Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 78

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng, tuy nhiên rủi ro
của nó cũng không nhỏ. Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đứng trước những thời cơ và thách thức của
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà
cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết.
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp và nguy cơ
khủng hoảng tín dụng tăng cao. Việt Nam là một nước có nền kinh tế mở nên
không tránh khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Đứng trước tình
hình đó, đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải nâng cao công tác
quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn
gây nên rủi ro.
Trước tính cấp thiết đó, đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu những nguy cơ tiềm ẩn, tình
hình kinh doanh tín dụng thực tế tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam để từ đó nhận diện dấu hiệu, tìm ra nguyên nhân, đề ra giải pháp hữu ích
cho việc quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài:
Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tín
dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước mà chưa có đề tài nào nghiên cứu
riêng có về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Cụ thể như:
2
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng
thương mại nhà nước ở nước ta hiện nay”, tác giả Lê Đức Thọ (2005) đã đề cập
đến thực trạng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước và
những tác động tới quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Tác giả đề xuất
các giải pháp đổi mới hoạt động tín dụng của hệ thống các ngân hàng thương

cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm
phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
6.Những đóng góp mới của đề tài:
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng,
kinh nghiệm thực tế của các nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản về nhận diện,
nguyên nhân và quản lý rủi ro tín dụng.
Trên cơ sở phân tích tình hình hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam, đề tài nêu ra những dấu hiệu nhận biết sớm các
khoản nợ có vấn đề, tìm ra các nguyên nhân để từ đó kiến nghị các giải pháp có
hiệu quả và khả thi.
Trong đó, điểm nổi bật nhất của đề tài là nghiên cứu chi tiết về rủi ro tín
dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, rút kinh nghiệm từ các nước
trên thế giới mà các đề tài đã có trước đây chưa phân tích.
4
7.Bố cục của đề tài:
Đề tài gồm 73 trang, 6 biểu đồ, 9 biểu bảng, lời mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương:
-Chương 1: Tổng quan rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
-Chương 2: Tình hình thực tế về quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam.
-Chương 3: Kiến nghị những giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam.
5
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1.1.Khái niệm tín dụng:
Có rất nhiều khái niệm về tín dụng nhưng tập trung lại tín dụng có nghĩa là
sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức

ứng với giá trị của một giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu
một giấy nợ chưa đến hạn.
-Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Cho vay bao gồm các loại sau:
 Thấu chi : là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép
người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình
đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
7
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo. Do đó chỉ sử dụng đối với khách hàng có độ tin
cậy cao, thu nhập đều đặn và ổn định.
 Cho vay trực tiếp từng lần : là hình thức cho vay của ngân hàng
đối với các khách hàng có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất
đặc biệt mà không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
 Cho vay theo hạn mức : là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng
thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín
dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu
vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
 Cho vay luân chuyển : là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển
của hàng hoá. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và
sẽ thu nợ khi bán hàng.
 Cho vay trả góp : là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung
và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.
 Cho vay gián tiếp : đây là hình thức cho vay thông qua các tổ
chức trung gian. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với

không có hoặc không đủ.
9
-Tín dụng không bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp,
cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba. Loại tín dụng này có thể được cấp cho các
khách hàng có uy tín, kinh doanh thường xuyên có lãi, tình hình tài chính hiệu
quả, vững mạnh.
1.1.2.4. Phân loại theo rủi ro:
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an
toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời hiệu quả. Có 2
loại như sau:
-Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
-Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành
mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ, gặp thiên tai, tiến độ thực hiện kế hoạch bị
chậm, trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
Tín dụng có vấn đề được chia làm 2 loại, đó là:
 Nợ quá hạn có khả năng thu hồi : là các khoản nợ đã quá hạn với
thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản
đảm bảo có giá trị lớn, thanh khoản cao…
 Nợ quá hạn khó đòi : là các khoản nợ quá hạn khá lâu, khả năng
trả nợ kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng
chây ì…
1.1.2.5.Phân loại khác:
-Theo đối tượng tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn
cố định.
-Theo mục đích có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng…
10
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong
cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng
phạm vi tài trợ nhưng vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
Ngoài ra các cách phân loại này cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và

Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng
tín dụng, tức phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, tôn trọng các điều kiện khác
đã ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp
phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất,
tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
1.1.3.5.Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp
nước ngoài.
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền
với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương
tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín
dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời
nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế.
1.1.4.Bảo đảm tín dụng:
1.1.4.1.Khái niệm về bảo đảm tín dụng:
Bảo đảm tín dụng là sự bảo đảm cho ngân hàng rằng có một nguồn vốn
khác để hoàn trả hoặc bảo chi khi không thu hồi được nợ.
12
1.1.4.2.Vai trò của việc bảo đảm tín dụng:
-Bảo đảm tín dụng là một hình thức đảm bảo trong trường hợp khách
hàng không trả nợ hoặc trong các tình huống bất ngờ khác.
-Bảo đảm tín dụng để đảm bảo trong trường hợp khách hàng đi chệch
khỏi phương hướng đã vạch ra trong kế hoạch sản xuất kinh doanh, ngăn ngừa
gian lận.
-Các ngân hàng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi
nguồn thu thứ nhất không thanh toán được.
-Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu
nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có một nguồn bổ sung thì tất yếu
ngân hàng sẽ bị tổn thất. Vì vậy để bảo vệ lợi ích của mình, ngân hàng yêu cầu
người đi vay phải có các bảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hàng có uy

