THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAMx - Pdf 17

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN
Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của
các NHTM Việt Nam:
Trước đây, các NHTM ở Việt Nam chủ yếu thuộc quyền sở hữu của nhà nước, do
đó khi các ngân hàng này gặp vấn đề về thanh khoản thì NHTW sẽ đứng ra giải
quyết bằng cách cấp vốn cho họ, khiến cho các ngân hàng có tâm lý ỷ lại vào nhà
nước, không quan tâm đến chiến lược quản trị rủi ro. Cũng chính vì thế mà nhà
nước cũng chưa xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đầy đủ, hiệu quả về
vấn đề quản trị thanh khoản. Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, hàng loạt
ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, đem lại sự
phát triển cho thị trường tài chính nhưng đồng thời tính rủi ro của hệ thống ngân
hàng cũng tăng lên, đặc biệt là rủi ro thanh khoản.
Năm 2005, Ngân hàng nhà nước đã ban hành quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN
về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, điều này đã
đặt những nền móng đầu tiên cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến
quản trị thanh khoản tại Việt Nam. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin tóm tắt
những điều luật liên quan đến vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản tại các tổ chức tín
dụng:
Tỷ lệ về khả năng chi trả (điều 12, mục IV, quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ):Tổ
chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả như sau:
• Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay (tại mọi
thời điểm) và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp
theo.
• Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay trong khoảng
thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán trong
khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo.
Trong đó:
+Tài sản “Có” có thể thanh toán ngay bao gồm :
- Số dư tiền mặt tại quỹ cuối ngày hôm trước.
- Giá trị sổ sách của vàng cuối ngày hôm trước, kể cả vàng gửi tại Ngân hàng Nhà

- Tiền gửi không kì hạn và có kì hạn dưới 12 tháng của các cá nhân, tổ chức
- Nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn
- Phần chênh lệch lớn hơn giữa tiền vay các tổ chức tín dụng khác và tiền cho các
tổ chức đó vay với kì hạn dưới 12 tháng.
Ngoài quy định về các tỷ lệ trên, ngân hàng nhà nước còn yêu cầu các NHTM
phải có kế hoạch quản trị tài sản “ Có” bằng việc nắm giữ các tài sản có tính thanh
khoản cao, đồng thời xây dựng các kế hoạch dự phòng để đối phó với tình trạng
thiếu hụt chi trả hay khủng hoảng thanh khoản nếu xảy ra.
Có thể nói rằng quyết định 457/2005/QĐ-NHNN và thông tư số 15/2009/TT-
NHNN đã đưa ra được một hệ thống chỉ tiêu tương đối đầy đủ, và khá cụ thể để
hướng dẫn cho các NHTM quản lý vấn đề thanh khoản. Hiện nay, NHNN đã ra
thông tư 13/TT-NHNN về các tỷ lệ an toàn vốn, có hiệu lực từ ngày 01/10/2010 để
thay thế cho quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 19/04/2005. Trong
thông tư này, có một số điểm mới như sau:
- Các tỷ lệ về khả năng chi trả được quy định cụ thể hơn và phù hợp hơn với thông
lệ quốc tế.
- Bổ sung thêm tỷ lệ về dự trữ thanh khoản nhằm đánh giá được mức độ dự trữ
thanh khoản của các tổ chức tín dụng để xử lý kịp thời khi gặp khó khăn về thanh
khoản.
- Quy định tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động nhằm tăng cường quản lý
thanh khoản. Theo điều 18, mục 5 của thông tư này, tổ chức tín dụng chỉ được sử
dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng với điều kiện trước và sau khi cấp tín
dụng đều đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả và các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác quy
định tại Thông tư này và không được vượt quá tỷ lệ 80% đối với ngân hàng, và
85% đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Như vậy hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quản trị rủi ro thanh
khoản đang ngày càng được hoàn thiện hơn, chặt chẽ hơn, tạo hành lang pháp lý
cho các hoạt động của NHTM.
2.2 Quản lý rủi ro thanh khoản giai đoạn 2007-2008:
Trong giai đoạn 2007-2008, các NHTM Việt Nam đã phải đối mặt với một cuộc

