Giải pháp chuyển mạch mềm trong mạng di động thế hệ thứ 3 WCDMA - Pdf 10

Lời nói đầu
Thị trường di động trong những năm gần đây đã có những bước phát
triển vô cùng mạnh mẽ. Dịch vụ chủ đạo là thoại và SMS. Tuy nhiên, các dịch
vụ dữ liệu dựa trên nền IP ngày càng phát triển. Nhu cầu của con người về
dịch vụ mới là không giới hạn, đòi hỏi các dịch vụ đa dạng và chất lượng cao.
Người sử dụng di động mong muốn cùng một thời điểm họ có thể sử dụng
nhiều dịch vụ như vừa gọi điện thoại vừa gửi hình ảnh, chia sẻ file cho nhau...
Các dịch vụ viễn thông trở thành một một thứ "phong cách" trong cuộc sống.
Sự cạnh tranh giữa các nhà khai thác ngày càng khốc liệt. Với các dự đoán về
sự phát triển của thị trường như vây, họ phải có các bước đi phù hợp nhằm
đảm bảo sự sống còn của mình. Một giải pháp được quan tâm là xu hướng hội
tụ. Các nhà khai thác xây dựng mạng có tính hội tụ: một hệ thống các ứng
dụng chung chạy trên một hạ tầng mạng lõi duy nhất có thể phục vụ cho
nhiều phương thức truy nhập khác nhau. Trong lĩnh vực di động, việc chuyển
đổi kiến trúc mạng từ chuyển mạch kênh sang chuyển mạch gói dựa trên nền
công nghệ IP đang là xu hướng chủ đạo.
Trong luận văn này, em tập trung nghiên cứu về giải pháp chuyển mạch
mềm trong mạng di động – Mobile Switching Solution. Giải pháp này dựa
trên kiến trúc mạng phân lớp, mạng tích hợp ngang. Đó là kiến trúc mạng có
sự phân tách chức năng điều khiển với chức năng vận chuyển dữ liệu. Sự
phân tách lớp điều khiển khỏi lớp truyền tải phù hợp với xu hướng phát triển
của các hệ thống thông tin di động 3G và phù hợp với các tổ chức tiêu chuẩn
3GPP.
Nội dung báo cáo của em gồm:
Chương 1: Tổng quan về sự phát triển các hệ thống thông tin di động
1
Chương 2: Giải pháp chuyển mạch mềm trong mạng di động thế hệ thứ 3
WCDMA
Chương 3: Cách thức triển khai giải pháp MSS
Trong quá trình nghiên cứu, em đã cố gắng hoàn thành bản luận văn của
mình một cách hoàn chỉnh. Nhưng do thời gian và kiến thức còn nhiều hạn

Những hệ thống của thế hệ thứ hai (2G) đồng nghĩa với sự toàn cầu hoá các
hệ thống di động. Trong việc nhận ra tầm quan trọng của Internet và đồng
thời là một bước tiến tiếp tới ngưỡng cửa của công nghệ thế hệ thứ ba (3G),
giai đoạn phát triển cuối của loại mạng 2G đã cho ra đời những dịch vụ đa
phương tiện di động. Sự phát triển đầy kinh ngạc của Internet mô tả hoàn hảo
3
nhu cầu truy nhập vào các ứng dụng và dịch vụ băng rộng. Những loại dịch
vụ này nằm ngoài khả năng của các hệ thống thuộc thế hệ 2G đương thời, là
những dịch vụ mà chỉ cung cấp các dịch vụ thoại có tốc độ dữ liệu thấp. Sự
hội tụ của những công nghệ dựa trên các giao thức Internet và di động ngày
nay là động lực chính cho sự phát triển của các hệ thống thuộc 3G. Những hệ
thống truyền thông di động 3G sẽ có khả năng phân phối các ứng dụng và
dịch vụ với tốc độ dữ liệu lên tới và có thể vượt quá 2Mb/s. Việc tiêu chuẩn
hoá các hệ thống 3G thực hiên bởi Liên đoàn Viễn thông Quốc tế. Trên
phương diện toàn cầu, người ta sẽ nhìn nhận ra đây là hệ thống Viễn thông Di
động Quốc tế 2000 (IMT- 2000). Ở châu Âu, hệ thống 3G này sẽ được coi là
Hệ thống Viễn thông Di động Toàn cầu (UMTS). Cho dù thoại vẫn có thể là
ứng dụng chiếm ưu thế trong mấy năm đầu của mạng hệ 3G, những cũng sẽ
có khả năng mạng vận hành những hệ thống với những ứng dụng đa phương
tiện di động, chẳng hạn như điện thoại truyền hình ảnh, truy nhập file bằng
ftp, tra cứu trang Web… Khi công nghệ 3G mở ra, những ứng dụng mới với
băng thông rộng sẽ thâm nhập thị trường theo một khuynh hướng mà việc
chuyển phát dữ liệu sẽ cho ra thông lượng lớn nhất.
Tuy nhiên, mạng thông tin di động thế hệ thứ ba (3G) vẫn chưa đáp
ứng được tất cả nhu cầu của khách hàng cần sử dụng giao tiếp thông tin tốc
độ cao. Do đó, đòi hỏi phải có sự ra đời của mạng di động thế hệ thứ tư (4G).
Tốc độ dữ liệu di động trên 2Mb/s, và có khả năng lên tới 155Mb/s trong một
số môi trường nhất định, sẽ tiếp tục mở rộng các dịch vụ và ứng dụng trong
khả năng phân phối.
1.2. Hệ thống thông tin di động 2G

