Mục lục
Trang
A. Phần mở đầu 4
B. Nội dung 6
Chơng 1: Tính tất yếu khách quan về vai trò của Nhà nớc trong
quá trình công nghiệp hoá 6
1.1. Vai trò của Nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá 6
1.1.1. Quan niệm công nghiệp hoá- Thực chất công nghiệp hoá 6
1.1.2. Vì sao hiện nay công nghiệp hoá lại gắn với hiện đại hoá 7
1.1.3. Vai trò của Nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá 8
1.2. Tất yếu khách quan vai trò của Nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá
9
1.2.1. Vai trò của Nhà nớc trong việc định hớng cho quá trình công nghiệp hoá 9
1.2.2. Vai trò của Nhà nớc trong việc phát triển khoa học công nghệ 11
1.2.3. Nhà nớc với vai trò phát triển nguồn vốn 13
1.2.4. Vai trò của Nhà nớc trong quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá 14
Chơng 2: Thực trạng vai trò của Nhà nớc trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta 16
2.1. Định hớng cho quá trình công nghiệp hoá 16
2.1.1. Việc đề ra mục tiêu chiến lợc kế hoạch bớc đi của công nghiệp hoá 16
2.1.2. Thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với bớc đi của quá trình
công ngiệp hoá 16
2.1.3. Tạo nguồn lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
17
2.1.3.1. Thực trạng nguồn nhân lực nớc ta hiện nay 18
2.1.4. Phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc 20
2.2. Chính sách phát triển công nghệ 21
2.2.1. Phát triển công nghệ sản xuất 21
2.2.2. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học 23
2.2.3. Nâng cao hiệu quả quảnlý Nhà nớc về khoa học và công nghệ trong thời kì
3.4.2. Xây dựng hệ thống luật kinh tế 49
C. Kết luận 52
Tài liệu tham khảo 53
2
Lời mở đầu
Bất kì một quốc gia nào muốn phát triển, đạt đợc trình độ một nớc phát triển
đều phải trải qua nấc thang có tính tất yếu lịch sử. Đó là công nghiệp hoá. Trên thế
giới đã có nhiều nớc tiến hành thành công công nghiệp hoá và hiện nay cũng còn
nhiều nớc đang tiến hành công nghiệp hoá. Trong các giai đoạn phát triển khác
nhau của lịch sử loài ngời, công nghiệp hoá ở những nớc khác nhau có sự khác
nhau về mô hình, về thời gian thực hiện và do đó có sự khác nhau về ảnh hởng của
nó đến phát triển kinh tế xã hội. Nớc ta bắt đầu công nghiệp hoá từ năm 1960 theo
đờng lối do đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của đảng đề ra. Đến nay sự nghiệp
đó vẫn tiếp tục. Nhng hoàn cảnh, điều kiện quốc tế và trong nớc, trình độ phát triển
kinh tế nớc ta hiện nay khác nhiều so với năm 1960. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề lí
luận và thực tiễn phải giải quyết nh: Công nghiệp hoá có còn là tất yếu khách quan
nữa không? Đánh giá nh thế nào về thực trạng công nghiệp hoá ở nớc ta những năm
qua? Mục tiêu, mô hình, nội dung công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ở nớc ta
hiện nay nh thế nào?
Sự phát triển của nền kinh tế trong hơn mời năm kể từ khi đổi mới đến nay đã
thu đợc nhiều kết quả đáng kể.Trong đó phải kể đến vai trò rất quan trọng của
Đảng và Nhà nớc. Nhà nớc là ngời hoạch định ra các chính sách chiến lợc phát
triển kinh tế, phát huy tối đa những mặt tích cực, hạn chế tối thiểu những mặt tiêu
cực của kinh tế thị trờng. Mà quan trọng nhất là sự định hớng của nhà nớc để kinh
tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đã lựa chọn. Đây là
điểm khác biệt giữa cơ chế kinh tế thị trờng ở nớc ta và các nớc khác.
Mặc dù Nhà nớc ta đã phát huy vai trò của mình một cách có hiệu quả trong sự
nghiệp này, nhng không phải là không có hạn chế. Đó là sự cồng kềnh của bộ máy,
cha xóa bỏ đợc thói quen của cơ chế cũ, cha thích nghi với cơ chế mới nên hiệu quả
Nhng sẽ là rất sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các
nớc đang phát triển trong điều kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc đã đa ra định
nghĩa sau: Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một
bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để phát triển cơ
cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kĩ thuật hiện đại. Đặt điểm của cơ cấu này
là có một bộ phận chế biến sản xuất ra t liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả
năng bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội.
Hiện nay ở nớc ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đợc coi là nhiệm vụ
trung tâm của thời kì quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá xã
4
hội chủ nghĩa là: Quá trình thực hiện cách mạng kĩ thuật, thực hiện sự phân công
mới về lao động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa không ngừng thực
hiện tái sản xuất mở rộng.
Từ đó cho ta thấy: Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện
dới sự chỉ đạo và tổ chức của nhà nớc chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của đảng
cộng sản. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ đa nền kinh tế nớc ta từ
nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn trở thành một nớc công nông nghiệp hiện
đại, văn hoá và khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh cuộc sống ấm no hạnh
phúc. Đờng lối công nghiệp hoá đợc xác định là: u tiên phát triển công nông
nghiệp một cách hợp lí trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đại
hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam lại một lần nữa xác định mục tiêu
của công nghiệp hoá hiện đại hoá là: Xây dựng nớc ta thành một nớc có cơ sở vật
chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc
phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Từ
nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đa nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp.
