ đạo và ở mức tương đối cao. Quan hệ với Trung Quốc và các
nước khác trong khu vực đó bỡnh thường hoá. Nhật đó quyết định viện trợ trở lại
(1992) và Hội nghị các nhà tài trợ giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng đó được
quyết định sẽ tổ chức hằng năm (bắt đầu năm 1993). Sự chuyển biến thuận lợi nầy
cùng với vị trí địa lý tốt, tỡnh hỡnh chớnh trị, xó hội ổn định và một nước có dân
đông, có nguồn lao động phong phú đó làm cho Việt Nam trở thành mụi trường đầu
tư nhiều tiềm năng. Theo kết quả thăm dũ hằng năm về kế hoạch đầu tư nước ngoài
của vài ngàn doanh nghiệp lớn Nhật Bản do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JBIC) thực hiện, Việt Nam đó sớm trở thành một trong những mụi trường mà doanh
nghiệp Nhật chú ý. Việt Nam xếp thứ 5 trong lần thăm dũ năm 1992. Năm 1993 Việt
Nam ở vị trí thứ 4 và trong 2 năm liên tiếp sau đó đó vươn lên vị trí thứ 2. Từ năm
1996 vị trí của Việt Nam giảm nhưng hầu như năm nào cũng nằm trong 5 nước được
tương quan mật thiết với các chỉ tiêu về thành quả phát triển như GDP trên đầu người
và kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Từ nhận xét nầy, có thể nói tỉ lệ của FDI
trong tổng đầu tư ở Việt Nam cao là vỡ đầu tư vốn trong nước (nội lực) cũn quỏ ớt.
Việt Nam cần huy động vốn trong dân, cải thiện môi trường đầu tư cho dân doanh
hơn nữa để tăng nội lực. Tóm lại, tỉ lệ khá cao của FDI không có nghĩa là Việt Nam
không cần ngoại lực nhiều hơn mà vấn đề ở đây là cả nội lực và ngoại lực đều cần
tăng cường.
12Xét về chất, FDI tại Việt Nam cho đến nay có các đặc tính chưa mang lại hiệu
quả tích cực cho phát triển kinh tế. Trước hết có thể thấy tỉ trọng của FDI trong sản
xuất công nghiệp khá cao (gần 40% năm 2000) nhưng chỉ chiếm độ 10% trong lao
động công nghiệp (Biểu 1). Dĩ nhiên điều đó cũng có nghĩa là năng suất lao động của
các doanh nghiệp FDI cao hơn các thành phần kinh tế khác. Nhưng FDI ít tạo ra công
ăn việc làm không phải chỉ vỡ lý do đó mà chủ yếu vỡ cho đến nay FDI có khuynh
hướng tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu và ít dùng lao động. Như Biểu 1
cho thấy, vị trí của FDI trong tổng nhập khẩu cao hơn trong tổng xuất khẩu. Dĩ nhiên
các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nhiều nguyên liệu và máy móc để phục vụ cho cả
các dự án đầu tư hướng về xuất khẩu nhưng nếu phần lớn FDI là hướng về xuất khẩu
thỡ tỉ lệ của FDI trong nhập khẩu sẽ thấp hơn nhiều.
Để phân tích sâu hơn tính chất của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, ta thử
chia khu vực công nghiệp chế biến (manufacturing sector) thành 23 ngành và tính thử
tỉ lệ của tư bản dùng cho mỗi lao động (capital/labor ratio, viết tắt là K/L) và tỉ lệ xuất
khẩu trong tổng doanh số bán ra (export/sales, viết tắt là E/S) trong từng ngành.
Thống kê về tư bản được tính bằng cách cộng tất cả kim ngạch đầu tư đó thực hiện từ
trước đến thời điểm cuối năm 2002. Thống kê về lao động lấy số liệu vào cuối năm
2002, kim ngạch xuất khẩu và doanh số bán ra là của năm 2002.
