Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam
Nguyễn Hoài Linh
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Tài chính ngân hàng; Mã số: 60 34 20
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Phân tích nội dung cơ bản của quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân
hàng và quản trị rủi ro tác nghiệp. Đánh giá tình hình quản trị rủi ro tác nghiệp,
tìm ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó. Đề xuất một số biện pháp
nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tác nghiệp ở các Ngân hàng
thương mại Việt Nam.
Keywords: Quản lý rủi ro; Kinh tế học tài chính; Ngân hàng thương mại; Việt
Nam
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập quốc tế đã mở ra cơ hội để ngành Ngân hàng Việt Nam tiếp cận gần hơn
với trình độ và chuẩn mực quốc tế. Việt Nam gia nhập WTO đòi hỏi các Ngân hàng Việt
Nam phải đáp ứng các yêu cầu quản trị nói chung, quản trị rủi ro nói riêng theo chuẩn
mực quốc tế. Trong thời gian qua, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã quan tâm và
tập trung thực hiện quản lý một số rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro
lãi suất,…nên đến nay đã xây dựng được một nền tảng khá tốt cả về kiến thức và nguồn
lực để quản trị các loại rủi ro này. Song đối với rủi ro tác nghiệp thì hầu như chỉ mới bắt
đầu, trong khi đó, rủi ro tác nghiệp là loại rủi ro liên quan tới nhiều yếu tố như: con
người, hệ thống, quy trình, thủ tục nội bộ và cả các sự kiện bên ngoài. Đây là những yếu
tố rất đa dạng và thường xuyên biến đổi, do đó rủi ro tác nghiệp luôn xuất hiện trong hầu
tác nghiệp và cơ chế trích lập dự phòng RRTN.
Hiện nay việc nghiên cứu về RRTN còn rất hạn chế, cũng có một số công trình
nghiên cứu về loại rủi ro này nhưng chưa phản ánh đầy đủ, chưa đủ chiều sâu và mang lại
một ý nghĩa thực tiễn thực sự hữu ích, có tính ứng dụng lâu dài và phù hợp. Do một số
nguyên nhân chủ quan và khách quan mà các giải pháp không thể thực hiện một cách
trọn vẹn. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số
giải pháp và mong rằng có thể áp dụng được phần nào vào thực tiễn hoạt động, nâng cao
hiệu quả quản trị tại các NHTM.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
+ Nhằm nhận diện, đo lường, giám sát và hạn chế, giảm thiểu các chi phí, tổn thất
có thể xảy ra từ các hoạt động tác nghiệp.
+ Xác định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, đơn vị liên quan trong thực
hiện công tác quản lý rủi ro tác nghiệp.
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo vệ uy tín, đạt mục tiêu hoạt động kinh doanh
an toàn, hiệu quả của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Một là, phân tích nội dung cơ bản của quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
và quản trị rủi ro tác nghiệp.
+ Hai là, đánh giá tình hình quản trị rủi ro tác nghiệp, tìm ra những hạn chế, tồn tại
và nguyên nhân của nó.
+ Ba là, đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện nâng cao hiệu quả quản trị rủi
ro tác nghiệp ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các Ngân hàng thương mại
Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Luận văn sẽ khảo sát các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ
năm 2007 đến 2010.
+ Định hướng và giải pháp nâng cao quản trị rủi ro tác nghiệp tại các Ngân hàng
điện, lũ lụt, hoặc các lý do khác dẫn đến các sai sót ở một ngân hàng mà không thể phân
loại vào các rủi ro khác. Rủi ro tác nghiệp cũng bao gồm cả rủi ro tuân thủ. Rủi ro tuân
thủ là rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng đến thu nhập và vốn phát sinh do việc không tuân thủ
pháp luật, quy định, quy chế, thông lệ tốt, chính sách và quy trình nội bộ hoặc các chuẩn
mực đạo đức khác.
1.2. Nguyên nhân rủi ro tác nghiệp
a) Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng
- Rủi ro do cán bộ ngân hàng.
- Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ.
- Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ, Core banking.
b) Rủi ro do các tác động bên ngoài:
Sự kiện bên ngoài là các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng cũng góp
phần gây ra RRTN.
- Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tượng bên
ngoài ngân hàng (hành động phá hoại, đánh bom ).
- Rủi ro do các sự kiện bên ngoài và/hoặc do tự nhiên (động đất, bão ) gây gián
đoạn /thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Rủi ro các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay
đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Tổn thất do các sự kiện bên ngoài gây ra có thể được giảm bớt thông qua bảo
hiểm, kế hoạch dự phòng và hệ thống phục hồi. Việc lập kế hoạch kinh doanh liên tục là
một cách quan trọng giúp ngân hàng chuẩn bị cho các rủi ro từ các sự kiện bên ngoài và
quản lý những rủi ro này.
c) Các vấn đề khác như: khối lượng và giá trị giao dịch, mức độ phức tạp của giao
dịch, những thay đổi mà ngân hàng đang gặp phải (quyền sở hữu mới, lãnh đạo mới, nhân
viên mới, sản phẩm mới, những thay đổi về chính sách, quy trình, hệ thống vv ). Các
ngân hàng đang trong quá trình sáp nhập với tổ chức hoạt động ngân hàng khác thì có
mức độ RRTN đặc biệt cao.
2. Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các Ngân hàng thƣơng mại
2.1. Quản trị rủi ro tác nghiệp
Các ngân hàng đang sử dụng phương pháp chỉ số cơ bản cần nắm giữ mức vốn đối
với rủi ro tác nghiệp bằng một tỷ lệ không đổi 15% của tổng thu nhập dương trung bình
trong 03 năm gần nhất của toàn ngân hàng, tức là nếu có bất kỳ năm nào mà tổng thu
nhập âm hoặc bằng 0 thì số liệu của năm đó không được tính vào giá trị trung bình.
K
BIA
=
GIi x α
n
1
/n
Trong đó: K
BIA
là chi phí vốn trong phương pháp chỉ số cơ bản
GI là tổng thu nhập năm của 03 năm gần nhất thỏa mãn điều kiện thu nhập dương
n = số lượng lần của ba năm kế trước mà tổng thu nhập là dương.
α = 15%, do Ủy ban quy định, có quan hệ với mức độ mở rộng ngành của mức đủ
vốn yêu cầu đối với mức độ mở rộng ngành của chỉ số.
Tổng thu nhập hàng năm được tính bằng thu nhập lãi ròng, cộng với thu nhập phi
lãi ròng theo định nghĩa bởi các cơ quan giám sát quốc gia và/ hoặc các tiêu chuẩn kế
toán quốc gia.
Phƣơng pháp 2: Phƣơng pháp tiêu chuẩn hóa SA
Theo phương pháp này, các hoạt động của ngân hàng được chia thành 8 mảng hoạt
động chính.
Các yếu tố Beta đặt cho các mảng hoạt động kinh doanh
Tài trợ doanh nghiệp (β
4
)
1
5%
Môi giới bán lẻ (β
8
)
1
2%
Tổng chi phí vốn được tính theo công thức sau:
K
TSA
= { max{
GI x β
, 0}
năm 13
}/3
Trong đó :
K
TSA
= Chi phí vốn theo Phương pháp Tiêu chuẩn hóa
GI
1-8
= Tổng thu nhập hàng năm cho mỗi ngành kinh doanh
1-8
= Nhân tố vốn cho mỗi dòng kinh doanh, liên hệ mức độ vốn yêu cầu với
mức độ tổng thu nhập của mỗi dòng kinh doanh.
do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nổ ra từ cuối
năm 2008- hai nửa của năm diễn biến trái chiều nhau. Năm 2010, chính sách tiền tệ được
điều hành chủ động, thận trọng, linh hoạt. Tuy nhiên, những vấn đề kinh tế vĩ mô năm
2010 đẩy khu vực tiền tệ- ngân hàng vào những khó khăn mới như lãi suất cao, VND
chịu áp lực mất giá lớn, RRTN ngân hàng gia tăng.