1.1.2. Vì sao hiện nay công nghiệp hoá lại gắn với hiện đại hoá
Cho đến nay, thế giới đã trải qua hai lần cách mạng về kĩ thuật và công nghệ.
nớc phát triển thì chúng ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách mạng khoa
học kĩ thuật hay thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Có nh vậy thì
sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân mới có thể thành công, đa đất nớc
ta trở thành một nớc công nghiệp hiện đại tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.3. Vai trò của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trớc khi nói đến vai trò của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá phải nói
đến vai trò của nhà nớc trong nền kinh tế. Nghiên cứu quá trình phát triển của các
nớc ASEAN trong mấy thập kỉ qua cho ta thấy: Nhà nớc có vai trò đặt biệt quan
trọng đối với sự tăng trởng kinh tế. Tuy kết quả đạt đợc không giống nhau nhng từ
thực tiễn có thể rút ra những vai trò cơ bản sau của nhà nớc trong quản lí vĩ mô:
Nhà nớc định hớng chiến lợc đúng đắn mang tính chất tiên quyết đối với sự
phát triển kinh tế mỗi nớc. Nhà nớc có chính sách thu hút vốn đầu t từ các nguồn
trong và ngoài nớc, đặc biệt là vốn đầu t nớc ngoài, khuyến khích t bản nớc ngoài
đầu t bằng cách có các chính sách u đãi đảm bảo và tạo điều kiện cho hoạt động
của các công ty nớc ngoài, lập ra các khu vực mậu dịch tự do. Nhà nớc thực hiện
chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ổn định tiền tệ.
Nhà nớc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo.
Ví dụ: chính phủ Malaixia bằng việc thực hiện mục tiêu là xoá đói giảm nghèo
tiến tới xoá bỏ nghèo và cấu trúc lại nền kinh tế xã hội đã giảm tỉ lệ ngời sống dới
mức nghèo khổ từ 49,3% (năm 1970) xuống 17% (1990) và 13,5% (1993).
Nhà nớc điều chỉnh kịp thời việc sử dụng các thành phần kinh tế, nhấn mạnh
việc sử dụng các thành phần kinh tế nhng các doanh nghiệp nhà nớc vẫn giữ vai trò
chủ yếu trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Nhà nớc xây dựng chiến lợc
phát triển nguồn nhân lực, đầu t thích đáng cho giáo dục đào tạo, sử dụng hiệu quả
nguồn lao động đã đợc đào tạo. Tại INĐÔNÊXIA, chí phí của nhà nớc cho giáo
dục và đào tạo so với tổng nguồn chi tăng từ 9% (1969 - 1974) lên 17,6% (1984 -
1989) và 21% (1990 - 1995).
Từ đó cho ta thấy vai trò hết sức quan trọng của nhà nớc trong sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá.
1.2. Tất yếu khách quan vai trò của nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá
nghiệp hoá.
Nhà nớc thức hiện việc quản lý quá trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và
các văn bản dới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết nh chế độ
thống kê toán và kiểm toán, chế độ tài chính và bao cáo tài chính công khai chính
xác để quản lý thống nhất.
Nhà nớc phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hớng đúng đắn đã đợc xác
định, vì quá trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả về
chiều ngang và chiều dọc.
Nhà nớc tổ chức việc kiểm tra giám sát quá trình công nghiệp hoá để phát
hiện kịp thời những sai sót lệch lạc mất cân đối. Quyết định đúng đắn việc điều
chỉnh quá trình thực hiện công nghiệp hoá là việc làm cần thiết và thờng xuyên để
cân đối lại hoàn chỉnh nâng cao chất lợng hoạt động của các ngành các địa phơng
và cơ sở.
Nhà nớc đảm bảo đồng bộ các điều kiện chủ yếu để thực hiện thành công
công nghiệp hoá. Những quan điểm phơng hớng bớc đi của công nghiệp hoá có đợc
thực hiện đầy đủ đúng đắn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện chủ
yếu có đợc đảm bảo hay không. Nếu không có đủ các điều kiện chủ yếu thì quá
trình công nghiệp hoá sẽ không thể thành công. Từ đó ta thấy vai trò hết sức quan
trọng của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế.
