Triết lý nhân sinh Nho giáo và ảnh hưởng của
nó đối với lối sống của người Việt Nam Nguyễn Văn Tặng Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS. ngành: Triết học; Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn: PGS.TS. Ngô Ngọc Thắng
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Luận văn hệ thống hoá những triết lý nhân sinh Nho giáo thông qua tư
tưởng Khổng – Mạnh. Phân tích, đánh giá và chứng minh những ảnh hưởng của triết
lý nhân sinh Nho giáo trong lịch sử ở nước ta. Đề xuất một số giải pháp nhằm kế
thừa, phát huy giá trị nhân sinh Nho giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện
nay.
Keywords. Nho giáo; Người Việt Nam; Triết học; Triết lý nhân sinh
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trung Quốc là một nước lớn, có lịch sử văn hóa lâu đời và ảnh hưởng sâu, rộng trên thế
giới. Nền văn hoá Trung Hoa cổ đại là chiếc nôi của nền văn minh phương Đông, nó còn hàm
chứa bao giá trị tinh thần bí ẩn, độc đáo và hữu ích. Những giá trị tiềm tàng ấy đã, đang và sẽ
thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hoá không những ở nước ta mà còn trên
phạm vi cả thế giới. Ngày nay, đã có nhiều cuộc Hội thảo bàn về triết lý nhân sinh Nho giáo
và ảnh hưởng của nó được tổ chức nhiều ở các nước, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Singapo,
Việt Nam Các ấn phẩm về triết lý nhân sinh Nho giáo Trung Hoa cổ đại được dịch và phát
phần triết học phương Đông, cụ thể là những triết lý nhân sinh trong các học thuyết triết học
Trung Hoa cổ đại chưa được hệ thống hoá thành chuyên khảo và nghiên cứu ảnh hưởng của
nó đối với văn hoá nước ta, đặc biệt là đối với lối sống của con người trong thời kỳ hội nhập.
Các phạm trù: trung, hiếu, đức, nhân, tâm, lợi đã xuất hiện khá phổ biến trong cuộc sống
hàng ngày, trên nhiều lĩnh vực nhưng nội hàm những giá trị và sự tiếp biến của nó còn ít
người hiểu một cách tường tận và sâu sắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả nghiên cứu và giảng dạy phần lịch sử phương Đông, đánh giá đúng giá trị tiềm
ẩn trong kho tàng văn hoá truyền thống và để góp phần vào xây dựng lối sống, nếp sống mới
mang đậm đà bản sắc dân tộc. Cho nên, tôi chọn vấn đề triết lý nhân sinh Nho giáo và ảnh
hưởng của nó đối với lối sống của người Việt Nam làm đề tài để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Trung Quốc là quê hương của những tư tưởng đặc sắc, uyên thâm và bí ẩn mà cho đến
nay, nhân loại vẫn đầy ngưỡng mộ và khâm phục. Vì vậy, vấn đề tư tưởng - văn hóa Trung
Hoa cổ đại nói chung, triết lý nhân sinh Nho giáo nói riêng đã thu hút nhiều sự tranh luận,
quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả.
Trên thế giới một số nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng vẫn đạt được một số kết
quả khả quan về ổn định xã hội và phát triển kinh tế do biết phát huy những mặt tích cực của
Nho giáo, từ công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn và phát huy
những truyền thống văn hóa của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào tìm hiểu về Nho
giáo ở Việt Nam, nêu ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội,
giáo dục… Và đặc biệt những vấn đề của Nho giáo được đem ra bàn luận, như: Vì sao Nho
giáo lại có sức sống dai dẳng hàng ngàn năm ở các nước Phương Đông; Nho giáo là học
thuyết chính trị - xã hội hay là học thuyết về đạo đức, nhân sinh; Về trung - hiếu - lễ và ảnh
hưởng của nó đối với lối sống như thế nào… Liên quan đến lĩnh vực này có các công trình
của những tác giả:
Cuốn: Triết lý nhân sinh của Lê Kiến Cầu. Tác giả đã trình bày một cách logic, khoa học,
phân tích khá cụ thể các vấn đề nhân sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau,
như ý nghĩa nhân sinh, vấn đề nhân sinh và nhân sinh quan, qua đó giúp cho độc giả có thể
rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của bản thân một cách hiệu quả. Tuy nhiên, tác
giả đề cập vấn đề nhân sinh qua các câu hỏi nhỏ rồi tự trả lời các câu hỏi đó dưới dạng thảo
mới ở nước ta hiện nay" do Tiến sĩ Vũ Trọng Dung làm chủ nhiệm, trong đó tác giả đã làm rõ
những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và sự tiếp biến tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam. Tác giả
cũng đã chứng minh những nhận định về ảnh hưởng của Nho giáo đối với nước ta trong quá
khứ và hiện tại. Từ đó đưa ra một hệ thống các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận đối
với việc xây dựng con người mới, văn hoá mới trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Luận án tiến sĩ "Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện của nó ở Việt
Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)" của Nguyễn Thanh Bình, trong đó tác giả đã
phân tích Nho giáo với tính cách là học thuyết chính trị xã hội. Các vấn đề được tác giả bàn
đến như: con người, vai trò của con người trong xã hội, xã hội lý tưởng, chuẩn mực đạo đức
dưới góc độ chính trị - xã hội.
