Lời nói đầu
h chúng ta vẫn biết, vốn là tiền đề cho sự tăng trởng kinh tế, tăng trởng kinh
tế phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả vốn đầu t. Nếu không kể việc đầu t từ
ngân sách hoặc tự đầu t của các cá nhân, doanh nghiệp thì việc khai thác và
chuyển dịch các nguồn vốn tích luỹ đến lĩnh vực đầu t cho vay có thể đợc tiến
hành theo hai phơng thức: đầu t trực tiếp qua thị trờng tài chính (phát hành trái
phiếu doanh nghiệp) và đầu t gián tiếp thông qua các trung gian tài chính. Tuy
nhiên, do thị trờng tài chính nớc ta mới đang trong giai đoạn hình thành và ngay cả
khi thị trờng đi vào hoạt động thì khả năng huy động cũng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Do vậy nguồn vốn đầu t qua các trung gian tài chính mà chủ yếu là hệ thống Ngân
hàng thơng mại càng trở nên quan trọng và hữu hiệu hơn bao giờ hết.
N
Cùng với sự phát triển phát triển chung của nền kinh tế, hệ thống Ngân
hàng thơng mại nớc ta cũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định
mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Bằng lợng vốn huy động đợc
trong xã hội và thông qua nghiệp vụ tín dụng, Ngân hàng thơng mại đã cung cấp
một lợng vốn lớn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách
nhanh chóng, kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ đó mà hoạt động sản xuất
kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế đợc diễn ra một cách trôi chảy.
Do vậy, trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đồng thời đáp
ứng cho sự phát triển chung của nền kinh tế cũng nh cho chính bản thân hệ thống
Ngân hàng, việc huy động vốn cho kinh doanh trong tơng lai chắc chắn sẽ đợc đặt
lên hàng đầu đối với các tổ chức tài chính nói chung và các Ngân hàng thơng mại
nói riêng.
Nhận thức đợc tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã đợc học ở trờng,
cùng với những kiến thức thu nhận đợc trong thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình
thực tế tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu t&Phát triển Hải Phòng vừa qua, em đã
mạnh dạn chọn đề tài: Giải pháp nhằm tăng cờng huy động vốn tại Chi nhánh
Ngân hàng Đầu t & Phát triển Hải Phòng làm chuyên đề tốt tốt nghiệp cho
mình.
Luận văn đợc trình bày theo 3 chơng với nội dung cơ bản nh sau:
nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia
hoạt động kinh doanh. Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng của Việt nam ban
hành 02/ 1997/QH 10 đã nêu: Ngân hàng thơng mại là doanh nghiệp, hoạt
động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung là thờng xuyên nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán .
Theo nh khái niệm trên thì NHTM sẽ hoạt động kinh doanh nh một
một doanh nghiệp thực thụ, có hoạch toán thu chi, có tính đến hiệu quả hoạt
động kinh doanh và luôn tìm mọi cách tối đa hoá lợi nhuận. Tuy nhiên nếu xét về
chức năng và tính đặc thù thì giữa NHTM và doanh nghiệp kinh doanh thông th-
2
ờng lại có sự khác biệt lớn, đó là: NHTM là doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn,
tức là Ngân hàng vừa là ngời tiêu thụ đồng vốn vừa là ngời cung cấp đồng vốn.
Ngày nay, trong xu hớng hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động
của các tổ chức tài chính là môi giới trên thị trờng tài chính ngày càng phát triển
cả về số lợng và quy mô, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau. Tuy
nhiên sự khác biệt giữa NHTM với các tổ chức môi giới tài chính khác ở chỗ
NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền gửi (chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn) và
chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có thể tăng bội số tiền gửi của
khách hàng trong hệ thống Ngân hàng của mình. Đó là đặc trng cơ bản để phân
biệt NHTM với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác.