tháng…
- Đầu năm 2008, Bộ Tài chính, do bị NHNN từ chối đổi tiền USD sang tiền Đồng
để chi ngân sách, đã rút một khối lượng lớn tiền mặt đang gửi trong các ngân hàng
quốc doanh.
- Ngày 15/2, NHNN phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc đối với
41 NHTM tuy nhiên các tín phiếu này không được giao dịch trên thị trường mở, do
đó không thể vay tái cấp vốn tại NHNN. Đây có lẽ là quyết định gây ra cú sốc cho
thanh khoản của hệ thống ngân hàng, vốn đã thiếu thanh khoản từ cuối 2007.
Nguyên nhân từ phía các NHTM:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM là quá “nóng” so với tốc độ tăng
trưởng kinh tế cũng như tốc độ huy động vốn (năm 2007, tốc độ này là 53,89%).
- Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam còn phụ thuộc
nhiều vào cơ chế của nhà nước, tính liên kết hệ thống giữa các ngân hàng nhằm
đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu khiến cho khả năng chống đỡ thiếu hụt thanh
khoản của hệ thống không cao. Những yếu kém khác của các NHTM như quản trị
tài sản nợ và sự thiếu hụt các công cụ quản lý hữu hiệu… cũng khiến NHNN khó
nắm bắt chắc chắn tình hình thanh khoản và sự thay đổi lớn tài sản của mỗi NHTM
để điều chỉnh.
b- Tác động của các nguyên nhân trên đến tình hình thanh khoản của các
NHTM:
- Các NHTM do không huy động kịp vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng
quá nhanh và mua tín phiếu kho bạc bắt buộc nên phải vay nóng trên thị trường
liên ngân hàng để tránh mất thanh khoản, đẩy lãi suất liên ngân hàng lên rất cao.
Vốn VND khan hiếm, trên thị trường liên ngân hàng hầu như chỉ có người vay mà
không có người cho vay. Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất liên ngân
hàng tăng cao chóng mặt. Đặc biệt lãi suất liên ngân hàng ngày 15/2/2008 lên tới
30,1%/năm; ngày 18/2/2008 lập một kỷ lục mới khi lên tới 33%/năm, ngày
19/2/2008 kỷ lục cao hơn nữa lên tới 43%/năm…Trên thị trường tiền tệ các NHTM
liên tục bám đuổi nhau tăng lãi suất huy động vốn nội tệ. Như vậy, trong vòng 1
tuần, một số NHTM điều chỉnh lãi suất tới 2-3 lần.

khả năng kiểm soát lạm phát của NHNN.
Thứ hai, mặc dù NHNN phải giải quyết nhanh chóng tình hình lạm phát cao trong
nước, nhưng NHNN vẫn phải thực hiện theo từng giai đoạn cụ thể với những công
cụ chính sách tiền tệ nhất định, tránh tình trạng thực hiện ồ ạt, mà phải có sự báo
trước để các NHTM có sự chuẩn bị, từ đó mới tránh được những cú sốc không cần
thiết cho các NHTM và cho nền kinh tế.
b- Bài học đối với hoạt động quản trị thanh khoản tại các NHTM:
Các NHTM cần nâng cao hoạt động quản trị thanh khoản của mình, đặc biệt là
vấn đề dự báo tình hình kinh tế trong nước và những chính sách của NHNN sẽ ảnh
hưởng tới vấn đề thanh khoản tại ngân hàng của mình, đồng thời, có thể lên kế
hoạch những phương án chống đỡ với khủng hoảng thanh khoản khi xảy ra ( phần
này sẽ được trình bày cụ thể trong chương III- Giải pháp tăng cường hoạt động
quản trị rủi ro thanh khoản ở các NHTM tại Việt Nam).
2.3 Phân tích các chỉ số đo lường thanh khoản tại một số ngân hàng thương
mại
Đo lường thanh khoản là một yêu cầu cấp thiết nhưng rất khó thực hiện đối với
ngân hàng. Một cách truyền thống, các nghiên cứu thường dựa trên báo cáo tài
chính của ngân hàng qua các năm và đo lường trên các chỉ tiêu từ H1 đến H8. Tuy
nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, các hệ số H1 (Vốn tự có/Tổng nguồn vốn huy
động) và H2 (Vốn tự có/Tổng tài sản “Có”) không thể hiện được trạng thái thanh
khoản của ngân hàng.
Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin đưa ra một vài phân tích về trạng
thái thanh khoản của 10 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007
đến hết quý 01/2010 dựa trên các chỉ số đo lường thanh khoản từ H3 đến H8.
f Chỉ số H3:Chỉ số H3 là chỉ số về trạng thái tiền mặt.
H3 được tính theo công thức:
H3 = (Tiền mặt + Tiền gửi không kì hạn tại các tổ chức tín dụng)/Tổng tài sản
“Có” (1)
Hoặc: H3= (Tiền mặt + Tiền gửi thanh toán tại NHNN + Tiền gửi không kỳ hạn tại
các tổ chức tín dụng)/Tổng tài sản “Có”