Sau 20 năm đổi mới với mô hình ngân hàng hai cấp, ngành ngân hàng đã khẳng
định được vị thế, vai trò của mình trong sự ổn định kinh tế vĩ mô và đóng góp tích cực
cho phát triển kinh tế. Hiệu quả quản lý nhà nước của NHNN ngày một nâng cao. NHNN
đã từng bước đổi mới phương thức quản lý điều hành theo nguyên tắc thị trường, tiếp cận
thông lệ quốc tế, hạn chế sự can thiệp hành chính vào hoạt động ngân hàng, tạo điều kiện
cho sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và đảm bảo cho các ngân hàng được quyền tự
chủ trong kinh doanh.
Đối với các NHTM Việt Nam, mặc dù số lượng lớn, nhưng quy mô của hầu hết
các ngân hàng là nhỏ hơn so với các ngân hàng có quy mô trung bình của khu vực. Mức
độ an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thấp so với hệ thống ngân hàng trong
khu vực,
(*) Thực trạng ngành ngân hàng Việt Nam
- Khuôn khổ và năng lực thể chế của NHNN: Công tác thanh tra, giám sát ngân
hàng đã xử lý kịp thời và quyết liệt đối với các hành vi gây mất an toàn hệ thống, đe dọa
an ninh tiền tệ quốc gia. Đồng thời, Thanh tra ngân hàng đã thực hiện tốt vai trò là công
cụ quan trọng của NHNN trong việc tăng cường pháp chế, kỷ cương, kỷ luật, hiệu lực và
hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng.
- Cấu trúc và năng lực của hệ thống các NHTM: Hệ thống NHTM đã phát triển
theo xu hướng tự do hóa, mở cửa, thiết lập một thể chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa trong lĩnh vực ngân hàng.
- Về sự lành mạnh và ổn định: được tăng cường tuy nhiên, năng lực quản trị nói
chung và kỹ năng quản trị rủi ro nói riêng chưa được phát triển đầy đủ để giải quyết một
cách hiệu quả các rủi ro về thanh khoản, về thị trường và tác nghiệp.
- Cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho hoạt động ngân hàng: chưa đầy đủ và còn tiềm ẩn nhiều
rủi ro.
hoàn chỉnh. Đó là ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quân đội, Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Á Châu và một số ngân hàng
khác. Ngoài ra, một số NHTM khác cũng có thành lập ra ban Quản trị rủi ro tác nghiệp
nhưng hoạt động chưa thực sự hiệu quả.
b) Về xây dựng khung pháp lý, quy định, quy trình quản trị RRTN
Có thể nói các NHTM Việt Nam đều chưa xây dựng được khung pháp lý hoàn
chỉnh về QTRRTN. NHTMCP Công thương Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và phát
triển Việt Nam đã có quy định tạm thời về QTRRTN, áp dụng cho toàn hệ thống. Tuy
nhiên, Quy định này mới xây dựng lần đầu, dựa trên tham khảo các nguồn tài liệu nước
ngoài nên chưa thể chuẩn hóa ngay và áp dụng vào thực tế cũng có những bất cập. Nội
dung chính của Quy định đề cập đến các vấn đề như: trách nhiệm và quyền hạn của các
cấp điều hành, các phòng ban, các cán bộ đối với QTRRTN; các loại RRTN; nội dung
thực hiện QTRRTN tại các bộ phận… Quy định cũng đưa ra các mẫu biểu báo cáo hàng
quý, nhằm thu thập và tổng hợp các lỗi, sai sót, tổn thất rủi ro tác nghiệp trong hệ thống,
từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu RRTN.