Trong Hỡnh 3, trục tung đo tỉ lệ E/S và trục hoành đo tỉ lệ K/L. Ta thấy ngay rằng
trừ một vài ngoại lệ, những ngành có hàm lượng lao động cao (tỉ lệ K/L thấp) là
14
II. TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ TRONG
NƯỚC:
1. Kênh di chuyển lao động:
Có thể thấy chỉ tiêu này rất cao ở khu vực doanh nghiệp FDI (43,4%) và cao nhất
ở nhóm ngành may mặc và da giày. Trong số chuyển đi, khoảng 42% là lao động có
kỹ năng, tỷ lệ thấp nhất trong nhóm ngành dệt may - da giày (37%) và cao nhất là
nhóm ngành chế biến thực phẩm (50,3%). Nếu so sánh chỉ tiêu này thỡ khả năng có
thể sinh ra tác động tràn ở ngành chế biến thực phẩm cao hơn là dệt may.
Tuy nhiên 32% số doanh nghiệp FDI được hỏi cho rằng lao động đó chuyển đi
khỏi chủ yếu chuyển tới các doanh nghiệp FDI khác, 23% cho rằng số lao động này tự
mở Công ty và 18% trả lời lao động chuyên đi làm cho các doanh nghiệp trong nước
(số cũn lại trả lời không biết). Như vậy, tuy tính linh hoạt về di chuyển lao động khá
cao của khu vực doanh nghiệp FDI trong ba nhóm ngành trên, nhưng 1/3 số lao động
chỉ di chuyển trong nội bộ khu vực doanh nghiệp FDI và rất có thể phần lớn trong số
họ là lao động có kỹ năng. Kết quả này có phần ủng hộ cho nhận định về hiện tượng co cụm
về lao động của khu vực FDI hay thấy ở các nước đang phát triển.
Chỉ có 4,6% doanh nghiệp trong nước thuộc nhóm ngành chế biến thực phẩm trả lời
đó tiếp nhận lao động từ doanh nghiệp FDI, trong khi khụng doanh nghiệp nào trong hai
nhúm cũn lại tuyển được lao động từ các doanh nghiệp FDI chuyển sang.
Tổng hợp kết quả các cuộc điều tra gần đây cho thấy các doanh nghiệp FDI tích
cực chuyển giao công nghệ cho lao động ở nhà máy và chuyển giao tri thức điều
hành, quản lý cho kỹ sư, nhân viên quản lý cỏc cấp người Việt Nam. Khi nguời Việt
Nam không hoặc chưa thoả món cỏc điều kiện về chuyên môn, doanh nghiệp nước
ngoài mới đưa người ở các nước khác đến. Người nước khác ở đây không nhất thiết là
người nước gốc của MNCs mà kể cả người ở các nước thứ ba. Đặc biệt nhiều công ty
FDI gốc Đài Loan hoặc Hong Kong thường thuê kỹ sư người ở Trung Quốc, công ty
FDI Nhật thường thuê người Đài Loan, v.v Sau 3-4 năm hoạt động, các doanh
nghiệp FDI dần dần tỡm người Việt Nam thay thế để giảm phí tổn sản xuất. Tiền
kênh này.
2. Kờnh phổ biến & chuyển giao cụng nghệ:
Kết quả điều tra cho thấy, năm 2003 các doanh nghiệp trong nước có tỷ lệ lao
động có kỹ năng thấp hơn rất nhiều so với tỷ trọng lao động kỹ năng của doanh
nghiệp FDI. Đáng quan tâm hơn tỷ trọng này cũn cú xu hướng giảm đi theo các năm
Các doanh nghiệp FDI chỉ tiêu cho hoạt động R&D cao gấp gần 3 lần so với các
doanh nghiệp trong nước, trong đó mức chênh lệch cao nhất ở nhóm ngành cơ khí -
điện tử. Nếu tính cả chỉ tiêu mức độ tập trung vốn thỡ cú thể thấy sản phẩm cú khớ
điện tử của khu vực doanh nghiệp FDI có hàm lượng công nghệ cao hơn nhiều và vỡ
vậy khả năng năng xẩy ra tác động tràn là thấp.
