phân tích báo cáo TC của CT cổ phần thủy điện nà lơi trong giai đoạn 2006 2011 - Pdf 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT Công ty
DN Doanh nghiệp
NLC Công ty thủy điện Nà Lơi
RHC Công ty thủy điện Ry Ninh II
TCDN Tài chính doanh nghiệp
TT Thị trường
TB Trung bình
LN Lợi nhuận
DT Doanh thu
CP Chi phí
CPBH Chi phí bán hàng
CPQL Chi phí quản lý
CP BH&QL Chi phí bán hàng và quản lý
VCSH Vốn chủ sở hữu
TS Tài sản
TSNH Tài sản ngắn hạn
TSLĐ Tài sản lưu động
TSCĐ Tài sản cố định
HTK Hàng tồn kho
KPT Khoản phải thu
1
TÓM LƯỢC BÁO CÁO
Cơ chế TT với nhiều thành phần kinh tế tự do cạnh tranh, cùng xu hướng hội
nhập, hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng đã đặt các DN trước nhiều khó khăn,
thử thách và quy luật đào thải của TT. Để vượt qua những thách thức này đòi hỏi DN
cần hiểu được tình hình kinh doanh, đặc biệt là tình hình TC của mình để đưa ra
những chiến lược lược phát triển phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Công việc phân tích TC, vì vậy, trở nên hết sức quan trọng không chỉ đối với
bản thân DN mà còn đối với các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp cùng các chủ
thể khác có liên quan để có được một bức tranh xác thực về thực trạng hoạt động của

4. Giới thiệu tổng quát về CT
CT thủy điện Nà Lơi có tiền thân là nhà máy thủy điện Nà Lơi - được khánh thành
năm 2003, là DN nhà nước thuộc tổng CT Sông Đà 11 và được chuyển sang hoạt
động theo mô hình CT cổ phần năm 2003, trụ sở chính của CT đóng trên địa bàn: Km
72 - xã Thanh Minh - thành phố Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên. Nhà máy gồm 3 tổ
máy, công suất 9,3 MW (mỗi tổ máy 3,1 MW), được xây dựng với tổng kinh phí là
179 tỷ đồng, điện lượng hàng năm 46,29 triệu kWh, là công trình thủy điện có công
suất lớn nhất tại Điện Biên được xây dựng trên sông Nậm Rốm. Tính đến nay, CT đã
thực hiện việc niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được
5 năm (ngày giao dịch đầu tiên: 14/12/2006). CT có vốn điều lệ là 50 tỷ đồng và vốn
cổ phần là 5 triệu cổ phần. Lĩnh vực kinh doanh của CT bao gồm đầu tư, quản lý vốn
đầu tư và trực tiếp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực: sản xuất và
kinh doanh điện thương phẩm, thí nghiệm, hiệu chỉnh hệ thống điện, thi công lắp đặt
hệ thống điện, nước, thông tin, sửa chữa thiết bị điện và gia công cơ khí, thi công, xây
lắp đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 110KV, hướng dẫn, đào tạo công nhân
vận hành Nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, đầu tư, xây dựng nhà máy điện vừa và nhỏ,
nhận ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân.
B. PHÂN TÍCH VĨ MÔ
I. Tình hình kinh tế chung:
Giai đoạn 2006 - 2011 là một thời kỳ đầy thử thách đối với kinh tế TG nói chung
và kinh tế VN nói riêng. Năm 2007, VN chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
3
WTO, trong khi đó nền kinh tế TG đang nhen nhóm nguy cơ của cuộc khủng hoảng
tín dụng mà đỉnh điểm là năm 2008. Năm 2011, dù còn tiểm ẩn nhiều nguy cơ đằng
sau cuộc khủng hoảng nợ công trên TG, chịu tác động của tình trạng lạm phát ở mức
cao nhưng nền kinh tế TG đã có những chuyển biến tích cực: tăng trưởng đạt 4%
Nằm trong guồng quay đó, tăng trưởng kinh tế VN năm 2011 đạt 5,89%.
Sự biến động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng trong thời gian qua:
Lạm phát: Lạm phát biến động qua các năm
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011