c) Về thu thập dữ liệu tổn thất quản lý rủi ro tác nghiệp
Các NHTM Việt Nam hiện đang tiến hành thu thập dữ liệu tổn thất nội bộ theo
nhiều cách thức khác nhau, song về cơ bản vẫn chỉ dựa trên ghi chép và báo cáo thủ công
từ các Chi nhánh, đơn vị. Bên cạnh đó, các lỗi, sai sót hay chính xác hơn là các sự cố về
hệ thống công nghệ tuy xảy ra với tần suất nhỏ hơn, số tiền liên quan cũng có thể nhỏ hơn
nhiều, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đối với ngân hàng lại không hề nhỏ. Sở dĩ như
vậy vì sự cố hệ thống gây ảnh hưởng trên diện rộng, cùng lúc ảnh hưởng đến rất nhiều
khách hàng, rất nhiều giao dịch. Rủi ro về tác nghiệp xoay quanh 4 nguyên nhân chính là
con người như, hệ thống thông tin, quy trình và do khách quan. Những rủi ro này trong
tình hình hiện nay càng trở nên phổ biến.
Nói tóm lại, việc thu thập dữ liệu nội bộ của các NHTM Việt Nam hiện nay chưa
đầy đủ, thiếu khoa học và còn nhiều bất cập. Điều này đặt ra cho các NHTM một nhiệm
vụ là cần phải xem xét và thực hiện sao cho đảm bảo độ chính xác, tin cậy thì mới có thể
tạo nền tảng đưa ra những nhận xét, đánh giá, đo lường chính xác RRTN.
2.7. Bảo hiểm tiền gửi
Một hệ thống bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt đã được nhìn nhận như một yếu tố
quan trọng trong việc khuyến khích huy động tiền gửi bằng cách tăng cường lòng tin mà
những người gửi tiền, đặc biệt là những người gửi tiền nhỏ, sẽ được bảo vệ trong tình
huống ngân hàng phá sản. Một hệ thống tốt có thể tránh cho các ngân hàng khỏi bị rút
tiền ồ ạt và hỗn loạn (điều đã từng phổ biến) trong các thời gian chịu áp lực kinh tế và
khu vực tài chính. Nhưng mặt khác, bảo hiểm tiền gửi có thể dẫn tới tâm lý ỷ lại nếu như
các ngân hàng tham gia vào những hoạt động rủi ro khi biết rằng những người gửi tiền sẽ
được bồi hoàn toàn bộ bởi hệ thống bảo hiểm.
Việt Nam thành lập Cơ quan bảo hiểm tiền gửi (DIV) bằng Nghị định số 89 năm
1999. Bảo hiểm tiền gửi là trách nhiệm đối với tất cả các định chế nhận tiền gửi, các ngân
hàng hoặc các định chế tài chính phi ngân hàng được cấp phép theo Luật Các TCTD.
DIV đã tiến hành một số biện pháp để củng cố và hiện đại hóa hoạt động của mình, tập
trung vào việc cải thiện các cơ chế chi trả của mình để bảo đảm cho các khoản thanh toán
được thực hiện chính xác và phù hợp, tập trung vào việc thiết lập nên một hệ thống cảnh
báo sớm mạnh.
3. Đánh giá chung hoạt động QTRRTN tại các NHTM Việt Nam
3.1. Kết quả đạt được
Trong những năm qua , hê
̣
thống ngân hàng Vi ệt Nam đa
̃
phát tri ển nhanh cả về
quy mô và chất lư ợng. Không ngư
̀
ng nâng cao chất lươ
̣
ng phu
̣
c vu
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác QTRRTN của các NHTM Việt
Nam vẫn còn nhiều hạn chế (Khả năng quản trị rủi ro co
̀
n yếu ke
́
m ; Chính sách quản trị
rủi ro còn nhiều bất cập; Quy trình quản trị rủi ro chưa hoàn thiện; Công nghệ lỗi thời;
Con người chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao).
(*) Nguyên nhân
a. Nguyên nhân chủ quan
+ Công tác đào tạo nguồn nhân lực của các NHTM.
+ Chưa ứng dụng, hoặc chưa vận dụng hết tính năng của công nghệ hiện đại.
+ Công tác dự đoán rủi ro còn nhiều hạn chế.
+ Hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện quy trình giao dịch của các NHTM còn
nhiều hạn chế.
+ Chưa chủ động trong phòng ngừa các rủi ro do các yếu tố khách quan mang lại.
b. Nguyên nhân khách quan
Hiện nay, Basel II là công cụ hữu hiệu nhất để định hướng cho việc phòng ngừa,
giám sát và kiểm soát rủi ro tác nghiệp. Nhưng tại Việt Nam, việc triển khai thực hiện
Basel II còn nhiều khó khăn do thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện của Ngân hàng
nhà nước.
Môi trường kinh doanh tại Việt Nam còn nhiều bất cập nên còn tiềm ẩn nhiều rủi
ro cho các NHTM trong quá trình hoạt động, như hệ thống văn bản pháp luật
3.2.3. Cơ hội
- Hệ thống ngân hàng có sự quan tâm đúng mức hơn đối với quản trị rủi ro nói
chung và quản trị rủi ro tác nghiệp nói riêng.
- Tiếp cận với mô hình QTRRTN mới và tiên tiến hơn.
- Đào tạo nguồn nhân lực dồi dào cho lĩnh vực quản trị.
3.2.4. Thách thức
- Dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động từ bên ngoài.
sự ổn định của hệ thống ở mức cho phép. Đẩy mạnh việc hợp tác, tư vấn, nghiên cứu để
hoàn thiện môi trường pháp lý, đặc biệt đối với các dịch vụ ngân hàng mới, có vai trò
thiết yếu với hoạt động ngân hàng, như các dịch vụ ủy thác, sản phẩm phái sinh, các dịch
vụ ngân hàng điện tử. Cơ chế chính sách quản lý không chỉ tạo hành lang pháp lý để đưa
các hoạt động vào khuôn khổ, phát triển các mô hình quản trị rủi ro mà trong một số
trường hợp cần chủ động khuyến khích sự ra đời, phát triển của các mô hình quản trị mới
tiên tiến hơn.
a) Thiết lập một quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp
Nền móng cơ sở vững chắc cho hoạt động QLRRTN tại các NHTM ở Việt Nam
chính là khung QLRRTN hướng theo chuẩn quốc tế, bao gồm: chính sách, cơ cấu tổ
chức, quy trình và giải pháp phần mềm QLRRTN trong nội bộ NHTM. Trong bối cảnh
hiện tại, các NHTM hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ
của NHNN, do vậy các NHTM cần xem xét kỹ lưỡng để quyết định lựa chọn khung
QLRRTN sao cho đáp ứng được những yêu cầu cơ bản theo chuẩn mực quốc tế
như: Chiến lược của ngân hàng và phương pháp QLRRTN phải ăn khớp với nhau; Xác
định các phương pháp thực hành quản lý và đo lường RRTN; Đưa ra các công cụ chuẩn
mực về xác định, đo lường, kiểm tra, giám sát, báo cáo trong toàn hệ thống nhằm đưa vào
chương trình QLRRTN.
Để đáp ứng được các yêu cầu cơ bản trên, các NHTM cần phải xác định chiến
lược và phương pháp quản lý rủi ro đúng đắn; xác định vai trò, chức năng và trách nhiệm,
quyền hạn của các bộ phận trong tổng thể bộ máy cơ cấu tổ chức; đưa ra các yêu cầu về
thực hành quản lý rủi ro; phổ biến rộng rãi trong toàn hệ thống, nhất quán việc QLRRTN;
quan trọng hơn là ứng dụng các công cụ quản lý như: kiểm tra hạ tầng, tự đánh giá và
kiểm soát rủi ro thông qua bảng hỏi, thu thập dữ liệu sự kiện RRTN/ phân tích, dữ liệu
tổn thất khác ngoài hệ thống, chỉ số rủi ro chính, phân tích kịch bản, phân tích rủi ro, đo
lường rủi ro và báo cáo, phân bổ vốn chịu rủi ro; từ đó có các phương án phòng tránh
RRTN như: mua bảo hiểm/chuyển rủi ro.
