Đánh giá và dự báo ảnh hưởng của luật thuế bảo vệ môi trường tới sự phát triển năng lượng tái tạo ở việt nam - Pdf 10

Đánh giá và dự báo ảnh hưởng của Luật thuế
bảo vệ môi trường tới sự phát triển năng lượng
tái tạo ở Việt Nam

La Thị Cẩm Vân

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hoàng Liên
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Tổng quan về các vấn đề liên quan đến khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa
thạch cũng như kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường. Giới
thiệu về Luật thuế bảo vệ môi trường. Nghiên cứu tác động của luật thuế bảo vệ môi
trường đến các dạng năng lượng, từ đó dự báo dự báo ảnh hưởng của luật tới năng
lượng tái tạo. Đưa ra kết quả nghiên cứu và thảo luận. Đề xuất giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường trong phát triển năng lượng tái tạo ở
Việt Nam.

Keywords: Khoa học môi trường; Bảo vệ môi trường; Luật thuế; Năng lượng tái tạo;
Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn, đối mặt với
việc nguồn nguyên liệu hóa thạch, những nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt,
chính phủ và các ngành chức năng đã đưa ra nhiều biện pháp như tìm các nguồn năng lượng
mới, tiết kiệm năng lượng Đặc biệt là việc ban hành các quy định, các văn bản pháp luật
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý việc khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch
một cách bền vững.
Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông

nhằm nâng cao hiệu quả của Luật thuế bảo vệ môi trường.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Các tài liệu, số liệu, nguồn thông tin được sử dụng trong luận văn được thu thập từ
nhiều nguồn khác nhau như sách báo, tạp chí, internet… các số liệu rõ ràng và đã được công
bố.
2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu, thông tin sau khi thu thập sẽ được phân tích, đánh giá và tổng hợp phục vụ
mục đích nghiên cứu của luận văn.
2.3.3. Phương pháp chuyên gia

3
Bản chất của phương pháp chuyên gia là lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia để làm
kết quả dự báo. Phương pháp này sẽ chính xác hơn nếu sử dụng nhiều chuyên gia và tổng hợp
các ý kiến chuyên gia theo phương pháp toán học. Đây là phương pháp tương đối dễ thực
hiện. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là kết quả dự báo phụ thuộc rất nhiều vào
trình độ và ý kiến chủ quan của chuyên gia được hỏi. Việc tuyển chọn và đánh giá khả năng
của các chuyên gia cũng khá khó khăn. Tuy nhiên phương pháp này giúp bổ sung những
thông tin còn thiếu hoặc không thu thập được từ các phương pháp khác.
2.3.4. Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra xã hội học là phương pháp thu thập thông tin về các hiện tượng, quá trình kinh
tế xã hội trong thời gian và địa điểm cụ thể nhằm phân tích và đưa ra những kiến nghị đúng
dắn với công tác quản lý. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả đã sử dụng
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (xem phụ lục). Để đảm bảo tính đại diện và khách quan,
tác giả đã tiến hành điều tra ở nhiều tỉnh thành khác nhau (Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Hà Nội, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Nam…), nhiều nhóm điều tra khác nhau bao
gồm các doanh nghiệp, công chức nhà nước, người dân thành thị, nông thôn, sinh viên. Đề tài
đã tiến hành điều tra 130 phiếu phỏng vấn tới nhóm đối tượng trên, trong đó các doanh nghiệp
chiếm 30%.
2.3.5. Phương pháp RIA (đánh giá tác động pháp luật)

Theo điều tra có 32,3% ý kiến cho rằng với mức thuế suất đối với than từ 10.000 đến
50.000đ/ tấn là cao vì than đã chịu rất nhiều thuế và phí khác nhau như thuế tài nguyên, phí
bảo vệ môi trường do khai thác khoáng sản, thuế giá trị gia tăng, phí khí thải, nếu thêm cả
thuế bảo vệ môi trường nữa thì quá nhiều, như vậy sẽ khiến giá cả tăng cao vì than là nguyên
liệu đầu của các ngành sản suất. Trong khi 34,6% ý kiến lại cho rằng mức thuế với than như
vậy là quá thấp, vì than là sản phẩm gây ô nhiễm nặng nề, cần có một biện pháp mạnh để hạn
chế sử dụng sản phẩm này.
Tương tự đối với xăng dầu và khí đốt, nhìn chung phản ánh của người dân với Luật
thuế bảo vệ môi trường có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau.Với mặt hàng xăng có đến 85/130
phiếu chiếm 65,4% cho rằng mức thuế như vậy là cao, có 31/130 chiếm 23,8% cho rằng như
vậy là hợp lý, chỉ có 10,7% cho rằng mức thuế như vậy là thấp. Hình 3.2 dưới đây tổng hợp ý
kiến của người dân từ các phiếu điều tra về mức thuế đối với các mặt hàng xăng, dầu và than.
85
52
42
14
20
45
31
58
43
0
10
20
30
40
50
60
70
80