OMC

PLMN
PSTN
CSPDN
MS
OSS : Hệ thống khai thác và hỗ trợ
AUC : Trung tâm nhận thực
HLR : Bộ ghi định vị thường trú
MSC : Tổng đài di động
BSS : Hệ thống trạm gốc
BSC : Đài điều khiển trạm gốc
OMC : Trung tâm khai thác và bảo dưỡng
PSPDN : Mạng chuyển mạch gói công cộng
PSDN : Mạng chuyển mạch điện thoại công cộng
SS : Hệ thống chuyển mạch
VLR : Bộ ghi định vị tạm trú
EIR : Thanh ghi nhận dạng thiết bị
BTS : Trạm vô tuyến gốc
MS : Máy di động
ISDN : Mạng số liên kết đa dịch vụ
PLMN : Mạng di động mặt đất công cộng
Hệ thống GSM được thiết kế để làm việc ở băng tần 900 MHz
(896-960 MHz) và qui định tám khe thời gian cho mỗi kênh rộng 200 KHz.
Cấu trúc của mạng gồm ba phần chính:
• Phân hệ vô tuyến (RSS - Radio SubSystem) bao gồm phân hệ trạm gốc
(BSS) và thuê bao MS.
• Phân hệ chuyển mạch (SSS - Switching SubSystem) dùng cho các
chức năng chuyển mạch cần thiết cho các hoạt động độc lập của mạng
hoặc cho các hoạt động kết hợp của mạng với các mạng cố định

diện với MSC.
 Trạm thu phát gốc (BTS - Base Tranceiver Station)
Một BTS bao gồm các thiết bị thu/phát, anten và bộ xử lý tín hiệu đặc
thù cho giao diện vô tuyến. BTS là thiết bị trung gian giữa mạng GSM và
thiết bị thuê bao MS, trao đổi thông tin với MS qua giao diện vô tuyến. Có thể
coi BTS là các Modem vô tuyến phức tạp có thêm một số các chức năng
khác. Mỗi BTS tạo ra một hay một số khu vực vùng phủ sóng nhất định gọi là
tế bào (cell).
Một bộ phận quan trọng của BTS là khối chuyển đổi mã và thích ứng
tốc độ (TRAU - Transcode/Rate Adapter Unit). TRAU là thiết bị mà ở đó quá
trình mã hoá và giải mã tiếng đặc thù riêng cho GSM được tiến hành, tại đây
cũng thực hiện thích ứng tốc độ trong trường hợp truyền số liệu. Khối thích
ứng và chuyển đổi mã thực hiện chuyển đổi mã thông tin từ các kênh vô
tuyến (16 Kb/s) theo tiêu chuẩn GSM thành các kênh thoại tiêu chuẩn (64 Kb/
s) trước khi chuyển đến tổng đài. TRAU là một bộ phận của BTS, nhưng cũng
có thể được đặt cách xa BTS và thậm chí còn đặt trong BSC và MSC. TRAU
thường được điều khiển bởi BTS.
 Bộ điều khiển trạm gốc (BSC - Base Station Controller)
BSC có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến thông qua các lệnh
điều khiển từ xa. Các lệnh này chủ yếu là lệnh ấn định, giải phóng kênh vô
tuyến và chuyển giao. Một phía BSC được nối với BTS, còn phía kia nối với
MSC của phân hệ SS. Trong thực tế, BSC được coi như là một tổng đài nhỏ,
có khả năng tính toán đáng kể. Vai trò chính của nó là quản lý các kênh ở
giao diện vô tuyến và chuyển giao. Giao diện giữa BSC và MSC là giao diện
A, còn giao diện giữa BTS và BSC là giao diện Abis.
8
Các chức năng chính của BSC:
1. Quản lý mạng vô tuyến: việc quản lý vô tuyến chính là quản lý các
cell và các kênh logic của chúng. Các số liệu quản lý đều được đưa về BSC
để đo đạc và xử lý, chẳng hạn như lưu lượng thông tin ở một cell, môi trường

