Nghiên cứu địa tầng phân tập và triển vọng dầu khí trầm tích cenozoic khu vực nước sâu đông bắc bể nam côn sơn - Pdf 10

Nghiên cứu địa tầng phân tập và triển vọng
dầu khí trầm tích Cenozoic khu vực nƣớc sâu
đông bắc bể Nam Côn Sơn Nguyễn Duy Tuấn Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Thạch học, Khoáng vật học và Địa hóa học
Mã số: 60 44 57
Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. Trần Nghi
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu đặc điểm địa tầng phân tập của các tập trầm tích Cenozoic đã
tìm ra các quy luật mới trong tìm kiếm dầu khí nhƣ các hoạt động tích tụ và bị phá
hủy, mất đi do các quá trình biến dạng của kiến tạo nhƣ đứt gãy, núi lửa, nâng trồi
móng. Nghiên cứu địa tầng phân tập khu vực nƣớc sâu Đông Bắc bể Nam Côn Sơn
góp phần làm sáng tỏ bối cảnh kiến tạo và vị trí bể trầm tích nguyên thủy đƣợc hình
thành trên một vỏ lục địa. Lịch sử tiến hóa trầm tích gắn liền với quá trình lún chìm
nhiệt của các bể thứ cấp và toàn bộ bể Nam Côn Sơn bị nhấm chìm xuống vị trí
nƣớc sâu nhƣ ngày nay. Luận văn đã nêu ra những quy luật quan trọng nhất của địa
tầng phân tập có liên quan đến các yếu tố kiến tạo và chuyển động dâng hạ của mực
nƣớc biển.

Keywords. Địa chất; Địa tầng; Dầu khí; Trầm tích Content
LỜI MỞ ĐẦU

Chƣơng 2. Đặc điểm địa chất khu vực.
Chƣơng 3. Đặc điểm tƣớng đá- cổ địa lý
Chƣơng 4. Đặc điểm địa tầng phân tập
Chƣơng 5. Triển vọng dầu khí

CHƢƠNG I. LỊCH SỬ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1975
Từ năm 1975 trở về trƣớc, công tác khảo sát khu vực và tìm kiếm dầu khí đƣợc nhiều
công ty, nhà thầu triển khai trên toàn thềm lục địa phía Nam nói chung và toàn bể Nam Côn
Sơn nói riêng. Các dạng công tác này do các công ty thăm dò Mỹ và Anh thực hiện nhƣ
Mandrell, Mobil Kaiyo, Pecten, Esso, Union Texas, Sun Marathon, Sunning Dale. Các nhà
thầu đã thu nổ hàng nghìn km địa chấn 2D với mạng lƣới tuyến 4x4 km và 8x8km.
1.1.2. Giai đoạn 1976-1980
Sau khi giải phóng miền Nam nƣớc nhà thống nhất, Tổng cục Dầu khí đã quyết định
thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam (11-1975), công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí
đƣợc đẩy mạnh. Các công ty AGIP và BOW VALLEY đã hợp đồng khảo sát tỉ mỉ (14.859km
địa chấn 2D mạng lƣới đến 2x2km) và khoan thêm 8 giếng khoan (04A-1X, 04B-1X, 12A-
1X, 12B-1X, 12C-1X, 28A-1X và 29A-1X).
1.2.3. Giai đoạn từ 1981-1987
Sự ra đời của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro (VSP) là kết quả của hiệp định về
hữu nghị hợp tác tìm kiếm – thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam giữa Liên Xô
(cũ) và Việt Nam vào năm 1981 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong công nghiệp dầu
khí Việt Nam.
1.2.4. Giai đoạn từ năm 1988 đến nay
Sau khi Nhà nƣớc ban hành Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài, 20 nhà thầu đã ký các hợp đồng
triển khai công tác tìm kiếm thăm dò ở bể Nam Côn Sơn. Các nhà thầu đã tiến hành khảo sát
54.779km địa chấn 2D và 5.399km2 địa chấn 3D, đã khoan 62 giếng khoan thăm dò và khai
thác. Mỏ Đại Hùng đã đƣợc đƣa vào khai tác từ năm 1994, mỏ khí Lan Tây vào năm 2002 và
các mỏ khí Rồng Đôi – Rồng Đôi Tây, Hải Thạch cũng chuẩn bị đƣa vào khai thác.