1.2 các hoạt động chính của NHTM:
NHTM hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ tài sản
nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và nghiệp
vụ cung ứng dịch vụ Ngân hàng nh: dịch vụ t vấn, thanh toán hộ, giữ hộ... Ba
nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển,
tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan
xem lẫn nhau trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể
thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.1. Nghiệp vụ tài sản nợ.
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Lợng vốn này chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc
khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thờng xuyên ổn định, ngân hàng có
thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau nh trang bị cơ sở vật chất, nhà xởng,
mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đặc biệt là
tham gia đầu t góp vốn liên doanh. Trong thực tế khoản vốn này không ngừng đợc
tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại.
1.2.2. Nghiệp vụ tài sản có.
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục
đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng nh tìm kiếm lợi nhuận.
Nghiệp vụ tài sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM đợc dùng vào với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng nh khả năng
thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân
hàng Nhà nớc đề ra.
Nghiệp vụ cho vay:
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý tài
sản có của NHTM. Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong quá trình
hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ này mà Ngân
hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần trong
nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nghiệp vụ đầu t tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động đợc từ
dân c, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu t vào nền kinh tế dới các hình thức nh-
4
: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng... và trực tiếp thu lợi
nhuận trên các khoản đầu t đó.
1.2.3. Nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản đợc nêu trên, trong hoạt động kinh doanh, các
tệ đó cho Ngân hàng để rồi nhận đợc một khoản thu nhập từ phía ngân hàng. Nh
vậy, NHTM đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế dới
hình thức tiền tệ, kết quả là làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và
5
kích thích mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh phát triển. Nhng đồng thời cũng
chính các hoạt động đó lại là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và
phát tiển hoạt động kinh doanh của chính Ngân hàng.
Vốn nói chung của Ngân hàng thơng mại bao gồm:
_ Vốn tự có.
_ Vốn huy động .
_ Vốn đi vay.
_ Vốn khác.
Mỗi loại vốn đều có những tính chất, vai trò riêng trong tổng nguồn vốn
hoạt động của Ngân hàng và đều có những tác động ít nhiều đến hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng thơng mại.
2.1.1 Vốn tự có.
Vốn tự có của NHTM là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt
buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thờng xuyên ổn định của vốn
tự có mà Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau nh: mua sắm
máy móc trang thiết bị... phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và tham gia
đầu t góp vốn liên doanh. Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có đợc coi là tài
sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trờng
hợp Ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn tự có của NHTM bao gồm:
_Vốn tự có cơ bản:
Vốn tự có cơ bản gồm có vốn pháp định và vốn điều lệ. Theo quyết
định số 327/QĐ- NH5 ban hành ngày 04/10/1997 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nớc Việt Nam thì: Vốn pháp định của NHTM là mức vốn tối thiểu phải có để
thành lập Ngân hàng, còn Vốn điều lệ của NHTM là vốn do các cổ đông đóng
góp và đợc ghi vào điều lệ hoạt động của Ngân hàng. Cũng theo quy định này,
chúng đợc gửi vào Ngân hàng với mục đích hởng lãi.
b) Nhận tiền gửi tiết kiệm:
Về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận thu nhập của ngời lao động
cha sử dụng cho tiêu dùng, họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một
cách an toàn và hởng lãi trên khoản tiền gửi đó. Trên thực tế, trong nền kinh tế thị
trờng tiền gửi tiết kiệm đợc phát triển dới hai hình thức đó là: Tiền gửi tiết kiệm
không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
_ Tiền gỉ tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà ngời gửi có thể rút ra
bất cứ lúc nào song không đợc sử dụng cho việc thanh toán.
_ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa Ngân
hàng và ngời gửi về thơì gian rút tiền (thờng có lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ
hạn).
c) Các nguồn huy động khác:
Bên cạnh nghiệp vụ nhận tiền gửi, các NHTM còn sử dụng một số
nghiệp vụ trên thị trờng mở để huy động vốn nh: phát hành chứng chỉ tiền gửi và
trái phiếu.... Thực chất các nghiệp vụ này là ngân hàng huy động vốn từ nền kinh
7
tế bằng việc phát hành các chứng từ có giá. Trong đó, chứng chỉ tiền gửi là công
cụ nợ ngắn hạn và trái phiếu là công cụ nợ trung và dài hạn. Việc phát hành hai
loại phiếu nợ này tuỳ thuộc vào mục đích huy động vốn của Ngân hàng cũng nh sự
chấp thuận của Ngân hàngTrung ơng.