hiệu kênh chung số 7, mạng này đảm bảo hoạt động tương tác giữa các phần
tử của SS trong một hay nhiều mạng GSM.
Phân hệ chuyển mạch bao gồm:
 Trung tâm chuyển mạch di động (MSC - Mobile Switching Center)
MSC thường là một tổng đài lớn điều khiển và quản lý một số các bộ
điều khiển trạm gốc BSC. Một tổng đài MSC thích hợp cho một vùng đô thị
và ngoại ô có dân cư vào khoảng một triệu (với mật độ thuê bao trung bình).
MSC thực hiện các chức năng chuyển mạch chính, nhiệm vụ chính của MSC
là tạo kết nối và xử lý cuộc gọi đến những thuê bao của GSM, một mặt MSC
giao tiếp với phân hệ BSS và mặt khác giao tiếp với mạng ngoài qua G-MSC.
 Bộ ghi định vị thường trú (HLR - Home Location Register)
HLR lưu giữ các số liệu cố định của thuê bao di động trong mạng như
SIM, các thông tin liên quan tới việc cung cấp các dịch vụ viễn thông, không
phụ thuộc vào vị trí hiện thời của thuê bao và chứa các thông tin về vị trí hiện
thời của thuê bao. Thường HLR là một máy tính đứng riêng, không có khả
năng chuyển mạch nhưng có khả năng quản lý hàng trăm ngàn thuê bao. Một
chức năng con của HLR là nhận dạng trung tâm nhận thực thuê bao AUC.
 Bộ ghi định vị tạm trú (VLR - Visitor Location Register)
10
Là một cơ sở dữ liệu chứa thông tin về tất cả các MS hiện đang ở vùng
phục vụ của MSC. Mỗi MSC có một VLR, thường thiết kế VLR ngay trong
MSC. Ngay cả khi MS lưu động vào một vùng MSC mới. VLR liên kết với
MSC sẽ yêu cầu số liệu về MS từ HLR. Đồng thời HLR sẽ được thông báo
rằng MS đang ở vùng MSC nào. Nếu sau đó MS muốn thực hiện một cuộc
gọi, VLR sẽ có tất cả các thông tin cần thiết để thiết lập một cuộc gọi mà
không cần hỏi HLR có thể coi VLR như một HLR phân bố. VLR chứa thông
tin chính xác hơn về vị trí MS ở vùng MSC. Nhưng khi thuê bao tắt máy hay
rời khỏi vùng phục vụ của MSC thì các số liệu liên quan tới nó cũng hết giá
trị. Vì vậy, có thể gọi HLR là hệ thống lưu giữ “ Hộ khẩu tạm trú ” của các
thuê bao vãng lai.

MS. Như vậy có thể nối thông một cuộc gọi ở mạng GSM có sự khác biệt
giữa thiết bị vật lý và đăng ký thuê bao.
 Khối IWF:
Để kết nối MSC với một số mạng khác cần phải thích ứng các đặc điểm
truyền dẫn của mạng GSM với các mạng này. Các thích ứng này gọi là chức
năng tương tác IWF. IWF bao gồm một thiết bị để thích ứng giao thức và
truyền dẫn. IWF có thể thực hiện trong cùng chức năng MSC hay có thể ở
thiết bị riêng, ở trường hợp hai giao tiếp giữa MSC và IWF được để mở.
 Phân hệ khai thác và bảo dưỡng (OSS)
OSS (Operation and Support System) thực hiện 3 chức năng chính:
- Khai thác và bảo dưỡng mạng
- Quản lý thuê bao và tính cước
- Quản lý thiết bị di động
12
 Khai thác và bảo dưỡng mạng:
Khai thác: Là hoạt động cho phép nhà khai thác mạng theo dõi hành vi
của mạng như tải của hệ thống, mức độ chặn, số lượng chuyển giao giữa hai
cell… Nhờ vậy nhà khai thác có thể giám sát được toàn bộ chất lượng dịch vụ
mà họ cung cấp cho khách hàng và kịp thời nâng cấp. Khai thác còn bao gồm
việc thay đổi cấu hình để giảm những vẫn đề xuất hiện ở thời điểm hiện thời,
để chuẩn bị tăng lưu lượng trong tương lai và mở rộng vùng phủ sóng. ở hệ
thống viễn thông hiện đại, khai thác được thực hiện bằng máy tính và được
tập trung ở một trạm.
Bảo dưỡng: Có nhiệm vụ phát hiện, định vị và sửa chữa các sự cố và
hỏng hóc, nó có một số quan hệ với khai thác. Các thiết bị ở hệ thống viễn
thông hiện đại có khả năng tự phát hiện một số các sự cố hay dự báo sự cố
thông qua kiểm tra. Bảo dưỡng bao gồm các hoạt động tại hiện trường nhằm
thay thế các thiết bị có sự cố, cũng như việc sử dụng các phần mềm điều
khiển từ xa.
Hệ thống khai thác và bảo dưỡng có thể được xây dựng trên nguyên lý