+ Bào mòn cắt xén: xảy ra ở ranh giới trên của một tập trầm tích do bào mòn hoặc do hoạt
động kiến tạo sau trầm tích.
+ Chống nóc (toplap): thƣờng xảy ra ở đầu nguồn vật liệu. Trầm tích thô, tích tụ gần bờ,
tƣớng châu thổ, thềm lục địa.
1.1.2. Phương pháp phục hồi mặt cắt địa chất
a. Xử lý đứt gãy thuận
Gọi A
1
là kích thƣớc của mặt cắt chƣa biến dạng
A
2
là kích thƣớc của mặt cắt hiện tại
A là khoảng cách dịch chuyển của 1 đứt gãy thuận
n là số đứt gãy thuận
Ta có công thức tổng quát nhƣ sau:
A
1
= A
2
-


n
i
iA
1
1
(1)
b. Xử lý đứt gãy nghịch
Gọi B

C là chiều dài bị co lại của 1 nếp uốn
K là số nếp uốn
Vậy công thức tổng quát là:
C
1
= C
2
+


k
i
Ci
1
(3).
1.1.3. Phương pháp phân tích địa tầng phân tập
Địa tầng phân tập là một khái niệm để chỉ những mặt cắt địa tầng của các bể trầm tích trong
đó ranh giới các phân vị địa tầng đƣợc xác định dựa vào ranh giới các chu kỳ thay đổi mực
nƣớc biển toàn cầu và sự sắp xếp có quy luật của các đơn vị trầm tích theo không gian và
theo thời gian.
Phân loại đơn vị địa tầng phân tập
- Phức tập (Sequences):Một đơn vị cơ bản của địa tầng phân tập là một phức tập (Sequence).
Một Sequences bao gồm các “Miền hệ thống trầm tích”. Một Sequences có thể bao gồm 3
miền hệ thống trầm tích là hệ thống trầm tích biển thoái (lowstand Systems tracts), hệ thống
trầm tích biển tiến (transgressive Systems tracts) và hệ thống trầm tích biển cao (highstand
Systems tracts). Một phức tập (Sequence) là một chu kỳ trầm tích đƣợc giới hạn bởi ranh
giới bề mặt bào mòn biển thấp thứ nhất đến ranh giới bề mặt bào mòn biển thấp thứ 2 tƣơng
ứng vói một chu kỳ thay đổi mực nƣớc biển chân tĩnh.
- Nhóm phân tập (Parasequences set): Nhóm phân tập là tập hợp của một hai hay nhiều phân
tập tạo nên một tổ hợp cộng sinh các đơn vị trầm tích và đƣợc giới hạn với nhau bởi bề mặt

thống trầm tích biển tiến đối với trầm tích aluvi, một nhịp của trầm tích aluvi từ lòng sông
đến bãi bồi tuy đƣợc thành tạo trong pha biển thoái song vẫn biến thiên độ hạt từ thô đến mịn.

CHƢƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC
2.1. ĐỊA TẦNG
2.1.1. Các thành tạo trước Cenozoic
Một số giếng khoan (ĐH-1X, 04-A-1X, 04-2-BC-1X, 04-3-ĐB-1X, 10-PM-1X, Hong-1X,
12-Dừa-1X, 12-C-1X, 20-PH-1X, 28-A-1X, 29-A-1X ) ở bể Nam Côn Sơn gặp đá móng
không đồng nhất bao gồm: granit, granodiorit, diorit và đá biến chất, tuổi của các thành
tạo này có thể là Jura muộn – Creta.
Nằm không chỉnh hợp trên móng không đồng nhất là lớp phủ trầm tích Paleogen – Đệ Tứ có
chiều dày biến đổi từ hàng trăm đến hàng nghìn mét.