2.1.3. Vốn đi vay.
Đây là vốn đợc hình thành trên quan hệ vay mợn giữa Ngân hàng thơng mại
với Ngân hàng Trung ơng hoặc với các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn này th-
ờng đợc sử dụng khi Ngân hàng đã sử dụng hết lợng vốn khả dụng mà vẫn không
đủ vốn hoạt động kinh doanh (hay thiếu vốn khả dụng). Thông thờng, NHTM sẽ u
tiên việc vay từ các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế trớc, sau đó mới đến vay
Ngân hàng Trung ơng, có nghĩa là NHTM chỉ vay Ngân hàng Trung ơng khi đã
thực hiện các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn đáp ứng
cho nhu cầu sử dụng của ngân hàng.
hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các tổ chức kinh tế xã hội trong nền
kinh tế. Khi đó, Ngân hàng sẽ thu hút đợc ngày càng nhiều khách hàng đến với
ngân hàng, kết quả là doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng
và Ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Mặt khác, vốn lớn sẽ
giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa dạng trên thị tr-
ờng, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh nh: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
dịch vụ thuê mua... chứ không chỉ dừng lại ở dịch vụ cho vay đơn thuần. Và chính
các hình thức kinh
doanh đa dạng này đã góp phần phân tán giảm thiểu rủi ro, tạo thêm vốn cũng nh
tăng sức cạnh tranh cho NHTM trên thị trờng.
2.2.3. Đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của NHTM.
Trong hoạt động Ngân hàng, uy tín có thể nói là yếu tố quan trọng, quyết
định trực tiếp đến sự sống còn của Ngân hàng. Uy tín của ngân hàng trong kinh
doanh đợc thể hiện trớc hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách
hàng. Khả năng thanh toán chi trả của Ngân hàng càng cao thì uy tín cũng nh vốn
khả dụng của ngân hàng càng lớn. Hay nói cách khác, khả năng thanh toán của
Ngân hàng tỷ lệ thuận với lợng vốn của Ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của
Ngân hàng nói riêng.
Nh vậy, với khả năng cung ứng vốn lớn, các NHTM có thể tiến hành hoạt
động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, cạnh tranh có hiệu quả nhng
đồng thời lại giữ đợc chữ tín và nâng cao danh tiếng của Ngân hàng.
2.2.4. Quyết định quy mô hoạt động kinh doanh của NHTM.
Thực tế đã chứng minh, những Ngân hàng có vốn lớn thờng có khoản mục
đầu t và cho vay đa dạng hơn rất nhiều so với những Ngân hàng có quy mô vốn
nhỏ, phạm vi và khối lợng cho vay của các Ngân hàng này cũng lớn hơn. Thật vậy,
trong khi các NHTM lớn có thể cho vay tại thị trờng trong nớc thậm chí là cả thị
trờng quốc tế thì các NHTM nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, thờng là thị tr-
ờng khu vực, thị trờng địa phơng. Hơn nữa, do lợng vốn hạn hẹp nên các NHTM
nhỏ sẽ không phản ứng nhanh nhạy trớc những tình huống biến động về lãi suất thị
trờng, từ đó tác động đến khả năng thu hút vốn đầu t từ các tầng lớp dân c và các
vốn này khi và chỉ khi đa ra đợc các dự đoán về sự biến động số d trên tài khoản
tiền gửi này một cách chính xác.
3.2. Huy động vốn bằng tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là
hai loại tiền gửi có tính ổn định hơn, chi phí huy động và quản lý cao
hơn, hơn nữa hai loại tiền gửi này lại có độ nhạy cảm cao về lãi suất nên trong quá
trình huy động cũng có những điểm khác biệt.