khoản vay trên 3 tỷ là vay ngoại tệ cho việc đầu tư dự án, vì vậy tỷ giá tăng sẽ làm cho
CT bị thiệt một khoản DT nhất định. Tuy nhiên, tỷ giá áp dụng cho khoản vay chỉ
thay đổi theo tỷ giá mới nếu tỷ giá công bố giữa đồng USD và VNĐ biến đổi qua mức
±5% so với tỷ giá áp dụng cho lần thanh toán gần nhất. Chính vì vậy, tác động tỷ
giá đối với NLC là không lớn. Trong năm 2012, với cơ sở là sự ổn định của tỷ giá
trong thời gian gần đây và không tính tới những yếu tố bất trắc thì tỷ giá được cho là
sẽ biến động trong khoảng 2-3% và không vượt qua ngưỡng 22.000USD/VND. Song
vẫn còn rất nhiều ẩn số từ nền kinh tế TG trong thời kỳ hậu khủng hoảng khó dự đoán
và diễn biến của tỷ giá đối với VN là một bài toán khó trong thời gian tới.
C. PHÂN TÍCH NGÀNH
1. Khái quát ngành điện:
CT cổ phần thủy điện Nà Lơi là một CT hoạt động trong ngành kinh doanh và sản
xuất điện. Do đặc trưng là một ngành có cầu luôn vượt quá mức cung, cung cấp năng
lượng đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất và sinh hoạt và nhận được nhiều sự
hỗ trợ của Nhà nước nên đây được coi là một trong những ngành có tính ổn định, tốc
độ tăng trưởng khá cao và chịu ảnh hưởng ít nhất từ những biến động của TT TC so
với các ngành kinh tế khác ở VN. Về cơ cấu nguồn điện, sản lượng điện được sản xuất
từ các nhà máy thủy điện và nhiệt điện than, dầu, tua bin khí dầu và các nguồn phát
điện độc lập.
Hiện nay, theo quy hoạch VI của Nhà nước cơ cấu sản xuất điện có sự chuyển
dịch rõ rệt theo hướng tăng tỷ trọng của nhiệt điện chạy than, dầu và khí dầu.
5
2. Mô hình Porter’s 5 forces của ngành điện:
a) Áp lực từ phía nhà cung cấp: Đối với các nhà máy nhiệt điện thì đầu vào là
các khoáng sản như than, dầu khí – là những nguồn tài nguyên có hạn và không tái tạo
được. Trước tình hình các nguồn khoáng sản này đang dần trở nên khan hiếm ở nước
ta cũng như giá bán tăng mạnh trong những năm gần đây thì áp lực tăng giá của
những nhà cung cấp đối với các nhà máy này là rất cao. Các ngành than, dầu khí lại có
quy mô lớn, sự tập trung cao và sở hữu các nguồn lực quý hiếm tạo cho họ quyền lực
đàm phán lớn vì khả năng các nhà máy nhiệt điện thay thế những nguyên liệu đầu vào

năng sinh lời cao và số lượng DN trong ngành còn thấp nhưng để có thể kinh doanh
trong ngành này đòi hỏi các DN phải có vốn đầu tư cho xây dựng ban đầu lớn và thời
gian hoàn vốn lâu, vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nguyên liệu đáp ứng được những yêu
cầu cơ bản của ngành. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý cũng được xem là một rào cản
lớn cho việc gia nhập ngành. Vậy nên, áp lực từ phía đối thủ tiềm ẩn đối với các CT
trong ngành là không cao.
e) Áp lực từ sản phẩm thay thế: Xét về mặt sản phẩm cuối cùng thì điện không
có sản phẩm thay thế, nhưng nếu xét trên phương diện là các CT sản xuất và kinh
doanh điện thì các CT trong ngành sẽ đối mặt với các sản phẩm thay thế là các máy
phát điện – dự báo sẽ được phát triển mạnh trong tương lai khi nhu cầu về điện vẫn
không được đáp ứng đủ. Ngoài ra, với chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững, ứng dụng năng lượng tái tạo trong tương lai đã và sẽ được chú trọng phát triển
nhằm từng bước thay thế dần các nguồn năng lượng truyền thống, một số nguồn năng
lượng tái tạo như mặt trời và gió đã được áp dụng tại VN hay điện nguyên tử, mặc dù
còn sơ khai, song áp lực từ sản phẩm thay thế trong tương lai của thủy điện và nhiệt
điện khá cao.
D. PHÂN TÍCH RỦI RO
7
I. Rủi ro hệ thống:
1. Tốc độ tăng trưởng GPP bình quân hằng năm: Theo Tổng cục thống kê, tốc
độ tăng GDP bình quân hằng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt 7%, GDP năm 2011 là
5,89%, tuy có hơi thấp so với giai đoạn 2001 - 2005 (7,51%) nhưng với số liệu này
cũng cho thấy sự phát triển tương đối ổn định của nước ta. Nền kinh tế phát triển thì
nhu cầu sử dụng điện cũng sẽ biến thiên cùng chiều. Như vậy lượng tiêu thụ điện
trong nước cũng tiếp tục tăng trưởng đều đặn.
2. Lạm phát: Mức độ lạm phát của nước ta trong giai đoạn 2006 - 2011 có nhiều
sự chuyển biến, chênh lệch giữa các năm cũng khá rõ rệt như năm 2006 là 6,88%
nhưng năm 2008 lại lên cao 22,97%, năm 2011 là 18,53%. Tuy chênh lệch khá lớn
nhưng vẫn ở mức hai con số, và điều này có thể chấp nhận được với một nước đang
trên đà phát triển như VN. Tuy nhiên do áp lực từ lạm phát, điều này đã tạo khó khăn