Đề tài khoa học cấp Cơ sở (2008): "Vấn đề con người trong các học thuyết Trung Hoa cổ
đại và một số ảnh hưởng của nó trong nền văn hoá Việt Nam" do Tiến sĩ Cung Thị Ngọc làm
chủ nhiệm, trong đó tác giả đã trình bày các tư tưởng về vấn đề con người trong các học
thuyết Trung Hoa cổ đại và đưa ra nhận định để chứng minh sự ảnh hưởng của tư tưởng đó
trong nền văn hoá Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp để kế thừa, phát huy
những giá trị truyền thống trong xã hội ngày nay.
Bài viết "Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị nhân sinh truyền thống Việt
Nam trong cuộc sống xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện
nay" (2008) của Phó Giáo sư, tiến sĩ Lê Bỉnh. Tác giả đã đưa ra một số các giải pháp nhằm kế
thừa và phát huy giá trị nhân sinh truyền thống Việt Nam một cách khái quát trên luận điểm
triết học Mác - Lênin, trong đó có sự kết hợp phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và công bằng
xã hội; chăm lo giáo dục, đạo đức cách mạng, giáo dục thẩm mỹ làm trọng tâm. Đây là những
giải pháp mang tính vĩ mô mà tác giả đề xuất trong bài viết của mình.
Bên cạnh đó cần phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả đánh giá rất cao
vai trò của Nho giáo cổ đại, trong đó đã đề cập ở mức độ khác nhau về triết lý nhân sinh và
ảnh hưởng của nó đến lối sống con người Việt Nam, như: Trần Văn Phòng, Nguyễn Trọng
Chuẩn, Nguyễn Lan Hương, Doãn Chính, Nguyễn Tài Đông, Lê Văn Quán, Nguyễn Bằng
Tường, Nguyễn Hữu Vui, Ngô Ngọc Thắng, Lương Gia Tĩnh, Nguyễn Thị Minh Tâm, Lê Thị
Thuỷ, Vũ Văn Hậu Các công trình nêu trên được tôi kế thừa và sử dụng như là chất liệu, là
những ý kiến gợi mở cho sự nghiên cứu của mình.
đánh giá khách quan những triết lý nhân sinh Nho giáo nguyên thủy.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về triết lý nhân sinh Nho giáo một cách có
hệ thống.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc kế thừa, phát huy những giá trị
nhân sinh Nho giáo vào xây dựng con người, gia đình văn hoá ngày nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy
về môn Lịch sử triết học - phần lịch sử phương Đông.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương,
6 tiết:
Chƣơng 1: Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh Nho giáo.
Chƣơng 2: Ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Nho giáo đối với lối sống của người Việt
Nam.
Chƣơng 3: Giải pháp phát huy những giá trị tốt đẹp của triết lý nhân sinh Nho giáo đối
với lối sống của người Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH NHO GIÁO
1.1. Quá trình hình thành và biến đổi của Nho giáo
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội của thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc
- Về mặt xã hội: Xuân Thu - Chiến Quốc là hai giai đoạn lịch sử của xã hội Đông Chu.
Sau khi Chu Bình Vương lên ngôi do thế và lực không đủ sức chống cự lại sự xâm lược của
giặc ngoại tộc, nên đã dời đô từ Hạo Kinh về Lạc Ấp. Lúc này, nhà Chu không thể giữ được
chế độ cai trị như cũ. Các nước chư hầu không phục tùng vương mệnh, cống nạp mà còn lộng
quyền xưng danh nhà Chu để thôn tính lẫn nhau. Xuân Thu (770 - 403 tr.CN) có hơn một
trăm nước, đến thời Chiến Quốc (403- 221 tr.CN) còn có bảy nước, trong đó Tần là quốc gia
hùng mạnh nhất.