Chi cho R&D ở nhúm ngành dệt may cao hơn hẳn so với ngành chế biến thực
phẩm và mức chênh lệch giữa doanh nghiệp trong và nước ngoài là thấp. Đáng lưu ý
là xu hướng giảm tỷ trọng chi tiêu bỡnh quõn cho R&D so với doanh thu trong khu
vực doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong nhóm ngành cơ khí, điện tử. Điều này có thể có
nhiều nguyên nhân, chẳng hạn các doanh nghiệp không có đối thủ cạnh tranh trong
nước.
kết quả điều tra cho thấy tới 70% doanh nghiệp FDI rất ít khi tiếp cận với công
nghệ từ Công ty mẹ chuyển giao và 36% cho rằng ý tưởng đổi mới công nghệ bắt
nguồn từ nhu cầu thực tiễn cũa. Như vậy, thực tế là các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
hoạt động khá độc lập với Công ty mẹ ở nước ngoài đặc biệt là trong đầu tư đổi mới
công nghệ. Có 2 cách lý giải cho điều này. Một là bản thõn các Công ty mẹ cũng là
Công ty nhỏ, do đó năng lực cho hoạt động R&D không cao và không thể hỗ trợ
nhiều cho các Công ty con. Lý giải này phự hợp với nhận định khá phổ biến hiện nay
16
là các Công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các Công ty vừa và nhỏ.
Cỏch lý giải thứ 2 là Việt Nam chưa phải là thị trường đầu tư trọng tâm, hoặc trỡnh
độ công nghệ trong nước yếu dẫn đến không cần thiết phải đầu tư với công nghệ cao
hơn. Chúng tôi cho rằng có thể trong thực tiễn cả hai cách lý giải này đều đúng và bổ
Việt Nam. Vào giữa thập niên 1990, ngành nầy chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu
và độ 50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Với sự lớn mạnh của ngành da
giày và một số ngành xuất khẩu khác, vị trí của ngành may mặc có giảm nhưng vẫn
chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2001.
17
Trước giai đoạn may mặc (apparel) là các giai đoạn kéo sợi (spinning), dệt
(weaving) và dệt kim (knitting). Theo Biểu 7, số doanh nghiệp FDI hiện diện khá
đông đảo trong tất cả các giai đoạn, đặc biệt là khá tích cực trong giai đoạn may mặc.
Trong hai ngành may mặc và dệt nầy, các nước, các nền kinh tế đầu tư tích cực nhất
là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hong Kong. Nhiều công ty Nhật cũng tích cực.
Trừ Singapore, các dự án của các nước nầy có tỉ lệ xuất khẩu rất cao và tỉ lệ K/L thấp.
Điều nầy cho thấy các nước công nghiệp mới ở Á châu và Nhật Bản đó tận dụng lao
động Việt Nam để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điển hỡnh cú hàm lượng lao động
cao.
Nhưng hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong ngành may mặc có tạo ra một
sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước thuộc các giai đoạn kéo sợi và dệt không?
Theo điều tra của Viện quản lý kinh tế Trung Ương, vào năm 2002, vẫn cũn tới hơn
2/3 số doanh nghiệp FDI dùng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng may mặc.
Điều tra của tôi vào tháng 8 và tháng 9/2003 cho thấy các doanh nghiệp có vốn 100%
nước ngoài thường có khuynh hướng nhập khẩu hầu như toàn bộ bán thành phẩm và
nguyên liệu cần thiết. Chẳng hạn truờng hợp công ty 100% vốn Nhật Bản sản xuất
quần áo ở Khu chế xuất Tân Thuận, vào năm 2003, mặc dầu đó sau 7 năm hoật động
tại Việt Nam, vẫn cũn cú tới 97% nguyờn liệu và bỏn thành phẩm nhập khẩu từ nước
ngoài.
