Quản lý rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 12

Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
LỜI MỞ ĐẦU
Sự ra đời hoạt động ngân hàng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử phát triển
và bộ của con người. Hoạt động của ngân hàng có vai trò to lớn đối với sự phát
triển nền kinh tế và xã hội. Điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân
hàng – điểm khác biệt xa với các doanh nghiệp kinh tế khác: ngân hàng là tổ
chức trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Có thể nói rằng, tín dụng là hoạt động quan trọng có quy mô lớn nhất của
ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động này. Rủi ro
tín dụng là không thể tránh khỏi, người ta chẳng có cách gì để loại trừ hoàn toàn
rủi ro tín dụng mà chỉ sử sử dụng những phương pháp nhằm làm giảm thiểu rui
ro tín dụng xuống mức có thể chấp nhận được.
Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, việc giảm thiểu rủi ro tín
dụng là hết sức cần thiết. Nó giúp cho hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động
của ngân hàng nói chung đạt hiệu quả cao hơn. Điều này góp phần đẩy nhanh
tốc độ chu chuyển vốn cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì những
lí do đó nên em lựa chọn đề tài: “Quản lý rủi ro tín dụng trong các ngân hàng
thương mại Việt Nam” để nghiên cứu. Đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
Phần 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
Phần 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Để hoàn thành được đề án này, em xin chân thành cảm ơn Th.s Phan Thị
Hạnh đã hướng dẫn tận tình cho em.
Nguyễn Phương Thảo - Ngân hàng 47B 1
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
PHẦN 1
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NHTM
1.1. Khái quát về rủi ro trong hoạt động của NHTM
1.1.1. Khái niệm rủi ro

ngân hàng,biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Căn cứ vào khoản 01 điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ
chức tín dụng (Ban hành theo Quyết định số 493 /2005/ QĐ-NHNN ngày
22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt
Nguyễn Phương Thảo - Ngân hàng 47B 2
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có
khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Bản chất:
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng
thương mại, đó là hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ
thể, Ngân hàng phải thực hiện các hoạt đọng phân tích khách hàng sao cho độ an
toàn là cao nhất. Và nhìn chung, ngân hàng sẽ chỉ cho vay khi thấy rằng rủi ro
tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, trong các khoản cho vay đó luôn hàm chứa
rủi ro bởi vì không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán
chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân
hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Tỷ lệ tổn thất dự
kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt
động chung. Và khi tổn thất dưới mức tỉ lệ tổn thất dự kiến thì ngân hàng coi đó
là thành công trong quản lý.
1.2.2. Nguyên nhân.
Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của các ngân
hàng thương mại những đây cũng chính là lĩnh vực nghiệp vụ phức tạp và chứa
nhiều rủi ro nhất. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín
dụng là thực sự cần thiết để các ngân hàng thương mại có được các giải pháp
cần thiết để hạn chế rủi ro này và đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất.
Như chúng ta đã biết, rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá

đáng.
- Ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và
nguồn vốn sử dụng, cụ thể là: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh
toán, từ đó dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn
nhiều, hoặc dự trữ vốn quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn;
hoặc lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định.
- Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, việc chạy
theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến
chất lượng khoản vay.
*Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng.
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay.
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án
kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố
ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ
việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh
hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.
-Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả
năng quản lý.
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh,
đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào
mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh,
tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so
với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh
doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
-Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay
nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được
o dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh
toán dây chuyền.
-Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch. Quy mô tài
sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu

ngân hàng thì lại hết sức chạm chạp và còn gặp phải nhiều bất cập.
-Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước.
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và
đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng; năng lực
cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu; nội dung và phương pháp
thanh tra, giám sát còn lạc hậu, chậm được đổi mới; vai trò kiểm toán chưa được
phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu; thanh tra
tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền
tệ và giám sát rủi ro còn yếu;…
-Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập. Hiện nay, trung tâm tín dụng
ngân hàng (CIC) của ngân hàng nhà nước đã hoạt động hơn một thập niên và đã
được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin tín
dụng. Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng
được yêu cầu tra cứu thông tin.
-Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng,
nguyên vật liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách
hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ.
Nguyễn Phương Thảo - Ngân hàng 47B 5
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
1.2.3. Hậu quả.
Tín dụng là hoạt động chủ yếu, hoạt đọng quan trọng nhất của ngân hàng
thương mại. Đi liền với nó là rủi ro trong hoạt động tín dụng. Rủi ro tín dụng là
khách quan, là không thể tránh khỏi. Rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh
doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến
luôn được xác định trước trong chiến lược kinh doanh. Có rât snhieeuf lý do
khiến người ta phải quan tâm đến vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng. Sở dĩ
như vậy là do rủi ro nếu không được dự kiến trước sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng
bất lợi cho cả ngân hàng lẫn người gửi tiền vào ngân hàng.
Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được thì ngân
hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Trường

Nguyễn Phương Thảo - Ngân hàng 47B 6
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
- Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối.
- Khó khăn trong thanh toán lương.
- Sự dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản
tiền gửi.
- Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.
- Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác
nhau.
- Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.
- Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán
nợ khi đến hạn.
* Các hoạt động cho vay:
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng.
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.
- Thường xuyên yêu cầu nhân hàng cho đáo hạn.
- Yêu cầu các khoản vay vượt quá dự kiến.
* Phương thức tài chính:
- Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển
dài hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, ví dụ: Thường xuyên sử
dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả (factoring).
- Giảm các khoản phải trả tăng các khoản phải thu.
- Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu.
- Có biểu hiện giảm vốn điều lệ.
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách
hàng:
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản
trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán.

tế; tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc.
Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu thuộc về vấn đề kĩ thuật và thương mại, biểu
hiện:
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm
- Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất,; thay đổi thị hiếu; cập nhật kĩ
thuật mới; mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh.
- Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước: Đặc biệt chú ý sự tác động
của các chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động, môi trường.
- Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.
- Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế.
Nhóm 5:Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin về tài chính, kế toán:
- Chuẩn bị không đầy đủ số liệu về tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp
các báo cáo tài chính.
- Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy;
+ Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên.
+ Khả năng tiền mặt giảm.
+ Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có.
+ Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp.
+ Những thay đổi về lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán.
+ Lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán
+ Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ
được kéo dài.
Nguyễn Phương Thảo - Ngân hàng 47B 8
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
+ Hoạt động lỗ.
+ Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ.
+ Không hạch toán đúng tài sản cố định.
+ Làm đẹp bảng cân đối bằng cách tạo ra các tài sản vô hình.
+ Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.
+ Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản.

phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự .
3. Thu nhập của người đi vay (Cash)
Nguyễn Phương Thảo - Ngân hàng 47B 9
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Trước hết , phải xác định được nguồn trả nợ cua người đi vay như luồng
tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập từ bán thanh lý tài sản hoặc từ phát
hành chứng khoán ,..
4. Bảo đảm tiền vay (Collateral)
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có
thể dùng để trả nợ vay cho ngânhàng .
5. Các điều kiện (Conditions)
Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời
kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng ,
nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương theo từng thời kỳ .
6. Kiểm soát (Control)
Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi cua luật pháp có liên quan va
quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không ? Yêu cầu
tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không ?
* Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & poor:
Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc
xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay. Việc xếp hạng này được thực hiện bởi
một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody Standard & Poor là những
dịch vụ tốt nhất.
Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor thì
cao nhất là AAA. Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody) và AA (Standard &
Poor) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao. Trong đó,
chứng khoán (khaonr cho vay) trong 4 loại đầu được xem như loại chứng khoán
(cho vay) mà ngân hàng nên đầu tư, còn các loại chứng khoán (khoản cho vay)
bên dưới được xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay).
Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status