- Về mặt kinh tế: Trong nông nghiệp việc sử dụng công cụ bằng sắt ngày càng rộng rãi;
Quan hệ trao đổi sản phẩm lao động xã hội được lưu thông; tiểu, thủ công nghiệp ngày càng
hội. Hán Dũ kêu gọi các nhân sĩ trở về với tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Tử, đề cao Mạnh
Tử và trở thành ngọn cờ tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong xã hội. Từ thế kỷ XII, đời nhà
Tống, dòng tư tưởng này được các nhà Nho phát triển, nổi bật là hai anh em Trình Hạo (1032
- 1085), Trình Di (1033 - 1107). Nho giáo cho đến thời kỳ này đã trở thành một hệ thống triết
học, chính trị, đạo đức, xã hội hoàn chỉnh.
Dưới triều đại Nguyên Mông thống trị Trung Hoa, Nho giáo vẫn được suy tôn, được thể
hiện ở công việc giảng đạo và thi cử. Đến đời nhà Minh khoảng thế kỷ XVI thì Nho giáo
được phát triển và biến đổi theo hướng duy tâm cực đoan. Đến đời nhà Thanh, xã hội có
nhiều thay đổi, văn hóa Trung Hoa và văn hóa phương Tây có sự giao thoa, nên Nho giáo
không được đề cao trong xã hội.
1.2. Một số nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh Nho giáo
1.2.1. Khái niệm về triết lý
Theo tác giả Nguyễn Tất Thịnh thì triết lý được hiểu: Là những điều được rút tỉa bởi trải
nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm
thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử được phát biểu ngắn gọn, xúc tích - Như một tín điều,
làm kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng
đồng. Triết lý biểu hiện dưới khía cạnh:
- Con người có sự suy tư duy nhất trong mục đích của mình.
- Con người biết suy tư, đó là niềm tự hào của nhân loại.
- Sự bế tắc của con người trong suy tư.
1.2.2. Khái niệm về nhân sinh
Nhân sinh không chỉ bao gồm cuộc sống của con người và sinh mệnh của con người mà
gồm cả nhân tính nữa. Nhân sinh được biểu hiện ở khía cạnh sau:
Thứ nhất, về mặt sinh mệnh của con người. Đó chính là yếu tố cơ bản duy trì sự sinh tồn
của con người.
Thứ hai, cuộc sống của con người. Mục đích của cuộc sống không chỉ là làm tốt cho mình
mà còn làm cho cả nhân loại sống tốt hơn. Cuộc sống ở đây là cuộc sống nội tâm và cuộc
sống ngoại tâm, cũng có thể gọi là đời sống tinh thần và đời sống vật chất.
Thứ ba, phương hướng của con người, hướng về một mục tiêu nhất định.
1.2.3. Về cái sống và cái chết
người sinh ra vốn giống nhau, nhưng do việc học tập và tự rèn luyện khác nhau mà dẫn đến
sự phân biệt người này với người kia. Tuy nhiên, việc học ở đây là cải tạo “cái đạo” của con
người cho hòa thuận với tự nhiên.
Học để làm quan, tham gia gánh vác công việc đại sự của quốc gia, để được thực hành
những cái mà mình đã được học. Đặc biệt đối với người quân tử trước tiên là phải biết tu trí,
tu thân. Không tự tu được thân, không thể giúp được đời, không thể làm tròn bổn phận của
mình với thiên hạ.
Như vậy, theo nghĩa nào đó học ở đây là đến gần với trí, nếu không học và tự học thì dù
có thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, phóng đãng, lầm lạc, cuồng bạo làm biến bản chất
của con người, con người sẽ tự đánh mất mình và trở thành nô lệ của chính mình.
1.2.8. Về giáo dục, phương pháp giáo dục
Giáo dục ở đây theo Nho giáo là giáo dục tâm tính, giáo dục thực hành và giáo dục nhân
cách. Trong đó, giáo dục tâm tính và giáo dục nhân cách có quan hệ gần gũi nhau, chúng đều
thuộc về lĩnh vực giáo dục đạo đức phẩm cách cho dân chúng. Giáo dục điều thiện cho dân
để dân không làm điều ác, không phạm tội. Giáo dục theo phương pháp:
+ Người học phải ham hiểu biết, phải độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình nhận
thức. Người dạy phải dạy phương pháp để người học tự mình tìm đến tri thức, học phải đi đôi
với hành.
+ Học trong sách vở, học thầy, học trong cuộc sống.
+ Học theo phương pháp tiên vương.