Hình 2.1: Cột địa tầng bể Nam Côn Sơn
2.1.2. Các thành tạo Cenozoic
Paleogen
+ Hệ tầng Cau (E
3
c)
Hệ tầng Cau vắng mặt trên phần lớn các đới nâng: Nâng Mãng Cầu, nâng Dừa, phần Tây lô
04, phần lớn lô 10, 11-1, 28, 29 và một số diện tích ở phần Tây, Tây Nam của bể. Trầm tích
của hệ tầng Cau bao gồm chủ yếu các lớp cát kết có màu xanh xen các lớp sét bột kết màu
nâu. Cát kết thạch anh hạt thô đến mịn, độ lựa chọn kém, xi măng sét, carbonat. Chiều dày
trung bình khoảng 360m.
Neogen
+ Hệ tầng Dừa (N
1
1
d)
Hệ tầng Dừa phân bố rộng rãi trong bể Nam Côn Sơn bao gồm chủ yế cát kết, bột kết màu

Đông liên quan đến đợt biển tiến Pliocen. Trầm tích Pliocen gồm cát kết màu xám, vàng nhạt
và bột kết xen lẫn với sét kết nhiều vôi chứa nhiều glauconit và rất nhiều hóa thạch trùng lỗ,
gắn kết yếu hoặc bở rời. Tuổi Pliocen đƣợc xác định dựa vào Foram đới N19 – N21, tảo
carbonat đới NN12 – NN18 và bào tử phấn hoa đới Dacrydium hệ tầng tƣơng đƣơng với tầng
Muda của Agip (1980). Hệ tầng Biển Đông có bề dày trầm tích thay đổi từ vài trăm mét đến
vài nghìn mét, nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Nam Côn Sơn.
2.2. CẤU TRÚC, KIẾN TẠO
2.2.1. Phân tầng cấu trúc theo không gian
Dựa vào các đặc điểm nhƣ chiều dày trầm tích Cenozoic, thành phần vật chất các đá trầm
tích đƣợc cấu thành, đặc điểm cấu trúc riêng biệt của của các vùng khác nhau, cũng nhƣ các
hệ thống đứt gãy .v.v thì cấu trúc của bể Nam Côn Sơn có thể đƣợc phân chia ra các bậc cấu
trúc cao hơn nhƣ bậc II, bậc III.
a. Đới phân dị phía Tây
Đới nằm ở phía Tây bể trên các lô 27, 28, 29 và nửa phần Tây các lô 19, 20, 21, 22. Ranh
giới phía Đông của đới đƣợc lấy theo hệ đứt gãy Sông Đồng Nai. Đặc trƣng cấu trúc của
đới là sự sụt nghiêng khu vực về phía Đông theo kiểu xếp chồng do kết quả hoạt động đứt
gãy – khối chủ yếu theo hƣớng bắc-năm, tạo thành các trũng hẹp sâu ở cánh Tây của các
đứt gãy, đặc biệt là đứt gãy lớn đi kèm các dải nâng . Dựa vào đặc điểm cấu trúc của
móng, đới phân dị phía Tây đƣợc phân thành 2 đơn vị (phụ đới) có đặc trƣng cấu trúc
tƣơng đối khác nhau, ranh giới phân chia là đứt gãy Sông Hậu.
b. Đới phân dị chuyển tiếp
Đới này có ranh giới phía Tây là đứt gãy Sông Đồng Nai, phía Đông và Đông Bắc là hệ đứt
gãy Hồng – Tây Mãng Cầu. Ranh giới phía Bắc Tây Bắc đƣợc lấy theo đƣờng đẳng sâu móng
1.000m của đới nâng Côn Sơn. Ranh giới phía Nam là khối móng nhô cao (phần cuối của đới
nâng Natuna) với độ sâu 1.000  1.500m. Đới mang đặc tính cấu trúc chuyển tiếp từ đới phân
dị phía Tây kéo sang phía Đông và từ đới nâng Côn Sơn kéo xuống phía Nam. Đới bị chia cắt
bởi các hệ đứt gãy phƣơng bắc – nam, đông bắc – tây nam và đông – tây.
c. Đới sụt phía Đông
Gồm diện tích rộng lớn ở trung tâm và phần Đông bể Nam Côn Sơn, với đặc tính kiến tạo sụt
lún, đứt gãy hoạt động nhiều pha chiếm ƣu thế. Địa hình móng phân dị mạnh với chiều sâu