Những doanh nghiệp FDI có dùng (mặc dù số lượng chưa nhiều) nguyên liệu và
bán thành phẩm sản xuất trong nước nằm trong 2 trường hợp sau: Một là các xí
nghiệp liên doanh với các đối tác phía Việt Nam, các đối tác nầy thường là các công
ty quốc doanh mà sản xuất chính của họ là các mặt hàng trung gian đó. Một trong
những động cơ hoặc điều kiện để lập liên doanh với nước ngoài là tiêu thụ bán thành
7.00
2.81
6.02 6.62
2.85
Về sản phẩm 4.00
5.00
7.24
2.90
6.12 6.41
2.62
Về cụng nghệ 3.47
4.59
7.14
2.45
6.11 7.43
hiệu của các tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới.
Theo nghiên cứu của Công ty GFK trong năm 2004, các sản phẩm thương hiệu
Việt Nam chỉ chiếm 6% thị phần sản phẩm điện tử nghe nhỡn; 48% là cỏc sản phẩm
cú thương hiệu Nhật Bản và 35% là các thương hiệu Hàn Quốc Đối với sản phẩm
điện tử gia dụng, thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 3%; các thương hiệu Nhật chiếm
53%; các thương hiệu Hàn Quốc là 35%
Một số DN sản xuất hàng tiêu dùng trong nước đó nỗ lực rất lớn và đạt được
những thành quả bước đầu trong cuộc cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài. Có
thể kể sản phẩm nước tăng lực Number One của Công ty Tân Hiệp Phát như một điển
hỡnh. Bất ngờ xuất hiện một cách ấn tượng trên thị trường với phong cách mới lạ và
độc đáo, những chai nước tăng lực Number One đó kộo tụt doanh số của những "đại
gia" nước giải khát có ga, nhảy lên vị trí số một cả về thị phần lẫn doanh số của ngành
giải khát trong một thời gian dài. G7 - sản phẩm cà phờ hũa tan của Cụng ty Cà phờ
Trung Nguyờn ngay khi xuất hiện đó lập tức cho thấy khả năng đe dọa các đại gia
khác trong lĩnh vực này. Ngay lập tức, thị trường cà phê hũa tan sụi động với những
phản ứng của Nescafe khi thương hiệu này cùng lúc tung ra đến ba loại phục vụ
những đối tượng thích gu cà phê từ nhạt đến đậm. Nescafe cũng đưa ra thông điệp
"100% cà phê Việt Nam" nên "hương vị Việt Nam hơn" để đối chọi với lời kêu gọi
"Người Việt dùng hàng Việt" của Trung Nguyờn
Tuy nhiên, những cuộc "phản kích" như vậy của các thương hiệu trong nước
không nhiều. Chuyện được nhắc nhiều hơn là những thất bại của một số thương hiệu
trong nước trong cuộc chiến này mà sản phẩm bia L. là một thí dụ. Đầu tư công nghệ,
tiếp thị rất lớn nhưng bia L. vẫn phải chịu thất bại khi các kênh phân phối quan trọng
trên thị trường như hệ thống nhà hàng, khách sạn, quán ăn đều đó bị cỏc thương
hiệu nước ngoài khống chế.
20
trạng ở Việt Nam là các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử dụng lao động phổ thông là
chính và doanh nghiệp dệt may và cơ khí -điện tử cũng là các doanh nghiệp nhỏ xét
về vốn. Ngoài rakết quả tính toán cho thấy ở những đô thị lớn có ảnh hưởng tích cực
đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm dệt may nói chung và thuộc nhóm DNNN,
nhưng lại không có ảnh hưởng đến nhóm doanh nghiệp tư nhân trong nước. Điều này
có thể là do sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân khó cạnh trang được với cùng
loại sản phẩm do các doanh nghiệp khác sản xuất tại các đô thị lớn. Do vậy, doanh
nghiệp tư nhân thường cung cấp sản phẩm cho các thị trường có sức mua thấp hơn,
chẳng hạn ở vùng nông thôn.