xét từ năm 2007 đến hết quý 01/2010, cá biệt OCB luôn có chỉ số H4 cao nhất với
các mức % dao động từ 64% đến 85%.
fChỉ số H5:
Chỉ số H5 được tính theo công thức:
H5 = Dư nợ/Tiền gửi khách hàng
Chỉ số này cho biết tỉ lệ dư nợ cho vay trên tổng số tiền gửi huy động được của
ngân hàng. Tỉ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp.
Cá biệt, H5 có thể lớn hơn 100% khi ngân hàng đi vay từ các nguồn khác ngoài
tiền gửi khách hàng để thực hiện nghiệp vụ cho vay.
Xét trên số liệu của 10 ngân hàng thương mại kể trên, chỉ số H5 thường rất cao.
Tính đến quý 01/2010 có 4 ngân hàng trên tổng số 7 ngân hàng có tỉ lệ này lớn hơn
100%. Đây là con số nguy hiểm báo hiệu nguy cơ thanh khoản kém đối với các
ngân hàng. Một điều cần lưu ý: mặc dù thị trường ngân hàng từ năm 2007 đến hết
quý 01/2010 có nhiều biến động, tuy nhiên chỉ số H5 của ngân hàng không phản
ánh được những thay đổi trong quản lý thanh khoản. Các ngân hàng có H5 cao như
OCB vẫn giữ mức trung bình trên 100% với sự chênh lệch qua các năm là rất ít. Vì
vậy, các điều chỉnh của ngân hàng trong điều chỉnh tỉ lệ dư nợ trên tiền gửi khách
hàng là rất ít hoặc không hiệu quả.
f Chỉ số H6:
H6 là chỉ số chứng khoán thanh khoản được tính theo công thức:
H6=(Chứng koán kinh doanh + Chứng khoán sẵn sàng để bán)/Tổng tài sản “Có”
Chỉ số này cho biết tỉ lệ nắm giữ các chứng khoán có khả năng chuyển thành tiền
mặt, đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao, trạng thái
thanh khoản của ngân hàng càng tốt.
Số liệu tính toán cho thấy, phần lớn các ngân hàng đều nắm giữ số lượng chứng
khoán nói chung và chứng khoán có tính thanh khoản cao với số lượng thấp. Tuy
số liệu này ở mỗi ngân hàng và qua mỗi năm đều khác nhau nhưng chỉ dao động ở
mức dưới 20%, cá biệt một số ngân hàng tỉ lệ này gần như bằng 0 (SHB năm 2007;
Navibank 2009...). Tỉ lệ thấp có thể được giải thích tùy theo chính sách đầu tư của
mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, các NHTM Việt Nam nên đề cao sự quan tâm tới các