+Càng về phía Đông của khu vực nghiên cứu thì càng thấy rõ dấu hiệu phản ánh tƣớng biển
nông bao gồm: trầm tích hạt mịn, đá vôi phát triển rất mạnh, trƣờng sóng thể hiện phân lớp
ngang song song, liên tục.
-Chuyển tƣớng theo thời gian:
+ Việc phân tích đặc điểm cộng sinh tƣớng theo không gian thực chất đã bao hàm cả phân
tích tƣớng theo thời gian.
+ Do đặc điểm kiến tạo theo kiểu dao động mà các chu kỳ trầm tích ngoài các hệ thống trầm
tích biển thoái, biển tiến lớn theo khu vực, còn có các hệ thống trầm tích biển thoái, tiến xen
kẹp nhau tạo thành các chu kì trầm tích địa phƣơng.
3.2. PHÂN TÍCH TƢỚNG ĐÁ- CỔ ĐỊA LÝ
Bản đồ tƣớng đá- cổ địa lý là loại bản đồ tổng hợp những đặc điểm tƣớng và cổ địa lý của
một bể trầm tích và trên một lãnh thổ rộng lớn gồm những đặc điểm sau:
- Đặc điểm vùng xâm thực, ranh giới vùng xâm thực và vùng lắng đọng trầm tích.
- Quy mô phân bố các bể trầm tích và những đặc điểm tƣớng đá và tổ hợp cộng sinh tƣớng
theo thời gian và không gian.
- Hƣớng vận chuyển của vật liệu trầm tích từ vùng xâm thực đến bể trầm tích và các dòng bồi
tích trong bể nƣớc.
3.2.1. Đặc điểm tướng đá cổ địa lý giai đoạn đồng tạo Rift
Trong khu vực nghiên cứu, thời kỳ đồng tạo Rift diễn ra trong giai đoạn Oligocen ở pha 1 và
từ Miocen dƣới đến cuối Miocen giữa ở pha 2.
Thời kỳ Oligocen xảy ra rất nhiều các biến động lớn về mặt kiến tạo địa chất, là thời kỳ tạo
bể khiến cho các tập trầm tích đƣợc tích đọng rất dày ở vùng trũng. Nhƣng nguồn cung cấp
vật liệu cũng lại đƣợc lấy từ các khối nâng lớn nhƣ khối nâng Côn Sơn, khối nâng Đại Hùng
là những khối nâng nâng rất mạnh và liên tục trong giai đoạn này. Điều đó giải thích sự vắng
mặt trầm tích Oligocen ở hầu hết diện tích trên khối nâng. Các trầm tích Oligocen bị bào mòn
trên các khối nâng và bị vận chuyển xuống các vùng trũng hơn đã tạo nên một bình đồ thay
đổi tƣớng rất mạnh, nhanh và phức tạp.
Nhìn chung, các miền xâm thực với diện tích khổng lồ trong giai đoạn Oligocen đã tạo nên
rất nhiều các dòng cung cấp vật liệu trầm tích, với các hƣớng chủ đạo là từ Tây sang Đông
nhƣ hình trên. Các vật liệu trầm tích đƣợc các con sông bào mòn, mang đi, lắng đọng tại các