rằng ít ô nhiễm, không ai cho rằng sử dụng năng lượng hóa thạch không gây ô nhiễm. Đối với
năng lượng tái tạo đa phần người dân nhận xét rằng không gây tác động tới môi trường
(43,4%), nếu tác động đến môi trường cũng chỉ ít ảnh hưởng (43,8%).
118
10
2
0
0
20
40
60
80
100
120
140
Rất ô nhiễm Bình thường ít ô nhiễm không ô nhiễm
Mức độ
Số lƣợng phiếu

Hình 3.3: Tổng hợp ý kiến về mức độ ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu hóa thạch
3.3.3. Tác động về xã hội

6
Luật thuế bảo vệ môi trường ra đời nhằm góp phần thay đổi thói quen, ý thức bảo vệ môi
trường của người tiêu dùng. Thứ nhất sẽ hình thành thói quen tiết kiệm nhiên liệu. Thứ hai sẽ
hướng người tiêu dùng tới các sản phẩm thân thiện với môi trường và chi phí rẻ hơn. Khi
được hỏi rằng Luật thuế bảo vệ môi trường sẽ ảnh hưởng đến ai nhiều nhất đa phần người dân
đều trả lời ảnh hưởng đến người tiêu dùng (chiếm 44,6%). 35% người dân cho rằng ảnh
hưởng tới nhà sản xuất, một số cho rằng không biết ai là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất
Sản xuất

mang tính chất cưỡng bức như một công cụ sắc bén buộc mọi người, mọi tổ chức phải đi vào
khuôn phép, có nghĩa vụ bảo vệ môi trường sống của mình.

7
Với vai trò điều tiết bằng mức thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường, Luật
thuế bảo vệ môi trường hướng nhà sản xuất, người tiêu dùng, các cá nhân, tổ chức phải đi theo
mục tiêu bảo vệ môi trường. Luật thuế bảo vệ môi trường buộc người sản xuất và tiêu dùng đi
theo hướng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường, thúc đẩy phát triển
năng lượng sạch, đánh dấu một bước ngoặt mới cho phát triển năng lượng tái tạo.
3.4. Đánh giá, dự báo ảnh hƣởng của Luật thuế bảo vệ môi trƣờng tới việc phát triển
năng lƣợng tái tạo ở Việt Nam
Như vậy có thể thấy khi áp dụng Luật thuế bảo vệ môi trường mà giá năng lượng hóa thạch
tăng đa phần sẽ có tác dụng khiến người dân tiết kiệm năng lượng hóa thạch và chuyển một phần
sang sử dụng năng lượng tái tạo, thậm chí 30% sẵn sàng sử dụng năng lượng tái tạo dù giá cao
hơn nhưng thân thiện hơn với môi trường.
Luật thuế bảo vệ môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến khai thác và sử dụng năng lượng
hóa thạch, đồng nghĩa với việc ảnh hưởng gián tiếp tới phát triển năng lượng tái tạo thông qua
việc chuyển hướng khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng mới thay cho nguồn nguyên
liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt và gây ô nhiễm môi trường.
Chính vì quan niệm năng lượng tái tạo đắt cho nên mặc dù có xu hướng chuyển đổi
sang năng lượng tái tạo song theo điều tra, xu hướng của người dân là chuyển dần dần, một
mặt vẫn sử dụng năng lượng hóa thạch, chuyển một phần sang sử dụng năng lượng tái tạo.
Đối với năng lượng tái tạo, đa phần người dân cho rằng không hoặc ít ảnh hưởng tới môi
trường, điều này thể hiện rõ trong hình 3.9 dưới đây. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến
người dân chấp nhận dần chuyển sang sử dụng dạng năng lượng này thay cho năng lượng hóa
thạch.