1.2.2. Vai trò của nhà nớc trong việc phát triển khoa học công nghệ
Từ trớc đến nay đảng và nhà nớc ta luôn xác định khoa học và công nghệ có
vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế. Nghị
quyết hội nghị trung ơng lần thứ VII (khoá VII) đã coi công nghệ là nền tảng của
7
công nghiệp hoá. Theo những đánh giá của bộ khoa học công nghệ và môi trờng thì
trình độ khoa học và công nghệ ở nớc ta lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu
vực. Trang thiết bị cũ nát, chắp vá và các thiết bị đo lờng thử nghiệm nói chung
không đồng bộ, tổ chức sản xuất còn nhiều bất cập Với thực trạng công nghệ sản
xuất nh vậy thì chúng ta không thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
chế u đãi làm động lực kích thích cán bộ hoạt động trong lĩnh vực khoa học công
nghệ trong nớc, kích thích phát huy tính sáng tạo nghiên cứu triển khai khoa học
công nghệ mới phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
1.2.3. Nhà nớc với vai trò phát triển nguồn vốn
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không muốn
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng nh đối với sản
xuất kinh doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vấn đề huy động vốn cho quá
trình công nghiệp hoá có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nớc ta. Trớc hết là
huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nớc. Đây là nguồn vốn có tính quyết định,
là nhân tố nội lực. Nguồn vốn nội bộ đợc tạo ra từ sự liên doanh liên kết giữa các
8
ngành, các lĩnh vực, vùng, miền của nền kinh tế đất nớc, từ sự phát triển mạnh mẽ
của các công ty cổ phần, thông qua việc huy động tiền nhàn rỗi của dân c, của các
cơ sở kinh tế, các tổ chức đoàn thể, các khoản thuế nộp ngân sách của nhà nớc.
Nguồn vốn nội bộ của nền kinh tế có tính chất quyết định trong quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá nhng vẫn còn hạn hẹp. Các quốc gia khác trên thế
giới cũng nh nớc ta đều phải dùng mọi biện pháp để thu hút vốn đầu t nớc ngoài
thông qua các hình thức: Liên doanh, hợp tác kinh doanh, vay với lãi suất thấp, viện
trợ. Trong điều kiện kinh tế tích luỹ vốn còn chậm thì thu hút đợc nhiều vốn đầu t
nớc ngoài là rất quan trọng. Từ nguồn vốn bên ngoài biến thành nguồn lực trong n-
ớc tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Để huy động
vốn đầu t nớc ngoài cần có cơ chế chính sách thoả đáng để thu hút ngày càng nhiều
và tranh thủ cùng với công nghệ tiên tiến. Muốn tiếp nhận vốn đầu t nớc ngoài thì
cần phải có một nguồn vốn tơng ứng trong nớc. Còn việc vay vốn thì phải tính đến
trả nợ. Ngoài ra còn phải đảm bảo các yếu tố khác về độc lập, chủ quyền, kinh tế,
chính trị. Vì thế mà nguồn vốn nội bộ có ý nghĩa quyết định. Nhà nớc phải tạo điều
kiện cho từng địa phơng từng cơ sở phát triển mạnh mẽ sản xuất nhằm huy động
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá.
Song song với việc huy động các nguồn vốn, vấn đề bảo toàn, sử dụng và phát
kiện thuận lợi cho công nghiệp hoá.
Hai là, định hớng cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, trực tiếp đầu t
vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo hớng xã hội chủ nghĩa,
ổn định môi trờng kinh tế vĩ mô nh: Chống lạm phát, chống khủng hoảng, ngăn
ngừa những đột biến xấu trong nền kinh tế.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đảm bảo yêu cầu của công
nghiệp hoá hiện đại hoá, thực hiện đúng các chức năng quản lý nhà nớc về kinh tế
và chức năng chủ sở hữu tài sản công cuả nhà nớc.
Bốn là, khắc phục hạn chế các mắt tiêu cực của cơ chế thị trờng, phân phối
thu nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá
gắn với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội.
Ngoài ra vai trò của nhà nớc trong việc tổ chức quản lý quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá còn thể hiện trong việc lựa chọn sử dụng những công cụ quản lý
có hiệu quả cao nh hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế xã hội đặc biệt là các
chính sách kinh tế nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình công nghiệp
hoá, lựa chọn các phơng pháp quản lý nh: Giáo dục, thuyết phục, động viên, phơng
pháp tổ chức hành chính, phơng pháp kinh tế, bố trí hợp lý các cán bộ đầu ngành
chủ chốt trong các cơ quan quản lý, tóm lại nhà nớc có vai trò rất quan trọng trong
việc quản lý quá trình công nghiệp hoá.
Chơng 2: Thực trạng vai trò của nhà nớc trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta
2.1. Định hớng cho quá trình công nghiệp hoá
2.1.1. Việc đề ra muc tiêu chiến lợc kế hoạch bớc đi của công nghiệp hoá
Thực hiện công nghiệp hoá nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản về kinh tế,
trên cơ sở đó góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đảm bảo
công bằng xã hội. Nhng việc xác định phơng hớng bớc đi của công nghiệp hoá hiện
nay còn nhiều thiếu xót bất cập. Tuy nhà nớc đã u tiên đầu t cho phát triển kinh tế
nhng cha giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng. Các chính
10
sách kinh tế của nhà nớc cha gắn bó hữu cơ với các chính sách xã hội. Chính sách
tiên tiến vào nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản xuất khẩu cha
phát triển, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cơ bản thiết yếu còn ít ỏi nhỏ bé.
Ngành cơ khí cha hớng vào sản xuất công cụ thiết bị phục vụ sản xuất nông lâm
ng nghiệp, thiết bị phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản
Nhà nớc cha chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bớc đi của
công nghiệp hoá hiện đaị hoá. Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp vẫn còn ở
mức cao, tỷ suất hàng hoá nông lâm sản thấp, tỷ trọng hàng xuất khẩu nhỏ bé manh
mún.