nhƣ sau:
- Tầng màu đỏ- Nóc móng trƣớc Cenozoic:
Nóc móng trƣớc Cenozoic đƣợc xác định và nhận dạng dễ dàng trên mặt cắt địa chấn. Với
đặc điểm phản xạ có biên độ từ trung bình đến mạnh, hỗn độn và không liên tục, tần số từ
thấp đến trung bình.
- Tầng màu xanh đậm- Nóc Oligocen
Tầng này có phản xạ á song song, độ liên tục trung bình đến tốt, biên độ phản xạ mạnh và tần
số thấp thể hiện môi trƣờng tƣớng aluvi đến châu thổ. Ở một số nơi phản xạ địa chấn có biên
độ rất yếu, không liên tục có thể là do trong quá trình thu nổ hầu hết năng lƣợng sóng đã bị
hấp thụ bởi tầng Cacbonat phía trên.

- Tầng màu xanh nhạt- Nóc Miocen dƣới
Môi trƣờng trầm tích chủ yếu của Miocen dƣới khu vực nghiên cứu là biển nông, phát triển
mạnh tƣớng cacbonat do vậy mà trên mặt cắt địa chấn đã xác định đƣợc rất nhiều các phản xạ
có biên độ mạnh, liên tục, phân lớp từ thấp đến trung bình thể hiện các khối ám tiêu san hô
phát triển trên các khối nâng.
- Tầng màu xanh lá cây- Nóc Miocen giữa
Đặc điểm của tầng này có xu hƣớng chỉnh hợp lên tầng Miocen dƣới, đặc điểm địa chất cũng
không có sự thay đổi đáng kể về mặt môi trƣờng thành tạo hay các pha hoạt động đứt gãy nên
không có sự khác biệt rõ rệt để có thể phân chia tầng này với tầng Miocen dƣới một cách
chính xác.
- Tầng màu vàng- Nóc Miocen trên
Ở khu vực nƣớc sâu từ 100 đến 250 m nƣớc, đặc điểm phản xạ địa chấn của tầng trên chủ yếu
là phân lớp ngang song song, song song lƣợn sóng, biên độ phản xạ từ yếu đến trung bình, độ
liên tục tốt, tần số từ trung bình đến cao phản ánh môi trƣờng biển nông.
- Tầng Pliocen- Đệ tứ
Đặc điểm phản xạ địa chấn ở phần bên trái của hệ thống đứt gãy á kinh tuyến giống với tầng
Miocen trên với biên độ phản xạ từ trung bình đến mạnh, có sự xuất hiện của các cấu tạo nêm
lấn nhƣng với mật độ và cƣờng độ ít hơn, thay vào đó là các tập có phản xạ ngang song song,
độ liên tục cao, tần số lớn thể hiện môi trƣờng thành tạo là châu thổ cho đến biển nông.