Trong kinh doanh cũng như ở chiến trường, ở đâu là điểm nóng thì ở
đó phải có những tuyến phòng thủ chắc chắn, dàn trải đều cho tất cả các mặt trận
không phải là chiến lược tối ưu. Tương tự, đối với khách hàng và loại cho vay có
rủi ro cao thì nên áp dụng loại bảo đảm có rủi ro thấp và ngược lại.
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.2.1.Tìm hiểu chung về rủi ro:
1.2.1.1.Khái niệm về rủi ro:
14
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất
về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ
ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính
nhất định.
-Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến
với nhau trong một phạm vi nhất định.
-Khi đề cập đến rủi ro người ta thường đề cập đến hai yếu tố mang tính
đặc trưng, đó là: biên độ rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro.
+Biên độ rủi ro: thể hiện mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra.
+Tần suất xuất hiện rủi ro = KP/P
KP: số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện
P: số trường hợp đồng khả năng
-Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại
trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tác
hại do chúng gây nên.
1.2.1.2.Quản trị rủi ro:
Quản trị rủi ro là việc nhận diện và đề ra các biện pháp nhằm hạn chế
sự xuất hiện của rủi ro và những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định
tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức độ mạo hiểm có thể
trong sử dụng vốn ngân hàng.
1.2.1.3.Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro:
Có 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến rủi ro

Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, nhận biết mỗi loại rủi ro khác nhau
giúp ngân hàng có thể kiểm soát, hạn chế được phần nào những tác hại do rủi ro
mang lại. Thực tế có rất nhiều loại rủi ro khác nhau, sau đây là một trong số các
loại rủi ro:
-Rủi ro tín dụng: là khả năng tiềm tàng khi người vay hay đối tác không
thể thực hiện được một số cam kết hay vỡ nợ.
-Rủi ro thị trường: là sự không chắc chắn bắt nguồn từ những thay đổi về
giá cả trên thị trường như lãi suất, tỷ giá hối đoái, định giá.
-Rủi ro thanh khoản: là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các cam
kết khi đến hạn bởi thiếu tiền (tài sản nợ) để tài trợ cho các hoạt động sử dụng
vốn (tài sản có) do lạm phát, mức lãi suất thực không hấp dẫn hoặc người gửi
tiền rút tiền ồ ạt…; hay bởi quản lý chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản
nợ yếu kém, đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản kém như trái phiếu của
các công ty phát hành…
-Rủi ro hoạt động: các nguồn khởi phát rủi ro hoạt động gồm có:
• Công nghệ : sập hệ thống, lỗi phần mềm chương trình…
• Nhân viên : các nhân sự chủ chốt và mức độ thay thế, lỗi sơ suất, lừa
đảo, rửa tiền, vi phạm bảo mật…
• Quan hệ khách hàng : sự không hài lòng với hoạt động của ngân
hàng, bất đồng trong thoả thuận hợp đồng…
• Tài sản : an toàn, an ninh, các tình huống nằm ngoài khả năng kiểm
soát (force majors)…
• Bên ngoài : lừa đảo, thị trường suy sụp, chiến tranh…
-Các loại rủi ro khác mà ngân hàng phải đối mặt như: rủi ro tuân thủ luật
định, rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín, rủi ro do kiểm soát/điều tiết, rủi ro khác…
Nguồn: McKinsey
Rủi ro
thị
trường,
20%

 Nợ xấu (Bad debt) :
Nợ xấu là một trong những vấn đề luôn làm đau đầu các nhà quản
trị Ngân hàng. Theo tiêu chuẩn quốc tế, “nợ xấu” là những khoản nợ quá hạn 90
ngày mà không đòi được và không được tái cơ cấu. Tại Việt Nam, nợ xấu bao
18
gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ
án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính phủ xử lý rủi ro.
Nợ xấu là khoản nợ có các đặc trưng cơ bản sau đây:
-Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết đã hết hạn.
-Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu
dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.
-Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày.
Nợ xấu được phân chia thành nhiều nhóm mục đích giúp các nhà quản
trị ngân hàng dễ quản lý, kiểm soát và đề ra phương pháp xử lý khác nhau cho
từng nhóm tương ứng. Theo quyết định 149/QĐ-TTg ngày 05/01/2001 thì nợ
xấu có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1 : Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: nợ tồn đọng ngân hàng
đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; nợ tồn đọng ngân hàng
chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử,
nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 360 ngày.
Nhóm 2 : Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng để
thu, gồm có: nợ xóa thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội bảng;
nợ khoanh doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh doanh nghiệp
thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất…
Nhóm 3 : Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn tồn
tại, đang hoạt động, gồm có: nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ
tín dụng chính sách còn khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày.
Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những
khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xoá.