10
3.2.1. Huy động tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi trong đó đã có sự thoả thuận giữa ngời gửi tiền và Ngân
hàng về lãi suất và thời hạn rút tiền. Về cơ bản, các khoản tiền gửi này thờng có kỳ
hạn tơng đối dài và không đợc sử dụng để tiến hành thanh toán nh các khoản chi
trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Chính vì vậy, mức lãi suất đối với loại tiền gửi
này có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của khách hàng với
Ngân hàng. Đối với các khoản tiền gửi có lãi suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi
thêm tiền trớc hạn định.
Hiện nay, để thu hút ngời gửi tiền, các NHTM đã liên tục đa ra các hình
thức nhận tiền gửi hấp dẫn, theo đó ngoài việc nhận đợc một khoản lợi tức tiền
gửi, khách hàng còn có thể chuyển nhợng đợc chứng chỉ tiền gửi của mình. Bằng
hình thức này, Ngân hàng có thể thu hút vốn từ các nhà đầu t lớn mà lẽ ra các nhà
đầu t này đã có thể dùng vốn đó đầu t vào trái phiếu kho bạc hay thị trờng tiền tệ.
ở nớc ta hiện nay, các Ngân hàng cũng đã bắt đầu đa ra nhiều hình thức gửi
tiền có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi với kỳ hạn 3, 6, 9, 12 tháng...hoặc kỳ
phiếu Ngân hàng có mục đích. Và chỉ sau một thời gian ngắn hình thức huy động
vốn này đã phát huy tác dụng và ngày càng chiếm tỷ trọng vốn huy động cao trong
quá trình huy động vốn của NHTM.
3.2.2. Huy động tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã đợc coi là công cụ huy động vốn truyền thống
của các NHTM. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thờng chiếm một tỷ trọng tơng
đối trong cơ cấu tiền gửi vào Ngân hàng, ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM
gốc của mình, đồng thời vẫn có lãi. Có thể nói, loại hình tiết kiệm này không chỉ
tốt đối với ngời gửi tiền mà còn tốt đối với cả NHTM. Do vậy, NHTM cần phải
đặc biệt quan tâm đến hình thức huy động vốn này nhằm tạo ra những nguồn vốn
có tính ổn định cao phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn trung và dài hạn của mình.
3.3. Huy động vốn qua đi vay.
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng nh vị trí đặc biệt quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thơng mại không chỉ về mặt
quy mô đơn thuần mà còn mang ý nghĩa nh là một biện pháp quản lý các danh
mục trng tài sản nợ. Vốn vay của Ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau nhng chủ yếu vẫn bao gồm những nguồn cơ bản sau:
3.3.1. Vay từ Ngân hàng trung ơng.
Để tồn tại và phát triển thì NHTM phải cho vay, nó cho vay tới mức mà
Ngân hàng Trung ơng (NHTƯ) cho phép để tối đa hoá lợi nhuận. Thế nhng không
phải lúc nào hoạt động của nó cũng thuận buồm xuôi gió. Dẫu có thận trọng đến
mức nào đi nhăng nữa trong hoạt cho vay thì Ngân hàng cũng khó tránh khỏi
những lúc thiếu khả năng chi trả hay thanh toán cho khách hàng. Trong những tr-
ờng hợp đó, giải pháp cuối cùng sau khi đã thực hiện các biện pháp tài chính cần
thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn là đi vay NHTƯ. NHTƯ với t cách là ngân
hàng của các ngân hàng sẽ trở thành vị cứu tinh cho các NHTM trong trờng hợp
thiếu vốn thanh toán.
12
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều cho phép NHTM và các tổ chức tài
chính khác trong nớc mình đợc phép vay tiền từ NHTƯ trong những trờng hợp cấp
thiết nh: thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt về vốn. Tuy nhiên để giữ ổn định giá trị
đồng bản tệ cũng nh ngăn chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc vay vốn,
NHTƯ thờng không muốn cho các NHTM vay quá nhiều, khi đó nó có thể nâng
mức lãi suất chiết khấu, lãi suất phạt lên cao hoặc đa ra những điều kiện vay mà
hiếm NHTM nào có thể chịu đợc.