4.3.6. Hoạt động biến dạng do trượt bằng
Các đứt gãy trƣợt bằng tạo ra một sự thay đổi vô cùng lớn đến các quy luật phân bố trầm tích
trên mặt cắt địa chấn. Với những biểu hiện đặc biệt thể hiện qua sự khác nhau hoàn toàn về
đặc điểm phản xạ địa chấn, tƣớng trầm tích, bề dày trầm tích của cánh phía bên trái và bên
phải đứt gãy. Việc xác định đƣợc các biến dạng do trƣợt bằng cần đƣợc thực hiện trên 2 hoặc
nhiều mặt cắt để xác định đó là đứt gãy trƣợt bằng trái hay phải.
4.4. PHÂN TÍCH ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP TRÊN MẶT CẮT ĐỊA CHẤN DỰA
TRÊN TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NGUỒN GỐC VÀ BIẾN DẠNG
4.4.1. Phân tích mặt cắt địa tầng phân tập trong bối cảnh địa chất ít hoạt động kiến
tạo
Tại mặt cắt trên, các tập trầm tích đƣợc thành tạo trong Pliocen- Đệ Tứ có quy luật phân bố
rất trật tự theo chu kỳ xen kẽ với tập trầm tích biển thấp ở dƣới cùng, tiếp đến là các tập trầm
tích biển tiến và cuối cùng là trầm tích biển cao để hoàn thiện một phức tập.
4.4.2. Phân tích mặt cắt địa tầng phân tập trong bối cảnh địa chất chịu biến dạng
của nhiều pha hoạt động kiến tạo
Mặt cắt trên cho thấy các dấu hiệu để phân chia đƣợc các ranh giới miền hệ thống trầm tích
các trầm tích cổ nhƣ Oligocen dƣới, Oligocen trên cũng nhƣ Miocen dƣới, giữa vô cùng khó
khăn do khu vực nghiên cứu chịu quá trình phát triển các đứt gãy đồng tạo Rift trong suốt
Oligocen và Miocen dƣới, sau đó lại bị oằn võng, phá hủy vào Miocen giữa, trên và cuối
cùng là pha sụt lún nhiệt làm toàn bộ các cấu tạo trên bị sụt lún mạnh.
Các đứt gãy ở mặt cắt trên phát triển từ cuối Miocen giữa đến đầu Miocen trên đã phá hủy hết
các cấu trúc trầm tích trƣớc đó, khiến các tập trầm tích bị oằn võng, bào mòn mạnh tức là mất
đi phần lớn các tập trầm tích thuộc hệ thống trầm tích biển tiến, cao của Miocen giữa tại nóc
khối nâng. Sự biến mất của miền hệ thống trầm tích biển tiến, cao này của Miocen giữa rất
khác so với bản chất chúng không có tập trầm tích trên mà phải dựa vào mặt cắt phục hồi để
đánh giá lại môi trƣờng trầm tích, cơ chế lắng đọng, địa hình cổ của khối nhô trên thì mới có
đƣợc kết luận chính xác vì sao lại mất các miền hệ thống trầm tích biển tiến, biển cao.
4.4.3. Phân tích địa tầng phân tập trong bối cảnh sụt lún và dư thừa vật liệu trầm
tích
Sự sụt lún và dƣ thừa trầm tích tạo ra một loạt các cấu tạo nêm lấn xếp chồng lấn lên nhau,

Bẫy cấu tạo:
Các khối - đứt gãy kiến tạo đặc trƣng cho các hoạt động căng giãn xảy ra từ Paleocen đến
Miocen dƣới, giữa. Các khối đứt gãy nghiêng thƣờng rất phổ biến, chúng khép kín 3 chiều
với đứt gãy hoặc khép kín 2 chiều với 2 đứt gãy.
Các cấu tạo vòm phát triển hoặc do hệ quả của nén ép ngang của các đứt gãy căng giãn hoặc
do sự nghịch đảo của các cấu trúc âm mà không làm biến dạng các đứt gãy. Thông thƣờng
các bẫy này phát triển ở cánh treo của đứt gãy lớn do hệ quả của nén ép ngang và quá trình cố
kết tạo đá. Các bẫy dạng kế thừa địa hình cổ của móng nhô cao, có khép kín 4 chiều hoặc
khép kín nhờ đứt gãy.
Móng nứt nẻ: Dạng bẫy này liên quan đến đỉnh các khối địa luỹ và các khối đứt gãy xoay.
Các bẫy dạng này có thể khép kín 3 chiều nhờ đứt gãy, hoặc khép kín 2 chiều và đứt gãy.
Loại bẫy này rất phổ biến và có triển vọng dầu khí.
Bẫy địa tầng:
Các thể quạt bồi tích - sông: bẫy hình thành do biến đổi tƣớng đá theo bề ngang của các quạt
bồi tích (từ cát kết sang sét bột hoặc sét).
Các quạt ở sƣờn dốc lục địa: bẫy hình thành do biến đổi tƣớng đá theo bề ngang do dốc lục
địa (từ cát kết sang sét bột hoặc sét).
Các vát nhọn địa tầng: Bẫy chứa đƣợc xác định trong khu vực nghiên cứu là các thân cát tuổi
Oligocen, Miocen dƣới, địa hình vát nhọn về phía các cấu trúc nhô cao hơn. Chắn cho các
bẫy dạng này là các tập sét xen kẽ (địa phƣơng).
Các bẫy nằm dƣới bất chỉnh hợp góc do bào mòn: Bẫy dạng này hình thành do sự vát nhọn ,
bào mòn của các tập cát kết bị nâng lên do có thế nằm dốc nghiêng. Tầng chắn cho đối tƣợng
này là các tập sét xen kẹp và các tập sét kết, bột kết phủ trên nó.
Bẫy khối đá vôi: các thể đá vôi khối xây phát triển trên các địa luỹ hoặc trên các cánh cao của
các cấu tạo dạng khối đứt gãy, đƣợc khép kín bởi 2, 4 phía đứt gãy. Tuy nhiên trong khu vực
nghiên cứu cần lƣu ý tới các khối đá vôi phát triển trong Miocen trên là đối tƣợng chứa khá
tiềm năng bởi có tầng chắn Pliocen- Đệ Tứ khá dày ở phần trũng sâu. Ngoài các loại bẫy địa
tầng kể trên thì các thể ám tiêu san hô phát triển ở các rìa thềm đá vôi. Chúng thƣờng có độ
rỗng và độ thấm cao và có thể biến đổi theo chiều ngang bởi các thể bùn vôi tƣớng hồ rắn
chắc, các tập sét tƣớng biển khơi.