Thành phần chủ chốt của khung QLRRTN là một tập hợp các tiêu chuẩn RRTN
cốt lõi cung cấp hướng dẫn về cơ sở kiểm soát và đảm bảo môi trường hoạt động. Các
khung được bổ sung với các công cụ khác nhau nhưng đều có các thành phần chính: xác
nghiệp vụ chuyên môn, sản phẩm dịch vụ trong hoạt động ngân hàng.
c) Phản hồi về việc thực hiện quy trình cũng như phản ánh về tính đúng đắn của
quy trình quản trị rủi ro
- Thu nhận thông tin phản hồi từ khách hàng.
- Thu nhận thông tin phản hồi từ nhân viên.
d) Giải pháp hoàn thiện
Từ những phản hồi từ các đối tượng, sau khi đã được tổng hợp và phân tích có thể
tìm ra những hạn chế đang tồn tại, những sai sót cần sửa chữa và hoàn thiện, tất cả được
tổng hợp thành báo cáo và được chuyển lên cho các cấp lãnh đạo, người thiết lập nên mô
hình quản trị. Các nhà quản trị sẽ xem xét để xác định nguyên nhân để đưa ra những giải
pháp cho các tồn tại này.
Thông thường có những lỗi xuất phát từ quy trình chưa chặt chẽ, việc phổ biến quy
trình chưa sâu sát tới từng cán bộ thực hiện, cán bộ thực hiện chưa đúng quy trình, bộ
phận kiểm tra kiểm soát nội bộ còn yếu, chưa phát huy hết khả năng cũng như quyền hạn
của mình,… Tùy từng trường hợp mà đưa ra những giải pháp cụ thể cho từng vấn đề.
2. Nâng cao năng lực quản trị nội bộ của các NHTM
Nâng cao năng lực quản trị nội bộ của các NHTM là yếu tố quyết định sự thành
công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, quản trị rủi ro cần dựa trên
một số nguyên tắc sau: nguyên tắc chấp nhận rủi ro; nguyên tắc điều hành rủi ro cho
phép; nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt; nguyên tắc phù hợp giữa mức độ
rủi ro cho phép và khả năng tài chính; nguyên tắc hiệu quả kinh tế, nguyên tắc hợp lý về
thời gian và phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng v.v… Để thực hiện tốt những
nguyên tắc này, các ngân hàng cần xây dựng văn hoá quản trị lành mạnh, tạo môi trường
thuận lợi cho việc áp dụng các nguyên tắc và thông lệ quản trị rủi ro, cần chú trọng nâng
cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ trên cơ sở áp dụng hệ thống công nghệ ngân
hàng hiện đại, để phát hiện những tiềm ẩn rủi ro, có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Nhưng
cũng không nên quá nhấn mạnh đến kiểm tra, kiểm soát nội bộ dễ đánh mất tính sáng tạo
trong công việc.
3. Cơ cấu lại mô hình tổ chức của ngân hàng
Mô hình tổ chức của một số NHTM hiện nay thích hợp trong điều kiện hoạt động
nghiệp vụ, lựa chọn những dấu hiệu rủi ro mà trên thực tế có thể xảy ra, tiến hành bằng
cách cho điểm theo thang điểm (tùy vào chính sách và đặc điểm từng ngân hàng mà
thang điểm có thể khác nhau). Sau khi tổng kết số điểm rủi ro thì có thể quy vào khu vực
có rủi ro thấp hay cao. Những dấu hiệu có rủi ro cao sẽ phải có biện pháp xử lý kịp thời
nhằm giảm nhẹ tổn thất có thể xảy ra.
c) Tham gia và tham khảo thông tin từ các hiệp hội quản trị rủi ro, hiệp hội dữ liệu
tổn thất khu vực và thế giới.