ở nớc ta hiện nay, các Ngân hàng thơng mại vay vốn từ Ngân hàng Trung -
ơng chủ yếu dới các hình thức sau:
khác đợc diễn ra liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nó
hình thành nên một loại tài sản nợ khá thờng xuyên trong bảng cân đối tài sản.
Mặt khác nó còn đảm bảo cho Ngân hàng có những mối quan hệ tốt với các Ngân
hàng khác trong cùng hệ thống, đồng thời tạo ra cơ hội cho các Ngân hàng giúp đỡ
lẫn nhau trong quá trình kinh doanh.
3.4. Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ.
Để đa dạng hoá các kênh khai thác nhằm tập trung vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế, Ngân hàng không những chỉ đi vay của Ngân hàng Nhà nớc hay
của các tổ chức tín dụng, các NHTM khác mà còn chú trọng nguồn vốn hình thành
từ nghiệp vụ phát hành công cụ nợ ra thị trờng.
Các NHTM có thể phát hành các loại công cụ nợ ra thị trờng để huy động
vốn nh: chứng chỉ tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn, trái phiếu, kỳ phiếu....
Trong đó, việc huy động vốn bằng các công cụ nợ ngắn hạn (gồm có chứng chỉ
tiền gửi, giấy thoả thuận mua lại...) lại có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài
sản nợ bên cạnh việc huy động vốn, bởi vì nó có thể đợc sử dụng mọi lúc khi cần
thiết.
Mức lãi suất đợc trả cho loại công cụ nợ ngắn hạn này thờng đợc quy định
bằng cách thỏa thuận trực tiếp giữa Ngân hàng và ngời gửi tiền hoặc đợc quy định
ở mức mà ngời gửi có thể chấp nhận đợc. Có thể nói, những ngời mua chứng chỉ
tiền gửi này rất nhạy cảm với những biến động của lãi suất trên thị trờng. Do vậy,
để có thể làm chủ đợc nguồn vốn này đòi hỏi các NHTM phải đa ra mức lãi suất
cao hơn so với mức lãi suất của các loại chứng chỉ tiền gỉ khác hoặc cũng có thể
cao hơn cả mức lãi suất của trái phiếu.
Khác với các công cụ nợ ngắn hạn, trái phiếu đợc coi là những công cụ nợ
dài hạn trên thị trờng vốn, đợc NHTM tung ra nhằm mục đích huy động những
khoản vốn nhàn rỗi đủ lớn trong thời gian tơng đối dài để thực hiện các dự án đầu
t dài hạn. Vốn đợc huy động bằng trái phiếu thờng có tính ổn định cao về thời gian
sử dụng và lãi suất. Với những nớc có ngành ngân hàng phát triển, thì hầu hết các
trái phiếu Ngân hàng đều đợc đa vào giao dịch chính thức hay giao dịch tự do trên
thị trờng chứng khoán. Vì vậy tính lỏng của chứng khoán Ngân hàng là khá cao,
nguồn vốn huy động. Thế nhng, không phải lãi suất huy động nào cũng giống
nhau, thông thờng lãi suất tiết kiệm có ảnh hởng nhiều hơn cả. Ngời dân thờng
quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trợt giá của đồng tiền và khả
năng sinh lợi của dòng tiền đầu t vào tiết kiệm so với đầu t vào cổ phiếu, trái
phiếu, bất động sản... từ đó đa ra quyết định có nên gửi vào ngân hàng hay không,
gửi bao nhiêu và gửi theo hình thức nào. Ngợc lại, đối với các tổ chức kinh tế thì
lãi suất huy động lại có ảnh hởng ít hơn vì phần lớn các doanh nghiệp gửi tiền vào
Ngân hàng đều với mục đích thanh toán là chính. Do đó nguồn tiền huy động này
chịu ảnh hởng nhiều bởi kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng cũng nh khả năng
thanh toán và cho vay vì lợng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế luôn
luân chuyển và biến động theo nhu cầu thanh toán.