dữ liệu dạng gói với tốc độ bit khoảng 115 kbit/s và giữ nguyên kiểu (mode)
chuyển mạch cho các tốc độ bit thấp khoảng chục kbit/s. Hệ thống này có tên
là GPRS. GPRS (General Packet Radio Service) là một hệ thống vô tuyến
thuộc thế hệ 2,5G, nhưng vẫn là một hệ thống 2G nếu xét về mạng lõi. Bằng
việc sử dụng lại các tần số, khung truyền dẫn (frame) và các cơ sở vật chất
sẵn có của mạng GSM, chỉ có duy nhất có thay đổi về phần mềm trong việc
cài đặt hệ thống, giải pháp GPRS sử dụng là mode thông tin khác nhau.
14
Chuẩn GPRS sử dụng khung truyền dẫn TDMA của chuẩn GSM. Tùy
theo số lượng bit thông tin cần tuyền đi, có thể một khe thời gian hoặc nhiều
khe thời gian được sử dụng để chuyển các gói tin. Do đó, ở kiểu chuyển mạch
kênh được sử dụng để truyền thông tin có tốc độ bit thấp như tiếng nói và
kiểu chuyển mạch gói để truyền thông tin tốc độ bit cao hơn như truyền các
gói dữ liệu. GPRS đã kết hợp các khe thời gian, tạo ra tốc độ bit cao hơn so
với GSM. GPRS cho phép tăng tốc độ truyền dữ liệu lên 8 lần nều sử dụng cả
8 khe thời gian của tần số sóng mang. Tuy nhiên, GPRS vẫn dựa vào kỹ thuật
điều chế GMSK nguyên thủy, do đó, vẫn hạn chế tốc độ truyền tin. GPRS là
nền tảng IP (Internet Protocol) cho mạng GSM và UMTS (Universal Mobile
Telecommunication System), do đó nó được sử dụng cho các ứng dụng WAP
(Wireless Application Protocol) và Internet.
1.3.2. Hệ thống EDGE
Một giải pháp kỹ thuật khác để đạt được tốc độ bit tương thích với các
ứng dụng truyền thông đa phương tiện tốc độ cao đó là giải pháp EDGE
(Enhanced Data Rate for GSM Evolution). Giải pháp này sử dụng lại các đặc
trưng phổ của chuẩn GSM cho phép tốc độ bit đạt tới 384 kbit/s. Chuẩn
EDGE cho phép đạt được tốc độ bit này bằng việc kết hợp sử dụng phương
thức điều chế pha 8-PSK (8–Phase Shift Keying) và sử dụng hay kết hợp
nhiều khe thời gian trong quá trình truyền dẫn như trong mạng GPRS thay vì
chỉ sử dụng khe thời gian như trong mạng GSM. Bằng việc có thể sử dụng lại
hầu hết các cơ sở vật chất của mạng GSM, giải pháp này cho phép giảm giá