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP còn thấp. Công nghiệp chế
biến nông lâm hải sản và công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng để xuất khẩu phát
triển chậm
11
2.1.3. Tạo nguồn lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nớc
Chúng ta đang bớc vào thời kỳ phát triển mới rất quan trọng đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, phấn đấu đến năm 2020 đa nớc ta cơ bản trở thành
một nớc công nghiệp. Để thực hiện đợc điều đó, Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành
trung ơng Đảng khoá VIII đã khẳng định: Cùng với giáo dục đào tạo, khoa học và
công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện
cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Vì
thế cần phải phát huy nguồn lực con ngời, yếu tố phát triển mạnh và bền vững.
Kinh nghiệm cho thấy, hiện đại hoá nền kinh tế ở các nớc phát triển, thực
chất là thay đổi cơ cấu công nghiệp dựa trên các ngành công nghệ cao, trong đó
những công nghệ cũ, tiêu hao nhiều tài nguyên và lao động, dựa trên nền tảng điện
cơ khí, đợc thay thế bằng ngành công nghiệp cao cấp, dựa trên nền tảng cơ điện tử,
giảm suất tiêu hao của các nguồn lực tính trên một đơn vị tổng sản phẩm nội địa.
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đang đòi hỏi một nguồn nhân lực mới phù
hợp với nền văn minh trí tuệ. Trí tuệ có tính sáng tạo sẽ là nền tảng của sự thịnh v-
ợng, giàu có của mỗi xã hội, mỗi quốc gia và đợc thể hiện qua nguồn nhân lực của
bản thân quốc đó.
những năm gần đây, từ 5,83% năm 1986 với mức chi 120 tỉ đồng, đến năm 1990
tăng lên 8,9% với mức chi 9186 tỉ và năm 1996 là 10,08% với mức chi là 70000 tỉ.
Tuy vậy tỉ lệ này còn thấp so với các nớc trên thế giới và khu vực.
Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực của nớc ta hiện nay cha hợp lý: 1 đại học/ 1,6
trung học chuyên nghiệp/ 3 công nhân. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo ở nớc ta mới
chỉ đạt 10% so với tổng số lao động là quá thấp. Việc phân bố cán bộ theo ngành
nghề cũng còn rất bất cập. Theo con số của tổng cục thống kê năm 1997 cơ cấu cán
bộ khoa học và công nghệ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ theo các ngành khoa học
nh sau: Tự nhiên: 38%; xã hội và nhân văn: 20%; công nghệ: 27%; dợc: 8%; nông
nghiệp: 7%. Hơn thế nữa đội ngũ này nằm trong các cơ quan trung ơng tới 94,4%,
ở các cơ quan địa phơng chỉ 5,4%. Còn trong các doanh nghiệp, cán bộ đại học và
cao đẳng chỉ chiếm 32% so với Hàn Quốc là 48%, Nhật Bản là 64,4%, Thái Lan
58,2%.
Thứ t, hiện tợng chảy máu chất xám đã và đang xảy ra ngay trong đội ngũ tri
thức. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận cán bộ khoa học và công
nghệ không còn hào hứng với công việc của mình, xin đợc chuyển sang những
ngành nghề không phải đợc đào tạo, phần lớn là những ngời khoẻ,trẻ và có năng
lực. Còn sinh viên ra trờng chỉ muốn xin vào làm cho các liên doanh, không muốn
vào các viện nghiên cứu, trờng học hoặc các cơ quan của đảng và nhà nớc.
Nh vậy, khai thác tiềm năng của đội ngũ tri thức Việt Nam giàu tính sáng tạo
- một nguồn tài nguyên đặc biệt, đang còn nhiều vấn đề cần phải bàn tới và tìm h-
ớng giải quyết.
2.1.4. Phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
Trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dânViệt Nam, cấp giáo dục nào cũng có
vị trí, tầm quan trọng của nó. Trong từng giai đoạn xác định, tuỳ thuộc vào tình
hình chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể mà đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ và có sự sắp
xếp, u tiên cho mỗi cấp đào tạo.
Để có nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nớc hiện nay, chúng ta phải có một nền giáo dục đại học phát
lợc ở giáo dục đại học có tác dụng đầu tàu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc
dân, thúc đẩy sự phát triển mạnh ở giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề. Những chuyển biến bớc đầu sang một thế mới, một trạng thái mới của
giáo dục đại học có tác dụng to lớn về đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, lực l-
ợng lao động sản xuất phục vụ xã hội, góp phần to lớn vào quá trình ổn định và
tăng trởng kinh tế xã hội ở nớc ta.