Kết quả kiểm định ở ước lượng I cho biết sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI làm
thay đổi NSLĐ của các doanh nghiệp trong nước theo hướng tích cực hay cho thấy
dấu hiệu của việc xuất hiện tác động tràn tích cực. Ở góc độ ngành, biến tytrong có
dấu dương ở tất cả các nhóm ngành, ở cả hai nhóm doanh nghiệp nhưng chỉ có ý
nghĩa ở nhúm ngành chế biến thực phẩm. Xét trên giác độ loại hỡnh doanh nghiệp, sự
xuất hiện của doanh nghiệp FDI dường như không có ảnh hưởng gỡ tới NSLĐ của
DNNN cùng ngành nói chung và trong từng nhóm khảo sát nói riêng. Trong khi đó,
các doanh nghiệp FDI lại có tác động làm tăng NSLĐ của các doanh nghiệp tư nhân
nói chung và doanh nghiệp ngành dệt - may và chế biến thực phẩm.
21
19
Kết quả đánh giá tác động của FDI tới NSLĐ của doanh nghiệp trong nước
với biến tytrong
Doanh nghiệp trong nước Doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp tư nhân
I II III IV V VII
VII
(2.01)
0.122***
(4.61)
0.103**
(2.09)
0.156***
(3.81)
0.123**
(2.1)
0.097
(1.57)
0.081
(1.08)
tytrong 0.290***
(3,05)
0.602**
(2.71)
0.117
(1.69)
0.064
(1.53)
0.032
(0.91)
0.04
(0.35)
0.028
(0.42)
0.012
(-0.47)
0.055
(0.78)
0.044
(0.56)
Quimo 0,113***
(8,58)
0.077***
(2.98)
0.101***
(5.74)
0.105***
(4.31)
0.102***
(9.93)
0.075***
(4.38)
0.084***
(4.72)
0.104***
(4.88)
0.128***
(-0.28)
0
(.)
Dtinh 0,117***
(2,22)
-0.118
(-0.74)
0.147***
(3.47)
0.115
(1.52)
0.213***
(4.7)
0.083
(0.96)
0.165***
(4.18)
0.241**
(2.36)
0.061
(1.32)
-0.147
(-1.46)
0.164
(1.73)
0.035
(0.32)
Nganh Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính Ước tính
Hệ số tự do 0,353***
(2,65)
21
Tuy nhiờn, việc lý giải trờn thực tế là rất phức tạp do đó tách bạch rạch rũi tỏc
động tràn qua từng kênh, vỡ vậy cựng khú cú thể kết luận một cỏch chớnh xỏc về việc
khụng cú tỏc động tràn trong DNNN. Chẳng hạn, tác động tràn tích cực có thể xuất
hiện ở kênh này, nhưng lại là tiêu cực qua kênh khác và cuối cùng là triệt tiêu lẫn
nhau, thể hiện qua kết quả ước lượng mô hỡnh trờn.
2. Khả năng hấp thụ tác động tràn của doanh nghiệp trong nước
Nhiều nghiên cứu định lượng cho các nước đang phát triển, nhất là các nước
nghèo đó chỉ ra sự xuất hiện tỏc động tràn qua kênh tiếp thu công nghệ cũn phụ thuộc
vào khả năng hấp thụ của doanh nghiệp. Kokko (1993) lại cho thấy tác động tràn tỷ lệ
thuận với mức độ khác biệt về công nghệ. Tổng kết các nghiên cứu này cho thấy các
kết luận trái ngược nahu có thể là do phương pháp phân tích khác nhau, nhưng cũng
có thể do đặc điểm của ngành và của quốc gia được khảo sát. Mặc dù vậy hầu hết các
tác giả đều cho rằng việc xác định khả năng hấp thụ tác động tràn là khó khăn, nhưng
lại có ý nghĩa cho xõy dựng chớnh sỏch.