16
truy cập theo mã CDMA, trong khi chuẩn UWC–136 dựa trên phương pháp
truy cập theo thời gian TDMA.
Mục đích của các chuẩn này là cho phép các dịch vụ truyền thông tin
đa phương tiện tốc độ cao (điện thoại, dữ liệu và hình ảnh) qua mạng internet
và để mở ra một mạng thông tin chung trên toàn thế giới. Các chuẩn 3G phải
tương thích với các hệ thống 2G và 2G+. Do đó, kỹ thuật thông tin sử dụng
băng tần kép hoặc đa băng sẽ được ứng dụng.
 Các tiêu chí chung để xây dựng IMT-2000:
 Sử dụng dải tần quy định quốc tế 2GHz như sau:
- Đường lên : 1882- 2025 MHz
- Đường xuống: 2110- 2200 MHz
 Là hệ thống thông tin di động toàn cầu cho các loại hình thong tin vô
tuyến:
- Tích hợp các mạng thông tin hữu tuyến và vô tuyến
- Tương tác cho mọi loại dịch vụ viễn thông
 Có thể hỗ trợ các dịch vụ như sau:
- Các phương tiện tại nhà ảo (VHE – Virtual Home Environment)
trên cơ sở mạng thông minh, di động cá nhân và chuyển mạng
toàn cầu
- Đảm bảo chuyển mạng quốc tế
- Đảm bảo các dịch vụ đa phương tiện đồng thời cho thoại, số liệu
chuyển mạch kênh và số liệu chuyển mạch gói
- Dễ dàng hỗ trợ các dịch vụ mới xuất hiện
 Các yêu cầu đối với hệ thống thông tin di dộng 3G
Sự phát triển của hệ thống thông tin di dộng thế hệ 3 ngoài việc giải
quyết các vấn đề mà hệ thống thông tin di dộng thế hệ 2 chưa thực hiện được,
17
còn phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng tăng của con người đối
với khả năng truyền số liệu. Vì vậy, hệ thống thông tin di dộng thế hệ 3 phải

là 3GPP (Third Generation Group Project Partnership). Mục đích của UMTS
là để phát triển vùng phủ sóng tốt nhất, tăng số lượng thuê bao, cải tiến sự hội
tụ giữa điện thoại cố định và di động và xúc tiến việc hoàn thành dịch vụ 3G.
UTRA (UMTS Terrestrial Radio Access) là giao diện vô tuyến của UMTS.
UTRA có 2 kiểu hay phương thức đa truy cập: truy cập theo mã băng rộng
W- CDMA (Wide Band Code Division Multiple Access) dành cho chế độ
FDD và phương pháp phân bố theo mã trong miền thời gian TD-CDMA
(Time Division Code Division Multiple Access) cho ché độ TDD. Phương
thức điều chế được sử dụng cho mỗi kênh là QPSK. Tùy theo nhu cầu sử
dụng phổ và tốc độ bit truyền, hệ số trải phổ sẽ thay đổi cho phù hợp. Kỹ
thuật điều chế và trải phổ được kết hợp gọi là HPSK.
Tốc độ bit dữ liệu thay đổi tùy theo vận tốc di chuyển và hệ thống
UMTS hoạt động theo phương thức truyền dẫn không đồng bộ. Tốc độ dữ
liệu thay đổi và hệ thống cho phép giảm các ảnh hưởng của fading trong kênh
vô tuyến.
WCDMA (Wideband Code Division Multiple Access) là một công
nghệ truy nhập vô tuyến được phát triển mạnh ở châu Âu. Hệ thống này hoạt
động ở chế độ FDD và dựa trên kỹ thuật trải phổ chuỗi trực tiếp (DSSS-Direct
Sequence Spread Spectrum) sử dụng tốc độ chip 3,84 Mcps bên trong băng
tần 5MHz. Băng tần rộng hơn và tốc độ trải phổ cao làm tăng độ lợi xử lý và
19
một giải pháp thu đa đường tốt hơn, đó là đặc điểm quyết định để chuẩn bị
băng tần cho IMT-2000.
WCDMA hỗ trợ trọn vẹn cả các dịch vụ chuyển mạch kênh và chuyển
mạch gói tốc độ cao và đảm bảo sự hoạt động đồng thời của các dịch vụ hỗn
hợp với chế độ gói hoạt động ở mức hiệu quả nhất. Hơn thế, WCDMA hỗ trợ
các tốc độ số liệu của người sử dụng có tính thay đổi cao, dựa trên thủ tục
điều chỉnh tốc độ, trong đó tỷ lệ dung lượng số liệu giữa những người sử dụng
có thể thay đổi từ khung này qua khung khác.
Chuẩn WCDMA hiện thời sử dụng phương pháp điều chế QPSK, một