2.2. Chính sách phát triển công nghệ
2.2.1. Phát triển công nghệ sản xuất
Đất nớc ta đang chuyển hẳn sang hoạt động theo cơ chế thị trờng với nền kinh
tế mở, phải cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và thị trờng thế giới. Chúng ta đã
thấy đợc chính sách và cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp của Nhà
nớc đã kìm hãm việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất ở nớc ta nh
thế nào. Chính vì vậy mà những chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế mới
ban hành nhằm kích thích đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ đã nhanh chóng
tìm đợc sự hởng ứng và đón nhận, đem lại kết quả ban đầu đáng khích lệ. Những
chính sách và cơ chế mới ban hành của Nhà nớc trong thời gian qua nhằm tạo
quyền chủ động cho các đơn vị sản xuất trong việc ứng dụng các tiến bộ của khoa
học và công nghệ sản xuất đã có tác dụng giúp nhiều cơ sở sản xuất đứng vững đợc
trong cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trờng, bớc đầu làm ăn có hiệu quả. Ví dụ nh
nghị quyết số 217 - HĐBT ngày 14/11/98 về các chính sách đổi mới kế hoạch hoá
và hạch toán kinh doanh đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (ban hành
theo nghị định số 50 - HDBT ngày 22/3/1998) đã có những tác động tích cực, làm
các doanh nghiệp Nhà nớc độc lập hơn, tự chủ hơn trong sản xuất và tiêu thụ luật
đầu t nớc ngoài vào Việt Nam, luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; pháp lệnh
chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam và một loạt các thông t quyết đinh
cụ thể khác của Nhà nớc đã tạo điều kiện ban đầu thuận lợi cho các doanh nghiệp
14
Nhà nớc nhanh chóng đổi mới công nghệ sản xuất. Những qui định trong chính
sách và cơ chế quản lý kinh tế của nhà nớc đã:
- Tạo ra nhu cầu bức thiết cho các doanh nghiệp phải đổi mới và nâng cao
tạo ra niềm tin cho các hoạt động đầu t phát triển khoa học công nghệ phục vụ
công nghiệp hoá hiện đại hoá.
- Thiếu sự khuyến khích phát triển dịch vụ công cộng và kết cấu hạ tầng để
đảm bảo tiếp nhận và khai thác có hiệu quả công nghệ mới phục vụ công nghiệp
hoá. Sự yếu kém về hàng hoá dịch vụ công cộng và kết cấu hạ tầng ở nớc ta đang là
một trong những cản trở lớn nhất trong chuyển giao công nghệ. Nó đã và đang để
tuột nhiều dự án đầu t, mặc dù đã có những u đãi đặc biệt so với thông lệ chung của
quốc tế.
2.2.2. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học
Các chính sách cơ chế của nhà nớc cha tạo ra động lực kích thích đối với cán
bộ hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Sự phát triển khoa học và công
15
nghệ vừa là mục tiêu vừa là phơng tiện của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Con ngời là yếu tố quan trọng của sự phát triển ấy bởi vì con ngời là yếu tố chủ
động, năng động của sự phát triển ấy. Thế nhng hiện tại lao động làm việc trong
lĩnh vực này đang thiếu sự khuyến khích, kích thích cần thiết. Nhận xét về các
chính sách đối với cán bộ khoa học công nghệ, nghị quyết 26 của bộ chính trị vừa
qua đã chỉ rõ: Chính sách chế độ đãi ngộ trong khoa học còn nhiều điều bất hợp
lý. Tiền lơng mang nặng tính chất bình quân chủ nghĩa. Lao động chất xám nói
chung rẻ hơn lao động giản đơn. Điều kiện tối thiếu để làm việc và sinh hoạt của
cán bộ khoa học cha đợc đảm bảo. Hiện nay, với yêu cầu của công nghiệp hoá thì
chất lợng, trình độ kĩ thuật và tay nghề của lao động nớc ta còn quá thấp. Lực lợng
lao động Việt Nam đợc giáo dục đào tạo có hệ thống cơ bản chỉ chiếm 11% trong
tổng số lao động toàn xã hội. Mặt bằng dân chí thấp, lao động trí tuệ, lao động
chân tay có trình độ đại học, sau đại học còn ít.Nhìn tổng thể mà xét thì về mặt l-
ợng nguồn lao động của nớc ta là lớn nhng về mặt chất thì cha đủ để đáp ứng nhu
cầu của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Vì vậy phải có những giải pháp nhằm nâng
cao trình độ lao động phát triển cán bộ khoa học kĩ thuật để tạo ra một sự biến đổi
về chất lực lợng lao động nớc ta.
2.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nớc về khoa học và công nghệ trong thời
tầng, ứng dụng thành công nhiều trang thiết bị cơ khí điều khiển theo chơng trình.
Đặc biệt đã hình thành mạng phòng thí nghiệm quốc gia từ các trung tâm nghiên
cứu, viện nghiên cứu, các trờng đại học, một khu công nghệ cao cho cả nớc và khu
vực ở Hoà Lạc (Hà Tây)
2.2.3.2. Thực trạng quản lý nhà nớc về khoa học và công nghệ
Cuối tháng 1-1999, hội nghị khoa học và công nghệ toàn quốc đã đợc tổ chức
nhằm đánh giá kết quả, tồn tại và kiến nghị các giải pháp đẩy mạnh thực hiện mục
tiêu nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành trung
ơng đảng khoá VIII đã đề ra.
Về kết quả đạt đạt đợc: Tiềm lực khoa học và công nghệ có bớc tiến mới, bao
gồm: Nhânlực khoa học và công nghệ đợc bổ xung, tăng cờng mỗi năm khoảng
180 nghìn ngời. Trình độ cán bộ khoa học và công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ
bản đợc nâng lên. Hình thành đợc một số khu công nghiệp với các hình thức đầu t
nớc ngoài khác nhau.
