Đông y trị xơ gan cổ trướng (Kỳ I)
Kỳ I: Các thể xơ gan theo Đông y
Xơ gan là một bệnh thường có ở Việt Nam, là một bệnh nặng, nhất là đã có cổ
trướng hoặc đã vàng da. Bệnh được ổn định lâu hay mau phụ thuộc chủ yếu vào chế độ
làm việc, chế độ dinh dưỡng và việc phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc
Nhưng nói chung xơ gan tiên lượng rất xấu. Tuy đã điều trị ở bệnh viện, nhưng tỷ lệ tử
vong khá cao. Vì vậy việc phòng bệnh để tránh mắc bệnh viêm gan, dẫn đến xơ gan là
rất quan trọng, cần hiểu biết để phòng
tránh.
Xơ gan thường tiếp theo sau một
viêm gan mạn tính. Rất khó xác định
được lúc nào viêm gan mạn đã chuyển
sang xơ gan nếu không quản lý bệnh
nhân, theo dõi định kỳ và nhất là soi ổ
bụng hoặc sinh thiết.
Cổ trướng thường được coi là một
biểu hiện mất bù của xơ gan, tiến triển
dần dần. Khi to nhiều, bệnh nhân mới để ý đến. Nước cổ trướng màu vàng chanh, còn
nước màu hồng hay đỏ là có ý nghĩa xấu: xơ gan đã ung thư hóa, hoặc có áp lực tĩnh
mạch cửa tăng nhiều, lách to, cứng chắc, có khi đến tận rốn.
Rau má.
Theo y học cổ truyền, xơ gan cổ trướng là do viêm gan, sốt rét, uống rượu, kém
dinh dưỡng.
Căn cứ vào triệu chứng và phương pháp chữa, các thầy thuốc Đông y chia làm
3 thể bệnh với phép điều trị như sau:
Thể xơ gan do can uất, tỳ hư, can tỳ bất hòa
Triệu chứng: Sắc mặt xạm tối, đầu choáng, mệt mỏi, ăn kém, đau vùng gan, tức
vùng thượng vị, ợ hơi, bụng trướng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi mỏng, mạch huyết tê. Phép
chữa xơ can kiện ty:
Bài 1: Rau má 12g, mướp đắng (khổ qua) 12g, thanh bì, chỉ thực, uất kim, hậu
phác, mỗi vị 8g; ý dĩ, hoài sơn, biển đậu, đinh lăng mỗi vị 12g. Nước 3 bát, sắc còn 1
trạch tả 12g, đại phúc bì 12g, huỳnh kỳ 12g, xuyên tiêu 6g.
Thể cổ trướng nhiều, thủy khí tương kết: Triệu chứng: cổ trướng tăng nhanh,
không nằm được, tiểu tiện ít, đại tiện không thông, mạch huyền sác. Phép chữa: công
hạ, trục thủy. Chú ý theo dõi mạch, huyết áp tránh trụy mạch do mất nước và điện giải
quá nhiều.
Bài 1: Cam toại nướng 6g, thương lục 6g, đại phúc bì 12g, đại hoàng 12g, hắc
sửu 8g, úc lý nhân 8g, nước vừa đủ sắc còn 1/3 uống nguội sáng chiều.
Bài 2: Nguyên hoa 8g, cam toại 8g, đại kích 8g, phơi khô tán bột. Ngày uống 2g
vào buổi sáng với nước đại táo.
Bài 3: Cây lá trạch lan 30g, rễ muồng trâu (sao rượu) 30g, rễ bồ ngót 30g, lá tía
tô 10g, hậu phác 5g, lá dâu 12g. Nước vừa đủ, sắc còn 1/2 uống ấm trong ngày.
Bài 4: Hương phụ chế 12g, vỏ quýt sao 12g, vỏ cau sao 6g, hậu phác 6g, cam
thảo 3g, nước vừa đủ, sắc uống như trên.
Bài 5: Hoàng cầm 12g, sơn chi tử 12g, nhân trần 12g, đình lịch tử 8g, long đờm
thảo 8g. Nước vừa đủ sắc còn 1/3 uống ấm trong ngày một thang.