Chƣơng 2
ẢNH HƢỞNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH NHO GIÁO
ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA NGƢỜI VIỆT NAM
2.1. Con đƣờng du nhập và sự tiếp biến những giá trị nhân sinh Nho giáo
2.1.1. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo vào Việt Nam bằng những con đường khác nhau: Thông qua con đường của
những đoàn quân xâm lược được trang bị hệ tư tưởng Nho giáo cổ đại; Thông qua con đường
truyền giáo có tổ chức của đội ngũ những quan chức người Trung Quốc được các triều đình
phong kiến Trung Quốc phái sang thực hiện ách thống trị ở Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc;
giành độc lập xây dựng cơ đồ cho muôn đời sau.
2.2.2. Trong quan hệ coi trọng sự ổn định cộng đồng, xã hội
Đối với Việt Nam thì từ thời dựng nước cha ông ta luôn mong ước sự ổn định để phát
triển. Chỉ trên cơ sở ổn định, người Việt mới có điều kiện cố kết với nhau để tạo nên sức
mạnh đoàn kết của cả cộng đồng trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, lũ lụt và chống giặc
ngoại xâm. Hơn nữa, những tư tưởng nhân sinh Nho giáo không những được dùng làm vũ khí
tinh thần để duy trì sự ổn định nơi triều đình mà còn vừa ổn định nơi dân cư tạo nên sự gắn
bó trung thành của tổ chức bộ máy cai trị với triều đình và sự gắn bó của từng cá nhân với
cộng đồng xã hội. Về lối sống thì coi trọng và trọng vọng những quan lại có lối sống, việc
làm có đạo đức, biết đề cao chuẩn mực đạo đức cao hơn chuẩn mực tài năng. Về quan hệ láng
giềng thì các triều đại phong kiến luôn thực hiện chính sách thân thiện, không xâm hại đến
nhau.
2.2.3. Trong quan hệ gia đình, quan hệ xã hội
Người Việt sống hài hòa cho nên trong quan hệ gia đình và xã hội luôn man tính mềm
dẻo linh hoạt thể hiện truyền thống coi trọng tình người, coi trọng quan hệ bình đẳng giữa các
thành viên trong gia đình và ngoài xã hội. Thực tế, người Việt chỉ sử dụng chữ trung trong
những tình cảnh mà tôn vinh cho những ông vua anh minh hết lòng vì dân, vì nước chứ
không dung thứ cho những vị vua thiếu tinh thần yêu nước, yêu dân tộc và không có khả
năng trị vì đất nước. Hiện nay, mối quan hệ cha – con, người Việt cũng không đề cao vị trí,
vai trò của người cha đến thái quá làm cho người cha biến thành gia trưởng mà luôn luôn đặt
vị trí, vai trò công lao của người cha và người mẹ ngang bằng nhau giúp đỡ lẫn nhau.
2.2.4. Trong tư tưởng lấy dân làm gốc
Triết lý coi trọng dân được tiếp biến trong điều kiện, hoàn cảnh của xã hội Việt Nam,
luôn được gắn với truyền thống yêu nước, thương nòi, coi trọng tính cộng đồng và luôn được
các triều đại phong kiến hưng thịnh hết sức quan tâm. Sự quan tâm đó được thể hiện ở mối
quan hệ gắn bó giữa triều đình với nhân dân như cá với nước và sức mạnh của nhân dân luôn
luôn được thể hiện thông qua những cuộc chiến tranh giữ nước, đồng thời sau mỗi thắng lợi
đã giành được, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có chính sách khoan thư sức dân; miễn
thuế cho dân ở những nơi gặp khó khăn trong nhiều năm và tạo điều kiện cho dân phát triển
kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần thông qua khai khẩn đất hoang, mở trường,
CỦA NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Hƣớng tiếp cận kế thừa, phát huy những giá trị triết lý nhân sinh Nho giáo
Thứ nhất, kế thừa có chọn lọc để phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa. Xét về bản
chất, kế thừa có chọn lọc những giá trị nhân sinh Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới đất nước
chính là quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa cái truyền thống và cái hiện đại.
Cái truyền thống nói chung, trong đó có những giá trị nhân sinh Nho giáo, nó đóng vai trò là
hình thức trung gian quan trọng của cái được kế thừa trong đời sống xã hội, là cái chứa đựng
trong bản thân mình những năng lực to lớn để tạo ra cái mới. Trong quá khứ cũng như hiện
tại, những giá trị nhân sinh không chỉ là cái phát sinh, phản ánh những điều kiện kinh tế xã
hội mà nó còn là động lực nội sinh của sự phát triển. Kế thừa có chọn lọc trước hết là để xây
dựng lối sống của con người Việt Nam trong xã hội hiện đại, sau đó là để phục vụ cho định
hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, chúng ta cần phải có quan điểm biện chứng trong việc khai
thác các giá trị nhân sinh Nho giáo.