Các hoạt động khoa học xã hội nhân văn đã nghiên cứu những vấn đề lý luận
cơ bản, cấp bách, phục vụ sự nghiệp đổi mới của đảng. Hội đồng lý luận trung ơng
đợc thành lập. Nhiều đề tài khoa học trong lĩnh vực này vừa cơ bản, chiến lợc, vừa
bớc đầu đi vào giải quyết các vấn đề cụ thể của nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Khoa học tự nhiên, công nghệ và môi trờng đã thực hiện đúng tiến bộ với 145
đề tài trong 11 chơng trình nghiên cú khoa học cấp Nhà nớc. Nhiều đề tài cấp bộ,
tỉnh, thành phố trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y học, tài nguyên và môi
trờng Đã đợc xây dựng nhiều chơng trình đề tài ứng dụng khoa học và công nghệ
vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Những tồn tại cần khắc phục: Quản lý Nhà nớc trong khâu thẩm định, giám
định còn nhiều sơ hở và lúng túng nên nhiều cơ sở sản xuất đã nhập một số công
nghệ lạc hậu gây tốn kém không ít tiền của nh: Xi măng lò đứng, một số dây
chuyền mía đờng
Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghệ còn
nhiều kẽ hở nên đã có các vụ kiện về quyền tác giả trong xuất bản hay ăn cắp kiểu
dáng sản phẩm, hiện tợng hàng giả, hàng nhái vẫn có chiều hớng gia tăng Nhiều
nhân của tình hình trên là do một số chính sách tài chính tiền tệ hiện nay cha tạo
điều kiện và khuyến khích thoả đáng các doanh nghiệp tự đầu t phát triển sản xuất
kinh doanh nh chính sách thuế, chế độ thu khấu hao. Các hình thức huy động vốn
cha đợc mở rộng. Ngời dân cha thật tin tởng vào sự ổn định kinh tế, còn sự lạm
phát khủng hoảng. Kế đến là Nhà nớc cha có nhiều hình thức huy động vốn linh
hoạt, có lãi suất hấp dẫn cũng nh cha tạo ra đợc môi trờng phát lý, môi trờng kinh
tế và bộ máy nhân sự đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trờng.
2.3.2. Thực trạng vai trò của Nhà nớc trong việc sử dụng và quản lý vốn
Những năm gần đây, đầu t của Nhà nớc bớc đầu đã có một số thay đổi theo
chiều hớng tốt, một số công trình đã phát huy tác dụng làm tăng thêm cơ sở vật
chất kĩ thuật cho bớc mới thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá.Tuy
nhiên nhìn chung việc sử dụng vốn đầu t của Nhà nớc đến nay vẫn còn rất lãng phí
và kém hiệu quả. Quan niệm của Nhà nớc về đầu t còn đơn giản, chỉ chú trọng vào
đầu t xây dựng cơ bản để làm tăng tài sản cố định, cha quan tâm thích đáng và gắn
bó với đầu t xây dựng cơ sở nguyên liệu, đầu t vào con ngời và phát triển khoa học
kĩ thuật. Đối với cơ cấu đầu t cũng còn nhiều bất hợp lý: Nhà nớc cha chú ý thích
đáng đến đầu t cho kết cấu hạ tầng, hiệu quả vốn đầu t thấp do không ít trờng hợp
đầu t sai, cơ chế cấp phát vốn của Nhà nớc vẫn còn mang tính chất bao cấp, thất
thoát, tăng phí nhiều.Kết quả tính toán cho thấy hiệu quả vốn đầu t hiện nay là rất
thấp thể hiện qua sự so sánh giữa tổng số vốn đầu t và giá trị tài sản cố định tăng
thêm nh sau: Thời kì 1986 - 1990 cứ bỏ ra 100 đồng vốn đầu t thì chỉ thu đợc
khoảng 50 động giá trị tài sản tăng thêm, năm 1991 là 51,5 đồng và năm 1992 là
48,2 đồng, tỉ lệ thất thoát lên đến 30%. Sở dĩ có sự thất thoát lớn nh thế là do cơ
chế cấp phát, thanh toán đến giao nhận thấu, nghiệm thu, quyết toán công trình có
18
nhiều cơ quan quản lý nhng lại thiếu sự quy định trách nhiệm cụ thể, không cơ
quan nào chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối về số vốn đầu t của Nhà nớc.
Tình hình quản lý và sử dụng vốn đầu t nớc ngoài cũng còn nhiều điều cần
phải xem xét lại. Những năm qua vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào nớc ta tuy
tăng nhanh qua các năm, song vẫn còn có sự mất cân đối về cơ cấu đầu t, việc
cơ sở vật chất kĩ thuật và trình độ công nghiệp, nâng cao trình độ hiện đại hoá trong
các ngành công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân.
Chủ trơng đờng lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đã đợc xác định toàn diện
thích hợp hơn. Đó là thực hiện công nghiệp hoá toàn diện trong các ngành kinh tế
quốc dân, có trọng điểm là công nghiệp, u tiên ngành công nghiệp chế biến, có sự
kết hợp chặt chẽ giữa trung ơng và địa phơng trong đó phải u tiên cho các vùng
trọng điểm. Thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá với sự đầu t phát triển toàn
diện nhng trong đó chú trọng nhất về công nghệ và tri thức công nghệ.