trộm bất cứ thứ gì, DN nên có đội ngũ bảo vệ trung thành, đáng tin cậy và có trí tuệ.
E. PHÂN TÍCH TC
I. Phân tích chiến lược kinh doanh:
Hiện nay, ngoài sản xuất kinh doanh điện thương phẩm, NLC còn cung cấp các
dịch vụ khác bao gồm: thi công, xây lắp đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp
110KV; thi công, lắp đặt hệ thống điện nước, nước, thông tin. Trong năm 2006, NLC
bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh là hướng dẫn, đào tạo công nhân vận hành nhà
máy thủy điện vừa và nhỏ. Các hoạt động kinh doanh này đã đem lại DT, góp phần bổ
sung và đa dạng hóa DT của toàn CT. Tuy nhiên, DT từ sản xuất, kinh doanh điện
thương phẩm vẫn chiếm tỷ trọng cao, TB98% tổng DT của NLC. Cũng trong năm
2006, NLC chính thức giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội, điều này
đánh dấu bước thay đổi trong phương thức huy động vốn, việc huy động vốn từ đại
chúng sẽ giúp CT chủ động hơn trong việc thay đổi số vốn và cơ cấu vốn.
Việc áp dụng chiến lược kinh doanh này trong thời gian qua đã đem lại hiệu quả
không nhỏ trong việc tạo ra DT và LN của CT, tăng sức cạnh tranh của CT trong
ngành thủy điện, hơn nữa NLC còn được coi là CT trả cổ tức khá cao (duy trì ở mức
20% qua các năm). Tuy vậy, DT thuần của CT vẫn còn biến động qua thời gian, dù
biến động không quá lớn nhưng điều đó đòi hỏi NLC phải thay đổi chiến lược kinh
doanh của mình trong tương lai.
Mục tiêu hoạt động của CT là kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư
tại CT, tối đa hóa LN, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, đem lại lợi ích tối ưu
cho các cổ đông; tối đa hóa hoạt động của toàn CT, đa dạng hóa ngành nghề kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Sau đây là một số định hướng phát triển cho CT
trong những năm sắp tới: Duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh truyền thống ổn định;
Từng bước phát triển sản xuất kinh doanh sang đầu tư thực hiện các dự án xây dựng
9
nhà máy thủy điện, lắp đặt sửa chữa, thí nghiệm hiệu chỉnh thiết bị nhà máy thủy điện,
đường dây và trạm biến áp; Đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài; Mở
rộng TT trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm xây dựng và phát
triển NLC thành CT có tiềm lực kinh tế mạnh.

dù có ít HTK nhưng lại nhiều tiền mặt nhàn rỗi do NLC không có các khoản đầu tư
TC ngắn hạn cũng như dài hạn. Chỉ tiêu này cao hơn rất nhiều so với RHC và cũng
10
cao hơn mức bình quân chung của ngành. Điều này giúp đảm bảo an toàn TC cho
NLC, làm hấp dẫn các nguồn cho vay nhưng không tận dụng hết nguồn lực TC để tạo
LN cao. Do đặc thù loại hình DN, HTK và TSLĐ kém thanh khoản chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ trong cơ cấu TS. Chính vì đặc điểm này nên các chỉ số thể hiện khả năng thanh
toán hiện thời và khả năng thanh toán nhanh không chênh nhau nhiều. Qua đó, NLC
nên có chính sách sử dụng lượng tiền mặt nhàn rỗi tốt hơn và tăng đầu tư TC ngắn
hạn.
2. Chỉ số đòn bẩy: (Biểu đồ 3, 4, 5)
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009 2010 2011
RHC
(2011)
TB ngành
(2011)
Chỉ số nợ vốn cổ
phần (D/E)
1.544 0.857 0.641 0.191 0.041 0.034 0.125 1.118
Chỉ số tổng nợ
(D/A)
0.641 0.522 0.395 0.205 0.089 0.055 0.358 0.410
Chỉ số khả năng
thanh toán lãi vay
0.426 1.466 2.495 10.087 16.262 158.80 1.109 -
Giai đoạn 2006 - 2011, D/A và D/E giảm dần cho thấy NLC sử dụng ngày càng ít
nợ để tài trợ cho TS trong khi khả năng thanh toán lại khá cao, điều này làm giảm khả
năng tạo nhiều LN và giảm giá trị DN. Nhìn chung NLC sử dụng nợ ít hơn VCSH để
tài trợ cho TS. Điều này giúp NLC có khả năng tự chủ TC cao cũng như còn được vay