Theo bảng số liệu, năm 2009 nhìn chung phản ánh sự thay đổi tích cực trong quản
lý thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam khi H8 đều lớn hơn
10%. Tuy nhiên, với một số ngân hàng, chỉ số này có mức dao động khá lớn như
OCB, SHB, Vietcombank…đặc biệt là SHB khi chỉ số H8 trong quý 1 năm 2010
đã giảm 42.06% có thể coi như một tín hiệu báo động trong công tác dự trữ nhằm
đề phòng rủi ro thanh khoản của ngân hàng này.
2.4 Đánh giá hoạt động quản lý thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại
Việt Nam:
Giai đoạn 2007 đến quý 01 năm 2010 chứng kiến nhiều biến động trên thị trường
ngân hàng. Trải qua cuộc khủng hoảng thanh khoản cuối năm 2007 và khủng
hoảng kinh tế thế giới 2008-2009, hệ thống ngân hàng bao gồm NNHN và các
NHTM Việt Nam phải đối mặt với nhiều nguy cơ mà trực tiếp nhất là nguy cơ về
rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên, quãng thời gian này cũng cho thấy những mặt tích
cực trong công tác quản lý thanh khoản và nhiều bài học đã ngay lập tức được áp
dụng nhằm tăng cường công tác đề phòng và quản trị rủi ro thanh khoản trong các
hoạt động của ngân hàng. Những dấu hiệu tích cực trong công tác quản lý rủi ro
thanh khoản tại các ngân hàng Việt Nam có thể nhận thấy như:
- Sự phối hợp trong quản lý, điều hành của NHNN và sự thực hiện của các NHTM.
Nhìn chung, NHNN đã có những động thái kịp thời trong việc chỉ đạo chính sách
tiền tệ nhằm phòng tránh và hạn chế tối đa rủi ro thanh khoản, ví dụ như việc gỡ
bỏ lãi suất trần cho vay đầu năm 2010 nhằm đưa lãi suất dựa theo các quy luật thị
trường đã giảm gánh nặng về thanh khoản đối với các NHTM . Hệ thống văn bản
hướng dẫn và quản lý đang từng bước được hoàn thiện dựa trên những quy chuẩn
Quốc tế như Basel 1,2 góp phần giúp hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của các
NHTM Việt Nam tiến gần với sự chuyên nghiệp và các chuẩn mực thế giới. Sự
hình thành và phát triển của hoạt động thị trường mở (OMO) cũng giải quyết nhiều
nhu cầu thanh khoản cấp thiết của ngân hàng.
- Về phía ngân hàng thương mại, các ngân hàng đã nhận thức rõ hơn tầm quan
trọng của quản trị thanh khoản. Mỗi ngân hàng đều xây dựng hệ thống các quy
định về quản lý thanh khoản nhằm đưa ra những dự báo, quy tắc riêng dựa trên các

phòng nguy cơ khủng hoảng thanh khoản cũng bị xem nhẹ. Ngoài ra, các NHTM
Việt Nam có quy mô nhỏ, khả năng về tài chính còn yếu cũng là khó khăn trong
việc đề phòng rủi ro thanh khoản của ngân hàng ( tính đến ngày 31/03/2010 vẫn
còn 30 ngân hàng chưa đáp ứng được nghị định 141/NĐ-CP của NHNN về việc có
tối thiểu 3000 tỷ đồng là vốn điều lệ, theo vneconomy.vn) .
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN Ở
VIỆT NAM
3.1 Giải pháp về phía ngân hàng nhà nước:
fThứ nhất, NHNN cần đảm bảo điều hành nền kinh tế vĩ mô ổn định nhằm tăng
tính an toàn cho toàn bộ hệ thống.
Hiện nay, theo quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ đảm bảo an
toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng có quy định : tỷ lệ nguồn vốn ngắn
hạn dùng để cho vay trung và dài hạn của các NHTM là 30%. Tuy nhiên, tỷ lệ này
vẫn còn là khá cao: tại Mỹ- một quốc gia có thị trường tài chính phát triển nhất thế
giới, tỷ lệ này chỉ cho phép là 10%. Tại Việt Nam, thị trường tài chính đang trong
giai đoạn đầu của sự phát triển, các nguồn vốn huy động của ngân hàng vẫn chủ
yếu là các nguồn ngắn hạn, nguồn trung và dài hạn huy động được không đủ đáp
ứng nhu cầu cho vay, vì thế, tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung-dài hạn là
khá cao nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Nhưng cũng chính vì điều này,
mà rủi ro thanh khoản của các NHTM lại tăng lên khi nền kinh tế có những dấu
hiệu bất thường, đặc biệt trong giai đoạn nước ta đang tăng cường mở cửa giao lưu
kinh tế với thế giới như hiện nay. Đó là lý do khiến chúng ta thiết nghĩ: nên chăng,
NHNN cần giảm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung – dài hạn. Điều này
không những tăng tính an toàn cho hệ thống NHTM, mà còn thúc đẩy các NHTM
tìm tòi, phát triển các công cụ huy động vốn trong dài hạn để đáp ứng nhu cầu tín
dụng.
Về vấn đề giám sát hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản, hiện nay, các NHTM
đang nộp báo cáo định kì về tình hình thanh khoản tại ngân hàng của mình theo
từng tuần, từng tháng. Theo ý kiến riêng của nhóm chúng tôi, việc làm này mới chỉ