19
Biện pháp thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng đợc Nhà nớc điều
chỉnh trong đó rõ nhất là: Thực hiện quy hoạch phát triển toàn diện kinh tế xã hội
theo từng cấp, căn cứ vào điều kiện và lợi thế so sánh cụ thể mà xác định quy hoạch
xác đinh các công trình theo yêu cầu công nghiệp hoá. Điều chỉnh cơ cấu đầu t
theo hớng tập trung và sớm dứt điểm để nâng cao hiệu quả đầu t, công tác đào tạo
cán bộ đợc tăng cờng mạnh ở những ngành chuyên môn đang rất thiếu nh: Công
nghệ, marketing quản trị kinh doanh và những lĩnh vực không thể thiếu khi thực
hiện công nghiệp hoá.
Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cha thống nhất trong biện pháp quản lý thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cụ thể là:
Phơng hớng khai thác tiềm năng cha rõ ràng chính xác. Nhìn chung các địa
phơng đều đã xây dựng qui hoạch phát triển, trong đó phân tích khá rõ những điều
kiện và lợi thế của địa phơng mình, nhng phân tích để làm rõ những lợi thế so sánh
trong xu thế phát triển chung của nớc ta và thế giới còn có những điểm khác xa
nhau.
Tiến trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá cha đợc nhà nớc dịch ra cụ
thể. Về tổng quát, quá trình công nghiệp hoá sẽ đợc thực hiện trong thời gian từ
nay đến năm 2020 nhng các bớc cụ thể cha đợc xác định rõ ràng. Do đó trong tiến
trình thực hiện các mục tiêu phát triển đã nảy sinh một số vấn đề. Ví dụ nh vấn đề
thực hiện phát triển công nghệ chế biến nh thế nào và vào lúc nào khi nguồn
nguyên liệu cha đợc phát triển Giải pháp vay vốn và sử dụng vốn vay cha thật
nắm vững nhu cầu và khả năng tiến hành công nghiệp hoá, tập trung đúng mức vào
những ngành, địa phơng, lĩnh vực quan trọng nhất để có thể tạo ra sự tăng trởng
nhanh với hiệu quả kinh tế cao
3.1.2. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bớc đi của công nghiệp
hoá hiện đại hoá
Trong những năm trớc mắt cơ cấu ngành kinh tế ở nớc ta sẽ đợc xác định là
cơ cấu công nông nghiệp dịch vụ. Phơng hớng phát triển của các ngành trong cơ
cấu ấy phải đáp ứng đợc mô hình chiến lợc của công nghiệp hoá. Cụ thể là:
- Nhà nớc đẩy mạnh khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng về nông lâm
ng nghiệp, thúc đẩy nhanh việc hình thành các vùng tập trung, chuyên canh, đa
công nghệ sinh học và các phơng pháp canh tác tiên tiến vào nông nghiệp thúc đẩy
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Kết hợp phát triển nông
lâm ng nghiệp với phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản.
21
- Phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng tiêu dùng thông thờng để thoả mãn tiêu
dùng cơ bản, thiết yếu và phổ thông của dân c, hạn chế tối đa nhập khẩu mặt hàng
này để tiết kiệm ngoại tệ phục vụ công nghiệp hoá.
- Xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển
các ngành kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Trớc hết u tiên cho những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển.
- Nhà nớc chú trọng xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng
trọng yếu và hết sức cấp thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. u tiên
phát triển dịch vụ du lịch, khai thác có hiệu quả lợi thế về tự nhiên, truyền thống
lịch sử văn hoá dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Về cơ cấu giữa thị xã thị trấn, thành phố và đô thị thì:
Tuỳ điều kiện từng nơi, tất cả các thị xã thị trấn đều phải đợc phát triển trên
cơ sở đẩy mạnh công nghiệp dịch vụ mang ý nghĩa tiểu vùng. Phát triển các đô thị
vệ tinh xung quanh các thành phố lớn để dãn bớt công nghiệp và dân c, tránh sự tập
trung quá mức vào Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh tạo điều kiện cần thiết để thu
hút công nghiệp và phát triển đô thị mới lên vùng trung du, tránh sử dụng nhiều
Trong thực tế, chính sách cân bằng mức lơng, mức lơng khởi điểm của kỹ s,
thạc sĩ, phó tiến sĩ đều nh nhau ( Hệ số 1,78) và đều đặn 2-3 năm lên lơng
một lần mà chúng ta đang thực hiện trong mấy năm gần đây cũng cần phải xem xét
lại. Chính sách này là một trong những yếu tố cơ bản làm già hoá đội ngũ cán bộ
khoa học có trình độ cao hiện nay. Nó cũng trả lời câu hỏi vì sao sinh viên, cán bộ
khoa học trẻ có năng lực trong nhiều năm gần đây không chuyên tâm nghiên cứu
mà chỉ lo việc tiếp thị và ngoại ngữ, làm thuê cho các công ty nớc ngoài. Đây là
nguyên nhân gây ra hiện tợng chảy máu chất xám từ các cơ quan nhà nớc. Vì một
tơng lai của đất nớc ở thế kỉ XXI, vì một đội ngũ cán bộ đầu đàn và một dân tộc có
tri thức cao thì cần có cơ chế, chính sách đúng đắn để động viên thanh niên học tập,
rèn luyện đảm bảo những điều kiện nhất định để cán bộ công chức yên tâm làm
việc.
Cần đa việc cấp bằng, chứng chỉ trong nớc đi vào nề nếp. Đây là biện pháp
tôn vinh nguồn nhân lực đã đợc đào tạo thực sự và giáo dục đào đức cho thế hệ trẻ.