 Mạng lõi (CN - Core Network)
Mạng lõi CN thực hiện khả năng hỗ trợ cho cả các dịch vụ viễn thông
chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói tới các thuê bao di động. Các dịch vụ
viễn thông này bao gồm cả các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ mới. Các dịch
vụ chuyển mạch kênh cơ bản bao gồm việc chuyển mạch kênh cho các cuộc
gọi thoại và dữ liệu, các chức năng điều khiển cuộc gọi để hỗ trợ các cuộc gọi
chuyển mạch kênh điểm-điểm cơ bản. Các dịch vụ chuyển mạch gói cơ bản
bao gồm việc định tuyến và vận chuyển các gói IP của người dùng. Các dịch
vụ mới, được đề cập chung như là các dịch vụ bổ sung hay là các dịch vụ
được thêm vào, bao gồm bất cứ dịch vụ nào cung cấp các hữu ích ngoài các
dịch vụ cơ bản. Ví dụ như các dịch vụ chuyển mạch kênh mới bao gồm các
cuộc gọi trả trước, các cuộc gọi miễn thuế, cuộc gọi chuyển tiếp (ví dụ chuyển
tiếp một cuộc gọi thoại này đến một cuộc gọi thoại khác hay đến một hòm
thư)… Các dịch vụ chuyển mạch gói mới có thể bao gồm tất cả các dịch vụ
hay tất cả các ứng dụng trên nền mạng IP ngoại trừ sự vận chuyển gói đơn
giản. Một vài ứng dụng là dịch vụ thư điện tử, World-Wide-Web, các dịch vụ
22
dựa vào sự phân vùng, các dịch vụ nhắn tin đa phương tiện, chò trơi trên
mạng và dịch vụ thương mại điện tử.
Mạng lõi CN được chia thành các khối chức năng như sau:
1. Vùng chuyển mạch kênh (CS)
2. Vùng chuyển mạch gói (PS)
3. Phân hệ đa phương tiện IP (IMS)
4. Các bộ dịch vụ thông tin
 Vùng chuyển mạch kênh trong mạng lõi
Vùng CS bao gồm tất cả các thực thể mạng lõi để cung cấp các dịch vụ
thoại và dữ liệu chuyển mạch kênh cho các thuê bao di động. Vùng chuyển
mạch kênh trong mạng lõi được xây dựng dựa trên các kỹ thuật của mạng lõi
GSM.
Các thực thể mạng chính của nó là:

một VLR và một HLR.
 Vùng chuyển mạch gói trong mạng lõi
Vùng PS CN cung cấp các chức năng chính dưới đây để hỗ trợ cho các
dịch vụ chuyển mạch gói:
- Điều khiển truy nhập mạng: xác định những thuê bao di động nào
được cho phép để sử dụng vùng PS. Các chức năng này bao gồm việc
đăng ký, việc nhận thực và việc uỷ quyền, điều khiển sự cho phép,
việc chọn lọc tin nhắn, và thu thập dữ liệu sử dụng.
24
- Định tuyến và vận chuyển gói: địng tuyến các gói tin người dùng đến
các đích của chúng hoặc trong cùng một PLMN hoặc trong các mạng
bên ngoài.
- Quản lý di động: Cung cấp các chức năng quản lý di động ở lớp
mạng. Các chức năng này bao gồm việc theo dõi các vị trí của các
đầu cuối di động, đánh dấu thời điểm bắt đầu để xác định vị trí chính
xác của một di động cụ thể khi mạng có dữ liệu để gửi cho di động,
và duy trì cập nhật mạng lõi định tuyến tới di động khi chúng di
chuyển.
Vùng PS được xây dựng trên nền mạng GPRS. Như trong GPRS, vùng
PS CN 3GPP bao gồm hai loại nút mạng chính: Serving GPRS Support Node
(SGSN) và Gateway GPRS Support Node (GGSN).
Một SGSN liên kết một hay nhiều RAN tới một PS CN.
Một GGSN phục vụ như là giao diện giữa vùng PS CN và mạng gói
khác (ví dụ như Internet, intranet, phân hệ đa phương tiện IP 3GPP). Một
GGSN có thể được sử dụng để hỗ trợ cho cả các GERAN và các UTRAN.
 Các bộ phục vụ thông tin
HSS, EIR và AuC được chia sẻ bởi các vùng PS và CS.
Bộ phục vụ thuê bao thường trú (HSS): HSS là cơ sở dữ liệu logic
chính gốc trong một PLMN để duy trì cho mạng thu thập thông tin của người
dùng để điều khiển các dịch vụ mạng cung cấp cho người sử dụng. Thành


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status