15
Nh vậy, để thực hiện cơ chế lãi suất huy động hợp lý tức là vừa thu hút đợc
vốn, vừa đảm bảo sức cạnh tranh thì các NHTM phải thờng xuyên theo dõi thống
kê tình hình biến động lãi suất trên thị trờng và ngay trên địa bàn hoạt động để có
các quyết định điều chỉnh kịp thời phù hợp với mặt bằng lãi suất trên thị trờng và
đặc điểm riêng của mỗi Ngân hàng. Bên cạnh đó Ngân hàng cũng cần quan tâm
đến lãi suất kho bạc, bởi vì trên thực tế Kho bạc thờng phát hành tín phiếu trả lãi
cao hơn lãi suất huy động của các Ngân hàng thơng mại.
4.2. Các hình thức huy động vốn.
Khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, có ngời
vì mục đích bảo đảm an toàn, có ngời gửi chủ yếu để lấy lãi tiêu xài hàng tháng,
có ngời d dã gửi tiền vào Ngân hàng để đồng vốn ngày càng đợc sinh sôi nảy nở...
Vì thế họ có những hình thức gửi tiền cũng nh lĩnh lãi khác nhau có thể là 3, 6, 9
tháng... hoặc lâu hơn. Do vậy, để có thể huy động đợc nhiều vốn trong dân c, các
ngân hàng thơng mại phải đa ra các hình thức huy động đa dạng. Khi có nhiều
hình thức huy động vốn sẽ tạo nhiều cơ hội cho ngời gửi lựa chọn, đáp ứng những
yêu cầu khắt khe, thoả mãn đợc mong muốn của họ. Mỗi khách hàng đều tìm cho
mình cách phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng, bảo đảm có hiệu quả nhất với nguồn
vốn của mình. Điều này đồng nghĩa với số lợng ngời gửi tăng lên và số tiền đợc
hạn nh: chiến lợc kinh doanh của Ngân hàng, quy mô cơ cấu vốn tự có, cơ sở vật
chất kỹ thuật trang thiết bị của Ngân hàng... Những yếu tố này có ảnh hởng trực
tiếp sâu sắc đến mô hình, cơ cấu tổ chức huy động vốn thậm chí là đến cả uy tín
của Ngân hàng trên thị trờng, nó đảm bảo giữ vững lòng tin của khách hàng đối
với Ngân hàng cũng nh là giới hạn tối đa của nguồn vốn huy động.
17
Chơng II :
Thực trạng hoạt động huy động vốn
Kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng đầu t-phát triển hải
phòng.
I. giới thiệu về chi nhánh ngân hàng đầu t phát triển hải phòng.
Ngân hàng Đầu t&Phát triển Việt nam là một trong bốn ngân hàng thơng
mại quốc doanh lớn ở Việt Nam, với tổng tài sản chiếm 25% thị phần trong toàn
bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ngân hàng có mạng lới tổ chức rộng lớn bao
gồm trụ sở chính đặt tại Hà Nội, cùng với hơn 100 chi nhánh ngân hàng (68 chi
nhánh phụ thuộc và 30 chi nhánh trực thuộc) và gần 500 điểm giao dịch lớn nhỏ
phân bổ rộng khắp trong phạm vi cả nớc. Trong đó, Chi nhánh Ngân hàng Đầu t-
&Phát triển Hải Phòng là một trong những chi nhánh hoạt động có hiệu quả cao,
có đợc vị trí quan trọng trong toàn hệ thống Ngân hàng Đầu t&Phát triển Việt
Nam.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh.
- Chi nhánh ngân hàng đầu t và phát triển Hải Phòng là một đơn vị
thànhviên của ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam (BIOV) đợc thành lập vào
ngày 26/4/1957, tiền thân là Chi hàng kiến thiết Hải Phòng, thuộc ngân hàng kiến
thiết Việt Nam, trực thuộc Bộ tài chính. Cùng với sự chuyển mình của đất nớc,
Ngân hàng Đầu t và phát triển Việt Nam cũng trải qua những bớc thăng trầm.