4. Vòng quay KPT 15.27 3.473 _
5. Kỳ thu tiền bình quân 23.903 105.107 _
6.Vòng quay TSLĐ 4.072 1.525 1.81
7.Vòng quay TSCĐ 0.482 0.465 _
12
Từ 2006 đến 2011, vòng quay Tổng TS có xu hướng tăng nhẹ. Mỗi đồng TS của
NLC trong 6 năm qua TB chỉ tạo ra 0.261 đồng DT là một con số khá thấp. Tuy
nhiên, do hầu hết các nhà máy thủy điện được thành lập từ rất lâu, khoảng trên dưới
20 năm nên hiệu suất sử dụng TS của CT là rất thấp, vòng quay Tổng TS của nhóm
ngành thủy điện đều dưới 1. Năm 2011, so sánh với RHC và bình quân ngành thì hiệu
quả sử dụng TSCĐ của NLC là tương đương và được xem là khá tốt đối với ngành
thủy điện.
Vòng quay HTK giảm dần và số ngày bình quân HTK tăng dần từ 2006 đến 2011.
NLC đầu tư vừa phải vào HTK và mức độ đầu tư ngày càng tăng cũng như hiệu quả
quản lý HTK khá tốt. Vòng quay HTK khá cao khiến cho số ngày tồn kho bình quân
khá thấp giúp DN quay vòng vốn nhanh và tốn ít CP quản lý HTK. Năm 2011, bình
quân HTK của NLC quay được 13.364 vòng để tạo ra DT, cao hơn gần 2 lần so với
RHC và mất 27.312 ngày tồn kho gần bằng một nửa số ngày tồn kho của RHC. Điều
này cho thấy hiệu quả quản lý HTK của NLC tốt hơn rất nhiều so với RHC.
Từ 2006 đến 2011, vòng quay các KPT tăng nhẹ qua từng năm và làm cho kỳ thu
tiền bình quân giảm nhẹ . Nhìn chung, NLC quản lý chính sách bán chịu khá tốt, kỳ
thu tiền bình quân là 33 ngày. NLC ngày càng ít bán chịu hàng hóa hơn hoặc thời hạn
bán chịu ngày càng ngắn do đó sẽ làm giảm tính cạnh tranh khi các DN trong ngành
khác có chính sách bán chịu cao từ đó làm giảm DT, nhưng do đặc điểm ngành điện
nên mức độ giảm sẽ rất thấp. Tuy nhiên đây cũng là một con số tương đối an toàn vì
nếu cao quá thì vốn của NLC sẽ bị chiếm dụng nhiều. Năm 2011, bình quân mất
23.903 ngày để NLC thu hồi được KPT trong khi RHC là 105.107 ngày. Với chính
sách bán chịu hàng hóa thấp như trên thì khả năng giữ khách hàng cũng như khả năng
cạnh tranh của NLC ở các lĩnh vực kinh doanh phụ là thấp hơn so với RHC nhưng
ngược lại NLC ít bị khách hàng chiếm dụng vốn hơn.