quyết định tài trợ.
-Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho cơ
quan bảo hiểm chuyên nghiệp.
-Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để
đối phó với rủi ro.
-Trước khi quyết định cho vay đối với một khách hàng, ngân hàng phải
xem xét các điều kiện sau:
+Khả năng trả nợ của khách hàng phải lớn hơn hoặc bằng với mức
cho vay.
+Mức cho vay không được vượt quá 70% tài sản đảm bảo.
+Tổng dư nợ cho vay một khách hàng không được phép vượt quá
15% vốn tự có của ngân hàng.
1.3.KINH NGHIỆM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
Trong cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng thời kỳ 1997-1998, khởi đầu
và tâm điểm là khu vực châu Á, đã có rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên
thế giới bị phá sản, kể cả những ngân hàng có bề dày hoạt động hàng trăm năm.
Ngày nay, sự kiện nhiều ngân hàng trên thế giới công bố các khoản nợ xấu và
thua lỗ đang được cộng hưởng với tình trạng tiền khủng hoảng tín dụng toàn cầu,
mà bắt đầu là từ những gánh nặng nợ khó đòi của hệ thống tín dụng liên quan
đến thị trường bất động sản phái sinh của Mỹ năm 2007.
21
Trước tình hình đó, các ngân hàng lớn, có tầm ảnh hưởng toàn cầu đang
tiến hành nhiều biện pháp để sẵn sàng đối phó với khủng hoảng tín dụng thế
giới. Sau đây là một số các kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng ở vài nước trên
thế giới:
1.3.1.Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Qua nghiên cứu thị trường tín dụng tại Trung Quốc cho thấy nguyên nhân
các khoản nợ xấu xuất phát từ:
+ Dư nợ tín dụng tăng quá nhanh trong khi trình độ chuyên môn của cán

 Việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách mở rộng quá tham
vọng càng được kích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường là kết quả
gây ra lỗ lãi ngân hàng. Mặt khác, do không có kinh nghiệm với những
khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng Nhật
không biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng.
 Các ngân hàng không hiểu rõ hậu quả nghiêm trọng của việc trì hoãn
những biện pháp dứt khoát đối với các khách hàng vay có rủi ro, do đó
mức lỗ lãi của ngân hàng không thể được giải quyết nhanh chóng và với
phí tổn thấp hơn.
 Ngân hàng nên chủ động trong việc đánh giá một khách hàng có tiềm
năng rủi ro trong tương lai gần và xa, từ đó có biện pháp xử lý càng sớm
càng tốt.
23
 Nếu mức lãi lỗ của ngân hàng vượt quá khả năng của các ngân hàng
thương mại, Nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can thiệp và
tất yếu ban điều hành các ngân hàng cũng được thay thế.
 Khi nền kinh tế có vấn đề thì ngành kinh doanh ngân hàng cũng không
thể hoạt động tốt được. Cho dù ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ đối với các
ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống ngân hàng cũng
có thể làm tình hình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của nền kinh tế nếu bản
thân ngân hàng cũng gặp khó khăn. Nếu như phần lớn các khoản cho vay
của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp không khỏe mạnh, thì không
chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả mà nền kinh tế cũng sẽ bị ảnh
hưởng.
Hiện nay các ngân hàng Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan đến
tài sản không thu hồi được. Tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial Service
Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công
tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những khoản nợ xấu mà trước đây đã từng
gây ra các khoản lỗ lãi lớn kéo dài trong nhiều năm đối với hầu hết các ngân hàng.
1.3.3.Kinh nghiệm của Mỹ:

 Các đơn vị cho vay hiệu quả tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì
các đơn vị môi giới không có động cơ để đem lại các khoản vay có chất
lượng cao hơn do họ được trả không căn cứ vào chất lượng khoản vay.
25
 Các đơn vị cho vay hiệu quả thường yêu cầu bên vay phải chứng tỏ
được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh.
 Các đơn vị cho vay hiệu quả thường yêu cầu bên vay cung cấp thế chấp
cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm bảo có
cần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay đối với
khoản vay.
 Các đơn vị cho vay hiệu quả thường tập trung quyết định cho vay để
bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát. Mặc dù các bên cho vay nhỏ
hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xem xét khoản vay, cả 2
đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩm định
khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt
cuối cùng. Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng
từ nhiều cán bộ rải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ
hoặc một nhóm để đảm bảo tính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả
trong thẩm định khoản vay.
 Các đơn vị cho vay hiệu quả yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách
nhiệm với khoản vay họ cho vay. Bởi vì quyết định tín dụng chỉ tốt khi
thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ, đa số các đơn vị cho
vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay. Mặc dù không có đơn
vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong đa
số trường hợp các cán bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản
vay khó đòi.
 Các đơn vị cho vay hiệu quả đều nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay
hơn là việc kiểm soát khoản vay. Họ tin rằng việc cắt giảm hoặc làm tắt
trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu. Thêm vào đó, cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status