Ngày 26/4/1981, Thủ tớng Chính phủ có quyết định số 259/CP chuyển Ngân hàng
kiến thiết trực thuộc Bộ tài chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và
thành lập Ngân hàng Đầu t- Xây dựng. Tiếp theo, ngày 14/11/1990, Hội đồng Bộ
phòng giao dịch và có mạng lới quỹ tiết kiệm đợc phân bổ rộng khắp trên địa bàn
thành phố.
Nguồn nhân lực của chi nhánh từ khi mới thành lập gồm 18 ngời , trình độ
nghiệp vụ chỉ là sơ cấp nhng cho đến nay số cán bộ nhân viên đã lên tới 125 ngời.
Trong đó cán bộ có trình độ ĐH và trên ĐH hơn 80% đợc đào tạo ở hàng chục tr-
ờng ĐH trong cả nớc, hầu hết tốt nghiệp loại khá, giỏi hệ chính quy của các trờng
quốc lập với tuổi đời bình quân 34 tuổi, đợc biên chế ở 13 phòng ban, các phòng
giao dịch và các quỹ tiết kiệm.
Hiện nay Chi nhánh có Ban Giám đốc gồm có 1 Giám đốc và 2 Phó Giám
đốc đợc giao trách nhiệm quản lý và điều hành một số phòng ban nhất định và
chịu trách nhiệm trớc Giám đốc.
Các phòng ban chính của Chi nhánh hiện nay gồm có:
1. Phòng Tài chính Kế toán
2. Phòng Tổ chức Hành chính
3. Phòng Điện toán
4. Phòng Kiểm tra, Kiểm toán nội bộ
5. Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
6. Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân
7. Phòng thanh toán quốc tế.
8. Phòng Tiền tệ ngân quỹ.
19
9. Phòng tín dụng doanh nghiệp 1
10. Phòng tín dụng doanh nghiệp 2
11. Phòng tín dụng ngoài quốc doanh
12. Phòng Quản lý tín dụng
13. Phòng kế hoạch nguồn vốn.
Ngoài số phòng ban trên, Chi nhánh còn có hai phòng giao dịch là Chi
nhánh Bến Bính và Chi nhánh Quán Toan và một số quỹ tiết kiệm khác.
Cơ cấu phòng ban của Chi nhánh đợc sắp xếp theo các nhóm và đợc miêu tả
qua sơ đồ sau:
hoạch nguồn
vốn.
-Phòng tổ chức-
hành chính.
-Phòng
tài chính- kế
toán.
-Phòng điện
toán.
Phòng kiểm tra-
kiểm toán
nội bộ.
-Phòng giao
dịch Bến Bính
-Quỹ tiết kiệm
20
Ban giám đốc
Khối TD Khối dịch vụ
khách hàng
Khối hỗ trợ kinh
doanh
Khối quản lý nội
bộ
Đơn vị trực thuộc
Tín
dụng
DN1
Tín
dụng
DN2
Quán
Toan
Phòng
giao
dịch
Bến
Bính
Phòng
kiểm
tra
kiểm
toán
nội bộ
Phòng
điện
toán
Phòng
giao
dịch
Cầu
Đất
Các
quỹ
tiết
kiệm
Tín
dụng
ngoài
quốc
doanh
Ta có thể nhận thấy rõ hơn tình hình huy động vốn của Chi nhánh qua bảng
số liệu sau :
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động.
