Chiến dịch giải phóng Nghệ An
Chiến dịch giải phóng Nghệ An là một chiến dịch lớn của nghĩa quân
Lam Sơn thực hiện trong các năm 1424-1425 nhằm giải phóng lãnh thổ,
thành lập chiến khu vững mạnh mới thay cho vùng núi Thanh Hóa, tạo
bàn đạp tiến đánh giải phóng các miền khác trong cả nước.
Nguyên nhân
Năm 1416, Lê Lợi và các cộng sự mở Hội thề Lũng Nhai, bắt đầu khởi
nghĩa chống quân Minh xâm lược.
Ban đầu nghĩa quân lập chiến khu ở vùng núi Lam Sơn (Thanh Hóa),
mặc dù có giành được một vài thắng lợi ở Lạc Thủy, Mường Một,
Mường Chánh, nhưng lực lượng mỏng lại bị quân Minh trấn áp quyết
liệt, nên phải rút về lập chiến khu mới ở vùng núi Chí Linh tại thượng
nguồn sông Chu (thuộc xã Giao An giữa Lang Chánh và Thường Xuân
của Thanh Hóa) vào khoảng năm 1418. Tại Chí Linh, quân Việt tiếp tục
gặp phải khó khăn về lương thực và lực lượng, bị quân Minh tấn công
dữ dội. Lê Lai đã phải cảm tử, đóng giả Lê Lợi để cứu nguy cho chủ
tướng. Giữa năm 1419, quân Minh lập căn cứ ngay tại vùng Lam Sơn,
gây sức ép mạnh trực tiếp tới Chí Linh, quân Việt buộc phải di chuyển
căn cứ của mình tới vùng Mường Khôi ở thượng lưu sông Mã, và phải
xin viện trợ về lương thực và voi, ngựa của các bộ tộc Lào. Nhưng về
sau Lê Văn Luật gièm pha, nên Lào không giúp nữa và còn liên minh
với quân Minh đánh quân Việt.
[1][2]
Cuối năm 1420, sau khi hạ được trại
Quan Du của quân Minh, Lê Lợi chuyển đại bản doanh của mình về đây.
Đầu năm 1423, quân Minh sử dụng lực lượng lớn đánh vào Quan Du,
quân Việt phải rút về huyện Khôi (Nho Quan). Quân Minh phối hợp với
quân Lào tiến đánh huyện Khôi, tuy quân Việt phòng thủ thành công,
nhưng cũng thiệt hại lớn và nhận thấy huyện Khôi nằm giữa Tây Đô và
Đông Quan là những căn cứ lớn của địch, nên không phải là nơi thuận
lợi. Tháng 5/1423, quân Việt quay trở lại vùng núi Chí Linh, tướng sĩ
Sau khi đánh xong Đa Căng, quân Việt theo đường núi Bồ Lạp ở lưu
vực sông Hiếu, sông Con và sông Lam thuộc huyện Quỳ Châu ngày nay,
tiến tới đánh thành Trà Lân. Quân Minh chia làm 2 cánh chặn đầu và
chặn đuôi quân Việt. Cánh chặn đầu do Sư Hựu (người Minh, giữ chức
đồng tri), Cầm Bành (người Việt, giữ chức tham tri phủ châu Trà Lân),
Cầm Lạn (người Việt giữ chức tri phủ ở Quỳ Châu) chỉ huy có 5 nghìn
quân. Cánh chặn hậu do Trần Trí (tổng binh), Lý An, Phương Chính,
Thái Phúc (đều là người Minh) chỉ huy dẫn quân từ thành Tây Đô tới.
Cánh chặn hậu của quân Minh bị quân Việt phục kích đánh thua ở Bồ
Đằng (Quỳ Châu), phải rút lui. Trận này, quân Việt tiêu diệt trên 2000
quân địch, chém được Trần Trung (hoặc Trần Quý) là đô ty người Minh.
[5]
Cánh chặn đầu của quân Minh không dám đánh nữa, mà rút về lập trại
ở Trịnh Sơn để bảo vệ thành Trà Lân.
[4][6]
Trận Trà Lân
Thành Trà Lân ở châu Trà Lân
[7]
là một sơn thành tọa lạc tại một trái núi
ở bờ Bắc sông Lam, chỗ hợp lưu của sông Con với sông Lam thuộc địa
phận xã Bồng Khê, huyện Con Cuông ngày nay. Thành này trấn giữ
đường từ miền núi Nghệ An xuống vùng đồng bằng. Thành đắp theo thế
núi, chu vi khoảng 2 km, ngoài có hàng rào tre và hào sâu. Lực lượng
của Cầm Bành vào khoảng 2.000 người.
[6]
Quân Việt vây thành Trà Lân, vừa đánh vừa dụ hàng. Cầm Bành cố thủ,
nhưng quân lính trốn mất dần. Tổng binh Trần Trí ở thành Nghệ An sau
trận thua đau ở Bồ Đằng không dám đến cứu Cầm Bành. Sơn Thọ (quân
Minh) thả sứ của quân Việt là Lê Trăn để xin Lê Lợi hòa hoãn.
Sau 2 tháng bị vây đánh, Cầm Bành xin hàng. Lê Lợi tha cho Cầm Bành,
Trận Đỗ Gia
Từ sau các trận Bồ Đằng, Trà Lưu, Khả Lưu, thanh thế của Lê Lợi nổi
mạnh, các lực lượng khởi nghĩa của người Việt ở Nghệ An đều xin theo.
Nhiều châu, huyện được giải phóng thêm. Cả Cẩm Quý, người Việt làm
tri phủ cho quân Minh ở phủ Ngọc Ma cũng xin quy thuận.
[8]
Quân Việt
áp sát thành Nghệ An, đưa thành này vào thế bị cô lập. Quân Minh từ
thành Nghệ An đánh ra vài lần đều thất bại, đành cố thủ bên trong.
[12]
Đầu năm 1425, Quân Minh từ thành Đông Quan do Lý An chỉ huy đi
đường biển vào chi viện cho mặt trận Nghệ An. Quân Trần Trí từ trong
thành đánh ra. Quân Việt dụ đối phương đến cửa sông Độ Gia và dùng
chiến thuật phục kích đánh bại. Trần Trí chạy về Đông Quan. Lý An ở
lại cố thủ thành Nghệ An.
[13]
Trận Diễn Châu
Tháng 6 năm 1425, Lê Lợi sai Đinh Lễ đem quân đánh thành Diễn
Châu. Thành này là trị sở của châu Diễn (gồm các huyện Quỳnh Lưu,
Diễn Châu, Yên Thành ngày nay). Quân Minh cố thủ trong thành. Quân
Minh ở Thanh Hóa điều 300 thuyền lương do đô ti Trương Hùng chỉ huy
vào tiếp tế cho thành Diễn Châu, nhưng rơi vào ổ phục kích của quân
Đinh Lễ ngay tại ngoài thành. Quân Minh bị mất nhiều thuyền bè và
lương thực, lại thêm trên 300 binh sĩ bị tử trận tại chỗ. Trương Hùng bỏ
chạy về Thanh Hóa. Quân Việt tiếp tục vây hãm thành.
[14]
Kết quả
Dùng lối đánh bao vây và mai phục, chỉ trong vài tháng, quân Việt đã
giành được những thắng lợi quan trọng, giải phóng các miền Nghệ An,
đưa các thành Nghệ An và Diễn Châu vào thế bị cô lập. Nghệ An trở