5.2. Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý
Một trong những khâu mấu chốt của quá trình QTRRTN là thu thập và xử lý thông
tin, từ đó đưa ra những cảnh báo hữu hiệu nhằm phòng tránh và ngăn ngừa RRTN. Như
vậy, để có được những đánh giá và phân tích chuẩn về mức độ rủi ro, cũng như tính toán
chính xác giá trị rủi ro của một ngân hàng, thì nhất thiết phải hoàn thiện hệ thống quản lý
thông tin sao cho đảm bảo tính chính xác, cập nhật, tích hợp với hệ thống quản trị kinh
doanh chung của ngân hàng (core banking).
5.3. Mua sắm, trang bị phần mềm quản lý rủi ro tác nghiệp
Vấn đề tối quan trọng khi triển khai mua sắm, trang bị phần mềm quản trị RRTN
là việc xác định các tính năng cần thiết đối với phần mềm quản trị RRTN. Việc trang bị
phần mềm QTRRTN phải tích hợp được với hệ thống core banking. Bên cạnh đó, tình
trạng công nghệ, phần mềm không đồng bộ, các chức năng không phù hợp với yêu cầu
thực tế, dẫn đến tình trạng bán tự động, bán thủ công…việc chỉnh sửa rất tốn kém và phụ
thuộc vào đối tác nước ngoài. Vì vậy các NHTM Việt Nam cần phân tích lựa chọn
phương án kỹ thuật công nghệ kỹ càng để có được phương án tối ưu.
6. Đào tạo nguồn nhân lực quản lý rủi ro
- Đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên về quản lý rủi ro tác nghiệp
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn bộ nhân viên ngân hàng về quản lý
rủi ro tác nghiệp
3. Một số kiến nghị
3.1. Kiến nghị đối với Chính Phủ, Bộ, Ngành liên quan
- Chính phủ, Bộ, Ngành liên quan cần có chính sách hỗ trợ tăng vốn điều lệ cho
các NHTM Quốc doanh để tăng cường năng lực tài chính; Có chính sách cải cách khu
dụng bảo hiểm của ngân hàng đối với mục đích giảm thiểu RRTN.
Để tăng cường công tác quản trị rủi ro tác nghiệp đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp từ phía Ngân hàng nhà nước và các Ngân hàng thương mại, trong đó thì
việc vận dụng những chuẩn mực của Uỷ banBasel trong Basel II là vô cùng quan trọng,
mang tính định hướng cho việc thực hiện quản trị rủi ro tác nghiệp.
KẾT LUẬN
Quản trị rủi ro tác nghiệp là một nghiệp vụ không xa lạ đối với các nước tiên tiến
nhưng lại rất mới mẻ với hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Rủi ro tác nghiệp liên quan tới
nhiều yếu tố: con người, hệ thống, quy trình, thủ tục nội bộ và sự kiện bên ngoài. Đây là
những yếu tố rất đa dạng và thường xuyên biến đổi, do đó rủi ro tác nghiệp xuất hiện
trong hầu hết các hoạt động quan trọng của ngân hàng.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì các Ngân hàng Thương mại Việt Nam vẫn
còn rất nhiều hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tác
nghiệp nói riêng. Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tác nghiệp hiện nay đang trở thành
một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược quản trị rủi ro của Ngân hàng
thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các Cấp,
ngành, cơ quan liên quan để tạo ra một hành lang vững chắc cho Ngân hàng thương mại
phát huy có hiệu quả.
Trong thời gian tới đây, các văn bản về chính sách Quản lý rủi ro tác nghiệp cần
được ban hành, mong rằng từng cán bộ trong hệ thống các ngân hàng thương mại đánh
giá đúng mức tầm quan trọng của công tác này, đem lại sự an toàn, hiệu quả trong công
tác của bản thân mỗi cán bộ nói riêng và sự phát triển, uy tín cho cả hệ thống nói chung
để Ngân hàng Thương mại Việt Nam vững vàng trên con đường hội nhập WTO.
References
Tiếng Việt
1. Hội đồng Basel (2005), Hiệp định Basel II.
2. Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng (2010), Sổ tay rủi ro thanh tra, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
3. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (2008, 2009, 2010, 2011), “Báo cáo tổng kết