(Đơn vị: Triệu đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Số d % Số d % Số d %
1. Tiền gửi dân c 839.388 66,88 1.007.265 65,16 1.208.178 63,5
2.Tiền gửi TCKT 211.645 16,86 253.973 16,43 304.768 16,0
3.Kỳ phiếu, trái phiếu 204.028 16,25 284.450 18,40 365.467 19,18
4. Nguồn huy động khác 0 0 0 0 25.703 1,34
Tổng
1.255.061 100 1.545.688 100 1.904.656 100
(Phòng Kế hoạch nguồn vốn)
Quan bảng số liệu trên ta thấy, các chỉ tiêu huy động vốn đều tăng qua các
năm. Đặc biệt là nguồn tiền gửi dân c chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn
vốn huy động. Hiện nay công tác quản lý tiền gửi dân c cũng đợc Chi nhánh thực
hiện thờng xuyên nghiêm túc thông qua công tác kiểm tra dới nhiều hình thức.
Qua đó khắc phục đợc những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi dân
c và các chứng từ quan trọng giúp nâng cao uy tín của Chi nhánh đối với khách
22
hàng. Để phân tích kỹ hơn tình hình huy động vốn của Chi nhánh em xin trình bày
ở phần II (Thực trạng tình hình hình huy động vốn của Chi nhánh)
3.2. Hoạt động cho vay và đầu t
Cũng nh bất kỳ một NHTM nào, công tác đầu t, cho vay luôn giữ vai trò
chủ đạo trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, bởi vì đây là hoạt động đem
lại phần thu nhập chính cho Ngân hàng.
Trong năm vừa qua, với bối cảnh môi trờng đầu t hết sức khó khăn do sự
cạnh tranh quyết liệt của các NHTM khác và do cơ chế chính sách đầu t của chúng
ta còn cha linh hoạt nên cha thúc đẩy và phát triển đầu t.Nhng với kinh nghiệm là
VND
Ngoại tệ 7.574 7.889 7.467
Phòng Kế hoạch nguồn vốn
Qua bảng số liệu trên , ta có thể thấy d nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng
cao nhất trong d nợ hàng năm. Bên cạnh đó hình thức cho vay theo KHNN cũng
có doanh số khá cao trong những năm vừa qua. Điều đó cho thấy ngân hàng ngoài
mục đích kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận cho mình , Chi nhánh còn hoàn thành
rất tốt kế hoạch nhà nớc giao với mục tiêu là tài trợ cho nền kinh tế và góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong hoạt động tín dụng ngoài việc mở rộng quy mô tín dụng, chất lợng tín
dụng cũng luôn đợc Chi nhánh xác định là mục tiêu hàng đầu, do vậy Chi nhánh
đã tích cực mở rộng thị phần, nâng cao chất lợng các khoản cho vay, nâng cao
trình độ nghiệp vụ chuyên môn, bảo đảm hiệu quả các dự án cho vay.
Trong thời gian tới Chi nhánh sẽ tập trung mở rộng đầu t đối với khu vực
kinh tế quốc doanh với những dự án lớn, khả thi và có hiệu quả, chủ động tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đợc vay vốn ngân hàng, tháo gỡ những
khó khăn trong sản xuất kinh doanh... góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nớc. Hơn nữa Chi nhánh cũng đã và đang tìm mọi giải pháp
thích hợp nhằm đầu t vốn cũng nh cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần hoá bằng việc sử dụng đa dạng nhiều
nguồn vốn nh: vốn tài trợ uỷ thác, hùn vốn liên doanh... ngày càng đáp ứng tốt hơn
đòi hỏi của khách hàng và đảm bảo thực hiện đầy đủ có hiệu quả chỉ tiêu mà cấp
trên giao phó phát triển an toàn hiệu quả, lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm
trớc.
3.3. Hoạt động cung ứng dịch vụ Ngân hàng.
24
Nh chúng ta đã biêt, phần lớn lợi nhuận mà các NHTM thu đợc trong quá
trình hoạt động kinh doanh là từ việc thực hiện các nghiệp vụ tín dụng cho khách
hàng. Bên cạnh đó, hoạt động đầu t đảm bảo cho các Ngân hàng có đợc một khoản
thu nhập bổ xung và phân tán đợc rủi ro. Ngoài hai hoạt động cơ bản trên, một
hàng.
3.3.2. Dịch vụ chuyển tiền
25