Để kiểm định các giả thuyết trên đây cho trường hợp của Việt Nam, phần này
cũng tiến hành một số ước lượng sử dụng mẫu số liệu thống nhất như ở các phần trên.
Trong phạm vi số liệu cho phép, các ước lượng lần lượt được thực hiện cho các nhóm
doanh nghiệp phân theo chất lượng lao động (biểu thị cho khả năng hấp thụ công
nghệ), theo quy nô vốn, theo quy mô lao động và theo vị trí địa lý. Từ đó có thể đưa
ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố nêu trên với tác động tràn.
Về phương pháp luận khả năng hấp thụ tác động tràn được đánh giá bằng cách so
sánh ít nhất hai n nhóm doanh nghiệp có khả năng hấp thụ công nghệ khác nhau, ở
đây được thể hiện qua trỡnh độ của lao động, đo bằng tỷ lệ lao động có chuyên môn
tay nghề trên số lao động không có chuyên môn tay nghề của doanh nghiệp. Chỉ số
này được sắp xếp theo thứ tự tăng dần, trong đó nhóm 25% số quan sát đầu tiên được
định nghĩa là có chất lượng lao động thấp và 25% số quan sát cuối cùng thể hiện mức
chất lượng cao. Vỡ vậy, khỏi niệm chất lượng cao và thấp về trỡnh độ lao động trong
hầu hết cỏc doanh nghiệp tư nhân, nhất là trong ngành chế biến thực phẩm ra đời
muôn hơn các DNNN và thậm chí muộn hơn một số doanh nghiệp FDI trong ngành.
Tức là các doanh nghiệp này một mặt chấp nhận môi trường hoạt động cạnh tranh,
nhưng mặt khác vẫn có thể cung cấp sản phẩm cho những khách hàng riêng ở các
vùng nghèo hơn mà doanh nghiệp FDI hoặc DNNN quy mô lớn chưa quan tâm đến.
Nói cách khác, rất có thể có sự bổ sung cho nhau giữa các doanh nghiệp FDI và
doanh nghiệp tư nhân trong ba nhóm ngành trên dưới góc độ thị trường tiêu thụ và đối
tượng khách hàng. Một cách lý giải khỏc nhỡn từ gúc độ các doanh nghiệp FDI ở
ngoài vùng đô thị lứon cho rằng các doanh nghiệp FDI này thường hoạt động trong
ngành đặc thù hoặc sản xuất dựa vào vùng nguyên liệu. Do vậy, sự cạnh tranh đối với
các doanh nghiệp trong nước cũng có thể giảm đi. Trong một số trường hợp, sự xuất
hiện của doanh nghiệp FDI cũn tạo ra mối liờn kết ngang giữa cỏc doanh nghiệp trong
và ngoài nước và nhờ đó xuất hiện tác động tràn tích cực. Tuy nhiên, do định nghĩa
"ngoài vùng đô thị" trong nghiên cứu này là quá rộng nên ở đây chưa thể lý giải được
hoàn toàn kết quả của mô hỡnh do thiếu cỏc thụng tin cần thiết.
Về khả năng hấp thụ tác động này của nhóm DNNN, có nếu xét ở mặt bằng
chung, tác động tràn không xuất hiện ở các DNNN như đó phõn tớch ở trờn. Tuy
nhiờn, thụng qua phõn loại DNNN theo quy mô, tác động tràn tích cực đó xuất hiện ở
nhúm DNNN cú quy mụ vừa nếu xột tiờu chớ vốn và ở nhúm DNNN cú quy mụ nhỏ
nếu xột tiờu chớ lao động. Mức độ tác động tuy nhiên rất yếu so với các doanh nghiệp
tư nhân cùng quy mô (vốn hoặc lao động) và chỉ được kiểm định ở mức ý nghĩa 10%.
Tức là, ở mức ý nghĩa 1% và 5%, tỏc động tràn có thể không xẩy ra. Kết quả này
khẳng định lại các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nói chung và cso khả năng