Tuy nhiên, việc hỗ trợ thanh khoản của NHNN vẫn còn nhiều điều chưa thông
suốt. Hỗ trợ chỉ đem lại tác dụng tích cực khi nó được phân phối đúng đối tượng,
đúng số lượng, đúng thời điểm. Nhưng trên thực tế, hoạt động này của NHNN vẫn
còn mang nặng tính xin-cho, hành chính, chưa bám sát tình hình cụ thể, dẫn đến
việc người cần lại không được- người được lại chưa cần. Trong cuộc khủng hoảng
thanh khoản 2007-2008, để giảm tình trạng căng thẳng thanh khoản, NHNN đã
bơm 15.000 tỷ đồng cho các NHTM, nhưng thực chất chỉ có các ngân hàng thương
mại nhà nước mới tiếp cận được nguồn cứu trợ này, còn các ngân hàng cổ phần, có
vốn nhỏ hơn nhiều so với năm ngân hàng quốc doanh lớn, lại tiếp tục chịu thiệt
thòi khi NHNN bán tiền trên thị trường liên ngân hàng theo hình thức đấu khối
lượng. Cuối cùng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) và
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) trúng thầu toàn bộ 15 nghìn tỷ
đồng ngày 20/2/2008, sau đó họ lại đưa số thanh khoản này bán lại trên thị trường
liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi vì chính các ngân hàng cổ phần không được
NHNN cứu trợ mới đang gặp khó khăn lớn trong vấn đề thanh khỏan.
Chính vì vậy, để tăng cường hiệu quả của các khoản hỗ trợ thanh khoản, NHNN
cần phải phân loại các NHTM theo từng mức độ thiếu hụt thanh khoản khác nhau,
tiếp đó cân nhắc và thực hiện hỗ trợ đúng đối tượng, mà không có sự phân biệt
giữa NHTM cổ phần và NHTM quốc doanh. Có như vậy những đồng vốn hỗ trợ
của NHNN mới được sử dụng đúng mục đích, và đảm bảo sự công bằng.
Về vấn đề yêu cầu NHTM phải mua bảo hiểm tiền gửi để giảm thiểu tổn thất khi
khủng hoảng xảy ra, chính phủ đã ban hành nghị định số 89/1999/NĐ-CP về hoạt
động bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý các NHTM trong hoạt
động này là khá khó khăn và hướng giải quyết lại phụ thuộc nhiều hơn vào chính
sự tự giác chấp hành của các NHTM.
fThứ tư, NHNN nên chú trọng phát triển thị trường liên ngân hàng.
Như đã đề cập ở phần trên, một trong những hạn chế của hệ thống các NHTM
Việt Nam hiện nay là tính liên kết trong toàn hệ thống còn yếu, các ngân hàng chưa
có sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau thực sự, cho nên đây là một nguyên nhân dẫn đến nguy
cơ của một cuộc khủng hoảng thanh khoản bởi tính chất dễ lan truyền của nó.

pháp hạn chế rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status