Hình 3.9: Mức độ ảnh hƣởng của năng lƣợng tái tạo tới môi trƣờng
Thuế bảo vệ môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu của sản xuất và
tiêu dùng năng lượng. Cụ thể là chuyển dịch dần sang hướng sử dụng một phần năng lượng

vệ môi trường.
- Về mặt xã hội thuế bảo vệ môi trường có tác động thay đổi thói quen, ý thức của
người tiêu dùng trong việc sử dụng năng lượng, góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên,
khuyến khích việc phát triển năng lượng tái tạo.
- Tuy nhiên qua việc phỏng vấn, lấy ý kiến của người dân, những người chịu ảnh
hưởng của Luật thuế bảo vệ môi trường, đa phần cho rằng mức thuế với xăng còn quá cao. Đa
số ý kiến cho rằng giữ mức thu 1000đ bằng với mức thu phí xăng là hợp lý tại thời điểm này.

9
Nếu tăng mức thuế với xăng cao hơn sẽ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến nhiều
ngành sản xuất, làm tăng giá cả thị trường.
- Riêng mức thuế với than nhiều người cho rằng mức tối thiểu 10.000đ/1 tấn vẫn thấp.
Tuy mức 10.000đ/1 tấn đã tăng hơn 4000đ/1 tấn so với dự thảo ban đầu nhưng than là sản
phẩm khi khai thác cũng như sử dụng ảnh hưởng lớn tới môi trường vì vậy cần tăng mức thuế
tối thiểu với than.
- Luật thuế bảo vệ môi trường được đánh giá là ảnh hưởng tích cực tới phát triển năng
lượng tái tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam vẫn gặp nhiều
rào cản về công nghệ, kỹ thuật đến tài chính, công tác quản lý.
Vì vậy để góp phần phát triển năng lượng tái tạo cần có sự quan tâm hỗ trợ từ chính
phủ, cần có một cơ chế chính sách đầy đủ cho phát triển năng lượng tái tạo, ngoài ra cũng cần
có sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như cần một hệ thống giám sát
các dự án phát triển năng lượng tái tạo sao cho đạt hiệu quả nhất.
Kiến nghị
Lợi thế của năng lượng hóa thạch hiện nay so với năng lượng tái tạo là rẻ và sẵn có.
Luật thuế bảo vệ môi trường đã hạn chế "tính rẻ" của năng lượng hóa thạch, vậy muốn phát
triển năng lượng tái tạo cần tăng tính "sẵn có" để năng lượng tái tạo ngày càng phát triển
hơn nữa. Để làm được điều đó cần thực hiện một số biện pháp sau:
1. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích đối với các dự án phát triển năng
lượng tái tạo. Ví dụ: ưu tiên đầu tư, khuyến khích về thuế
2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen sử

8. Hồ Sỹ Giao (2006), Ngành khai thác than lộ thiên của Việt Nam- phát triển và thách thức,
Tạp chí công nghệ mỏ, số 1, 2006 tr10
9. Lưu Đức Hải (2002), Cơ sở khoa học môi trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. Hội thảo khoa học “3
rd
Workshop of ODA UNESCO proiect for Promotion of Energy for
Sustainable Developmet in Aisa (Viet Nam)”, ngày 25/11/2011, Hà Nội.
11. Lê Chí Hiệp (2004), Máy lạnh hấp thụ trong kỹ thuật điều hòa không khí , NXB Đại Học
Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh.
12. Nguyễn Quang Hinh (2006), "Tổng quan về một số thành tựu của ngành dầu khí Việt
Nam", Tạp chí Công nghệ mỏ, số 1, 2006 tr.6.
13. Nguyễn Quang Khải (2006), Những vấn đề phát triểnnăng lượng sinh khối ở Việt Nam,
Báo cáo tại Hội thảo Phát triển năng lượng bền vững ở Việt Nam. Hà Nội - 14/6/2006.
14. Nguyễn Khánh Linh (2011), Ảnh hưởng của Luật thuế bảo vệ môi trường đếnkhai thác và
sử dụng năng lượng, Luận văn tốt nghiệp ngành môi trường, Đại học Khoa học tự
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
15. Lê Tuấn Phong (2009), Chính sách phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam, Bộ Công
thương, Hà Nội
http://devi-renewable.com/2011/05/04/chinh-sach-phat-trien-nang-luong-tai-tao-
vietnam/(Truy cập ngày 23/10/2011)

11
16. Mạnh Quân (2009), Khai thác than và ô nhiễm môi trường , báo Tài nguyên và ô nhiễm
môi trường, Bộ tài nguyên và môi trường.
(http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=24&ID=67297&Code=SGT
4S67297 ) (Truy cập ngày 10/10/2011)
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010) Luật thuế bảo vệ môi trường,
Hà Nội.
18. Tổng cục thống kê (2010) Niên giám thống kê 2010, Hà Nội.
19. Bùi Cách Tuyến, Mai Thế Toán, (2009), Chuyên đề bảo vệ môi trường trong khai thác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status