giữa)
3. Các hoạt động biến dạng do các yếu tố kiến tạo thể hiện ở chƣơng 4 đã ảnh hƣởng
rất mãnh liệt lên đặc điểm lắng đọng của trầm tích. Các hoạt động biến dạng này lại mang
tính tích dồn ảnh hƣởng, tức là các trầm tích càng cổ và càng chịu nhiều các pha biến dạng
kiến tạo thì càng khó để phân tích địa tầng phân tập. References
1. Đỗ Bạt, Phan Huy Quynh, 1986. Liên hệ địa tầng trầm tích Đệ tam các bể dầu khí Việt
Nam, Lƣu trữ VDK (Đ/c 137).
2. Đỗ Bạt, Phan Huy Quynh, 1993. Địa tầng trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam. Lƣu
trữ VDK.
3. Đỗ Bạt, Phan Huy Quynh. 1996. Báo cáo nghiên cứu địa tầng các giếng khoan miền
trũng Hà Nội, Vịnh bắc Bộ, miền Trung, bể Cửu Long và Nam Côn Sơn. Lƣu VDK.
4. Đỗ Bạt, 2000. Địa tầng và qúa trình phát triển trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam.
Hội nghị KHKT 2000 - ngành Dầu khí trƣớc thềm thế kỷ 21.
5. Nguyễn Thị Dậu và nnk, 2000. Mô hình địa hóa bể Nam Côn Sơn. Lƣu trữ VDK.
6. Trịnh Dánh, 1995. Stratigraphic correlation of Neogen sequence of Vietnam and adjacent
areas. J. Geology, B/5-6, 114-120, Hanoi.
7. Đặng Văn Bát, Cù Minh Hoàng, Nguyễn Thị Anh Thơ, 2007. Địa tầng Paleogene ở bồn
trũng Nam Côn Sơn. Tạp chí Dầu khí.
8. Trần Nghi,2012. Trầm tích học (tái bản lần thứ nhất). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Trần Nghi, 2005. Địa chất biển. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Tạ Trọng Thắng, 2009. Bài giảng Địa chất Dầu khí đại cương.
11. Mai Thanh Tân, 2007. Thăm dò địa chấn trong địa chất dầu khí.
12. David willmore, Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín, 1991. Petroleum Geology and
hydrocarbon Potential of Nam Con Son basin. Lƣu trữ viện dầu khí.
13. Biển Đông-Chuyên khảo tập III. Địa chất-địa vật lý biển. Chƣơng trình điều tra nghiên
cứu biển KHCN-06. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003.
14. Các công trình nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển, tập III. Hà Nội, 1993


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status