Tài liệu Chọn lọc tự nhiên và nguồn gốc các loài (DARWIN) doc - Pdf 10


Chọn lọc tự nhiên và nguồn
gốc các loài (DARWIN)
1. Loài và các đơn vị dưới loài
Ch. R. Darwin không đưa ra định nghĩa
về "Loài", mà chỉ chú ý tới vấn đề loài có
biến đổi hay không và biến đổi như thế
nào?
Theo Darwin các loài có biến đổi dần dà,
liên tục qua các dạng trung gian là sai dị
cá thể, thứ, phân loài. Các dạng này chỉ
khác nhau về mức độ tích luỹ biến dị nên
khó xác định được ranh giới rõ ràng giữa
chúng với nhau. Bằng chứng về sự biến
đổi đó là những loài nghi vấn. Darwin
cho rằng các đơn vị dưới loài: loài phụ,
thứ chỉ là quy ước nhân tạo cho dễ dùng
mà thôi.
2. Phân ly tính chất và nguồn gốc của
loài
Định nghĩa:
Phân ly tính chất là quá trình từ một vài
dạng ban đầu biến đổi theo hướng khác
nhau. Trong chọn lọc nhân tạo, phân ly
tính chất dẫn đến hình thành nhiều thứ
khác nhau trong phạm vi một loài. Trong
chọn lọc tự nhiên, phân ly tính chất dẫn
đến hình thành nhiều loài mới từ một loài

Hình 7: Di sinh trong bộ Thú ăn sâu bọ
+ Các dạng ở cạn:
1/ Chuột nhảy (Macroscelides); 2/ Chuột
chù (Sorex) ; 3/ Nhím (Hemiechinus) :
+ Các dạng vừa ở nước vừa ở cạn:
4/ Chuột xạ nước (Heomys); 5/ Chuột
nước (Potamogale); 6/ Chuột hương
(Demuna)
+ Dạng ở hang dưới mặt đất:
7/ Chuột chũi (Talpa); 8/ Chrisochloris ;
Theo S.U.Xtrôganôp, 1957

Hình 8: Thích nghi phóng xạ
1/ Chuột rừng 7/ Cá voi
2/ Cáo 8/ Cá biển
3/ Thỏ rừng 9/ Sóc
4/ Ngựa 10/ Chuột núi
5/ Chuột chũi 11/ Đồi
6/ Chuột chù
3. Sự hình thành loài mới
Loài mới được hình thành dần dần, liên
tục qua nhiều dạng trung gian theo con
đường phân ly tính chất dưới tác dụng
của chọn lọc tự nhiên.
Sự hình thành loài mới chịu tác dụng của
4 nhân tố: biến dị, di truyền, chọn lọc tự
nhiên và phân ly tính chất.
Trong đó (i) Biến bị cung cấp nguyên
liệu cho quá trình chọn lọc; (ii) di truyền
là cơ sở cho sự bảo tồn và tích luỹ biến

độ thích nghi với hoàn cảnh sống là
hướng cơ bản nhất chi phối hai hướng
kia.
5. Đánh giá quan niệm của DARWIN
Cống hiến
Darwin đã giải đáp vấn đề nguồn gốc các
loài trên quan điểm duy vật và theo
phương pháp lịch sử. Loài là sản phẩm
của chọn lọc tự nhiên. Các loài biến đổi
theo thời gian và không gian. Mỗi loài có
một lịch sử phát sinh phát triển và diệt
vong trong những điều kiện nhất định.
Các loài ngày nay đều xuất phát từ một
nguồn gốc chung.
Darwin Ch. R. đã giải thích được 4 điểm
còn tồn tại ở trong thuyết tiến hoá của J.
B. Lamarck.
(i)-Vì sao mỗi loài sinh vật đều thích
nghi với hoàn cảnh sống của nó? Vì chọn
lọc tự nhiên đã đào thải những dạng kém
thích nghi. Sự xuất hiện loài mới gắn liền
với sự hình thành đặc điểm thích nghi
mới.
(ii)-Vì sao các loài biến đổi liên tục,
nhưng ngày nay ranh giới giữa các loài
đang tồn tại vẫn khá rõ rệt? Vì chọn lọc
tự nhiên đã đào thải những hướng biến
đổi trung gian.
(iii)-Vì sao các yếu tố ngoại cảnh thay
đổi chậm mà sinh giới lại đa dạng nhanh

Mặc dầu còn những thiếu sót trên, học
thuyết tiến hoá của Darwin đã là bước
tiến dài so với biến hình luận và tiến hoá
luận trước ông, tạo bước ngoặt quan
trọng trong lịch sử phát triển của sinh
học.
Về biến dị, Darwin đưa ra khái niệm biến
dị cá thể, và cho rằng tác dụng trực tiếp
của ngoại cảnh hay tập quán hoạt động
của động vật chỉ gây ra những biến đổi
đồng loạt, theo hướng xác định tương
ứng với ngoại cảnh, ít có ý nghĩa trong
tiến hoá và chọn giống. Biến dị (sai dị cá
thể) xuất hiện trong quá trình sinh sản
của từng cá thể riêng rẽ và không theo
một hướng xác định mới là nguồn
nguyên liệu của tiến hoá và chọn giống.
Chọn lọc nhân tạo là quá trình chọn lọc
xảy ra do tác động của con người dựa
trên các biến dị của sinh vật, có thể các
biến dị đó là do nhân tạo hoặc biến dị
phát sinh trong tự nhiên.
Thực chất của quá trình chọn lọc nhân
tạo là sự tích luỹ những biến dị có lợi và
loại bỏ những biến di không có lợi cho
con người.
Động lực của chọn lọc nhân tạo là những
nhu cầu kinh tế và thị hiếu khác nhau của
con người.
Trong chọn lọc nhân tạo, con người khai

cùng loài và đấu tranh khác loài. Chọn
lọc tự nhiên xảy ra trên quy mô rộng lớn,
thời gian lịch sử dài, biến đổi toàn diện,
sâu sắc, và dẫn tới kết quả là tạo ra các
loài mới từ một dạng tổ tiên hoang dại
ban đầu. Ch. R. Darwin quan niệm loài
mới được hình thành dần dần qua nhiều
dạng trung gian, dưới tác dụng của chọn
lọc tự nhiên, theo con đường phân ly tính
trạng.
Chọn lọc tự nhiên tác động trên các đặc
tính biến dị, di truyền là nhân tố chính
trong quá trình hình thành đặc điểm thích
nghi trên cơ thể sinh vật. Thành công của
Darwin thể hiện trong lý thuyết chọn lọc
tự nhiên là đã giải thích được sự hình
thành đặc điểm thích và tính tương đối
của các đặc điểm thích nghi của sinh vật
với ngoại cảnh. Xây dựng luận điểm về
nguồn gốc thống nhất của các loài, chứng
minh toàn bộ sinh giới ngày nay là kết
quả của quá trình tiến hoá từ một nguồn
gốc chung.
Hạn chế trong quan niệm của Darwin là
chưa hiểu rõ nguyên nhân phát sinh biến
dị và cơ chế di truyền các biến dị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status