Nhiều cán bộ khi còn là học sinh trong các trờng tiểu học, trung học chỉ học lực
trung bình, khi ngoài 40; 50 tuổi muốn giữ vị trí của mình hay thăng tiến chỉ cần
học hàm thụ một vài năm là có một bằng đại học, bằng thạc sĩ hay cao hơn. Liệu
những ngời có những tấm bằng dễ dàng nh vậy còn tôn trọng và thúc đẩy phát triển
nhân lực trong nớc hay không? Để lành mạnh đội ngũ tri thức, các cơ quan chức
năng nên thanh tra, kiểm tra chặt chẽ quá trình đào tạo ở các cấp, bảo đảm chất l-
ợng theo đúng quy trình, quy chế đào tạo.
Tăng cờng đầu t tài chính của nhà nớc, đồng thời tăng trởng quản lý, kiểm tra
tổ chức sử dụng một cách hợp lý. Hội nghị trung ơng lần thứ 2 (khoá VIII) đã định
hớng đầu t cho khoa học và công nghệ tăng dần đến năm 2000 là 2% và đối với
giáo dục đào tạo là 15% trong tổng chi NSNN là rất đúng đắn, phù hợp với xu thế
phát triển chung của thời đại. Hiện nay, còn có hiện tợng xin và cho môt số đề
tài và dự án, gây tiêu cực và lãng phí tiện của Nhà nớc, của nhân dân, cần chấn
chỉnh sớm để làm lành mạnh hoạt động đầu t nâng cấp cho khoa học và công nghệ
cũng nh giáo dục đào tạo.
Đào tạo bồi dỡng, nâng cao chất lợng nguồn nhân lực từ giai cấp công nhân,
của giáo dục đào tạo: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài, vì giáo
dục đại học là bậc học đào tạo, bồi dỡng thờng xuyên nhân lực ở trình độ cao của
các ngành, đặc biệt là đội ngũ giáo viên của hệ thống giáo dục quốc dân.
Tiếp tục thực hiện chủ trơng đa dạng hoá các loại hình trờng học, đa dạng hoá
các phơng thức đào tạo, cải tiến phơng pháp giảng dạy và học tập, loại bỏ dần ph-
ơng pháp dạy chay. Phải gắn lý luận với thực tiễn, phát huy tính tích cực, chủ động
trong học tập, nghiên cứu thực nghiệm của ngời học dới sự hớng dẫn của ngời dạy.
Nội dung giảng dạy ở cấp đại học phải đảm bảo nguyên tắc kế thừa và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc, hiện đại và phát triển phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.
Xây dựng lại nội dung chơng trình, biên soạn các tài liệu học tập để đạt đến mức
cập nhật với trình độ quốc tế. Nhanh chóng bổ xung sắp xếp lại các trờng đại học
một cách hợp lý, thống nhất hệ thống văn bằng, đẩy mạnh sự liên thông, liên kết
giữa các trờng, các viện nghiên cứu nhằm khai thác sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống các trờng đại học và viện nghiên cứu.
Công tác đào tạo phải bám sát mục tiêu của giáo dục đại học Việt Nam là đào
tạo những con ngời có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có
kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tơng xứng với trình độ đào tạo, có sức
khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào trình
độ đào tạo ở các bậc đại học mà mục tiêu đào tạo đợc nâng dần lên. Mục tiêu đào
tạo ở trình độ cao đẳng là giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực
hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thờng
thuộc chuyên ngành đợc đào tạo. ở trình độ đại học, ngoài những nội dung trong
mục tiêu của trình độ cao đẳng, sinh viên còn phải có khả năng phát hiện, trình
độ thạc sĩ phải nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, trình độ tiến sĩ
phải có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập,
sáng tạo, giải quyết những vấn đề khoa học và công nghệ và hớng dẫn thực hành
chuyên môn. Những mục tiêu giáo dục ấy đòi hỏi nội dung, phơng pháp giáo dục
24
tất yếu phải đổi mới theo hớng tinh gọn, thiết thực, phơng pháp hớng tới phát huy
tính tích cực sáng tạo của sinh viên là chính.
các nớc đó một cách máy móc mà phải chống khuynh hớng thơng mại hoá, phi
chính trị, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục. Tuy nhiên kinh phí
của Nhà nớc ta không thể đủ gánh vác chi phí đào tạo khi mở rộng quy mô, số lợng
trờng đại học và tỉ lệ sinh viên trên vạn dân tăng lên. Giải pháp để phát triển giáo
dục đại học là tăng thêm đóng góp của sinh viên trong các trờng công lập và mở
thêm một số trờng dân lập, vì các trờng dân lập có cơ chế mềm dẻo, dễ thích nghi
hơn. Mặc dù giải pháp này sẽ tạo ra những khó khăn cho con em những gia đình
nghèo, gia đình chính sách, nhng Nhà nớc sẽ có chính sách trợ giúp về tài chính
một cách thích hợp nh: Chính sách cấp học bổng, giảm học phí, cho vay tạo điều
kiện cho con em nhà nghèo học tập và thi tốt nghiệp ra trờng sẽ có cơ hội thu nhập
cao hoàn lại vốn vay. Xây dựng cấp giáo dục đào tạo đại học mang tính hiện đại là
một quá trình vừa hội nhập, liên kết, vừa kế thừa và hiện đại hoá nội dung và phơng
25