Thứ hai, kế thừa gắn liền với đổi mới phát triển, phát triển phải dựa trên những chuẩn
mực mới. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kế thừa trong lĩnh vực tự nhiên,
xã hội hay tư duy, bao giờ cũng gắn với những biến đổi về chất, vì nó là mắt khâu trong quá
trình phát triển, thể hiện mối liên hệ tất yếu giữa cái cũ và cái mới. Xã hội chủ nghĩa khác cơ
bản về chất so với xã hội phong kiến. Những giá trị nhân sinh mà có tác dụng thúc đẩy và ảnh
hưởng lớn đến định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó cần phải được xây dựng trên cơ sở chuẩn
mực mới - Tức là xuất phát từ những giá trị có ý nghĩa đối với cá nhân, dân tộc và cả loài
người.
Thứ ba, kế thừa phát triển, tiếp thu tinh hoa giá trị nhân sinh, là sự biểu hiện sâu sắc của
văn hóa, sự phát triển của tư tưởng nhân sinh Việt Nam không nằm ngoài quy luật phát triển
của văn hóa. Chúng ta đang sống trong thời đại của quá trình toàn cầu hóa, có sự tiếp biến về
những giá trị văn hóa nói chung và những giá trị nhân sinh nói riêng là tất yếu. Bao giờ cũng
vậy, sự tiếp biến đó là một quá trình có lọc bỏ và tiếp thu. Đây là vấn đề có tính quy luật. Để
kế thừa và tiếp thu những giá trị nhân sinh Nho giáo một cách hợp lý, chúng ta phải chủ động
xây dựng những chuẩn mực giá trị nhân sinh mới, có tính định hướng đúng trong các chính
sách kinh tế xã hội, tạo ra môi trường văn hóa, lối sống lành mạnh. Đó chính là động lực góp
phần xây dựng lối sống của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là cách thức giáo dục của mỗi gia đình và ý thức của
mỗi cá nhân con người tự giác để góp phần xây dựng lối sống mới của con người Việt Nam. References
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Lịch sử triết học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
2. Đoàn Trung Còn (dịch giả, 1950), Luận ngữ, Nxb. Sài Gòn.
3. Đoàn Trung Còn (dịch giả, 1950), Tứ thơ, Hạ Mạnh Tử, in tại nhà in Tứ Đức Tòng
Thơ, Nxb. Sài Gòn.
4. Đoàn Trung Còn (dịch giả, 1950), Tứ thơ, Thượng Mạnh Tử, in tại nhà in Tứ Đức
Tòng Thơ, Nxb. Sài Gòn.
5. Lê Kiến Cầu (2008), Triết lý nhân sinh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Nguyễn Đình Chú (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh từ truyền thống dân tộc và
nhân loại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Vũ Trọng Dung (2002), Ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta
hiện nay, Đề tài cấp Phân viện, Phân viện Hà Nội.
8. Hồ Ngọc Đại (1991), “Dám hỗn”, Tạp chí Thế giới mới, (6).
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ V BCH Trung ương khoá
VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Nguyễn Hiến Lê - Thiên Giang (1996), Lịch sử thế giới, Nxb. Văn hóa Thông tin.
12. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb.
Thành phố Hồ Chí Minh.
13. Phạm Minh Hạc (1997), “Giáo dục nhân cách - Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo
dục”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (6).
14. Chu Hi (1998), Tứ thư tập chú, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
15. Hồ Sỹ Hiệp (biên soạn, 1996), Luận ngữ thánh kinh của người Trung Hoa, Nxb. Đồng
Nai.
16. Trần Đình Hượu (1994), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb. Văn học, Hà Nội.
Chính trị - Hành chính khu vực I, Hà Nội.
38. Ngữ văn Hán Nôm (2002), Tứ thư, Luận ngữ, quý thị, 10, tập 1, Nxb. Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
39. Đoàn Quang Thọ, Phạm Văn Sinh (1997), Đại cương lịch sử triết học, Nxb. Thống kê,
Hà Nội.
40. Lê Sỹ Thắng (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
41. Lê Sỹ Thắng (1993), Nho giáo ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
42. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, Nxb. Thành phố
Hồ Chí Minh.
43. Nguyễn Tất Thịnh (2010), Triết lý sống,
44. Từ điển (2001), Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, Hà Nội.
45. Nguyễn Trãi (1976), Toàn tập, Thư dụ hàng thành Bình Than, Nxb. Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
46. Nguyễn Trãi (1976), Toàn tập, Bình Ngô đại cáo, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
47. Nguyễn Hữu Vui (1991), Lịch sử triết học, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
48.