RHC là 0.088 đồng và bình quân ngành là 0.07 đồng. Như vậy khả năng sinh lời trên
một đồng TS của NLC là tương đối cao so với CT cùng ngành và so với bình quân
ngành. Mặt khác ROA các năm đều dương cho thấy NLC liên tục kinh doanh có lời.
Tỷ lệ ROE của NLC từ 2006 - 2011 có xu hướng ngày càng tăng cho thấy khả
năng tạo ra LN cho cổ đông từ VCSH của DN là ngày càng tăng. Đây là một dấu hiệu
tốt tạo nên sức hấp dẫn cho các cổ đông hiện tại cũng như các nhà đầu tư. Năm 2011,
một đồng VCSH của NLC tạo ra 0.12 đồng LN giành cho cổ đông, tuy có thấp hơn
một chút so với RHC là 0.173 đồng nhưng bằng với bình quân ngành. Tỷ số này
dương cho thấy NLC làm ăn có hiệu quả và có khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ
phần là tương đối tốt.
14
Mặc dù có vốn không lớn nhưng ROA và ROE của NLC khá lớn so với các CT
cùng ngành, cho thấy khả năng quản trị DN của NLC rất tốt.
5. Chỉ số giá TT: (Biểu đồ 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18)
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
EPS 1154.113 3832.021 4087.073 5286.799 2293.920 2455.753
Giá TT 26316.667 28077.419 18785.887 25112.749 23323.6 14893.548
P/E 22.803 7.327 4.596 4.750 10.168 6.065
M/B 1.914 1.582 0.913 1.049 1.037 0.637
Năm 2011 NLC RHC Bình quân ngành
Tỷ lệ chi trả cổ tức
EPS 2455.753 2626 1829
Giá TT 14893.548 14237.90
P/E 6.065 5.422 5.7
M/B 0.637 0.837
EPS trong giai đoạn này có chiều hướng tăng và đạt mức cao nhất trong ngành
thủy điện vào 2009. Do trong những năm này khối lượng cổ phiếu phổ thông của DN
vẫn duy trì ở mức 5 triệu, trong khi LN tăng liên tục, tăng gần 30% so với năm 2008.
Năm 2010, EPS của NLC giảm gần 57% so với năm trước đó và thấp hơn TB ngành
nhưng chênh lệch là không quá lớn. Tới năm 2011, EPS tăng nhẹ và đạt mức cao hơn

của NLC là khá tốt. Mặc dù có công suất nhỏ nhưng khả năng sinh lợi, hiệu quả sử
dụng vốn và TS là cao so với bình quân ngành. Thêm vào đó, mặc dù không có dự án
đầu tư nào nhưng hiệu quả sử dụng tiền vào hoạt động đầu tư là khá tốt. Cổ phiếu
NLC có tiềm năng sinh lợi tốt so với các cổ phiếu cùng ngành.
III. Phân tích luồng tiền:
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
LN trước thuế 29,403 30,339 21,381 31,159 12,890 12,940
16
LCT thuần từ HĐKD (957) 12,947 24,941 45,945 17,934 19,758
LCT thuần từ HĐĐT 1,610 21,699 13,338 4,123 (1,094) (69)
LCT thuần từ HĐTC (77) (32,338) (35,355) (53,244) (19,776) (10,947)
LCT thuần trong kỳ 576 2,307 2,924 (3,176) (2,936) 8,743
Đơn vị tính: triệu đồng
Nhận xét: LC thuần của NLC không ngừng biến động qua các năm. Sự biến động
này khá lớn, tiêu biểu là có năm 2009 xuống đến -3,176 triệu đồng.
Nhìn vào biểu đồ, ta thấy các dòng tiền qua các năm biến động không đều. Mặc
dù biến động tăng giảm thất thường nhưng sự biến động tăng chính vẫn là dòng tiền
kinh doanh - là hoạt động chính của một CT. Vì vậy NLC vẫn hoạt động tốt qua các
năm. Cụ thể về sự biến động các dòng tiền như sau:
- Dòng tiền kinh doanh: Giai đoạn 2006 - 2009, dòng tiền tăng mạnh từ khoảng
0,96 tỷ đồng lên 45,9 tỷ đồng, đạt mức cao nhất vào năm 2009, điều này là vì LN từ
hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động năm 2009 tăng đáng kể so với các
năm trước nên LC thuần từ hoạt động kinh doanh tăng liên tục từ 2006 đến 2009; Giai
đoạn 2010 - 2011: dòng tiền giảm nhanh là do LN trước thuế và LN từ hoạt động kinh
doanh trước khi thay đổi vốn lưu động năm 2010 và 2011 giảm đáng kể so với năm
2009. Nhìn chung, LC thuần từ hoạt động kinh doanh dương liên tục qua các năm,
làm tăng tính thanh khoản cho NLC, chứng tỏ tiền được tạo ra từ hoạt động kinh
doanh có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản vay, chi trả cổ tức và mở
rộng đầu tư của DN.
- Dòng tiền đầu tư: từ 2006 - 2011 dòng tiền thay đổi nhiều, cụ thể: tăng nhanh

động vốn và vay thêm tiền từ bên ngoài (tiền từ hoạt động kinh doanh đủ đáp ứng và
nguồn đầu tư bị thu hẹp trong giai đoạn đầu), và hoạt động đầu tư bị hạn chế trong
giai đoạn 2006 - 2009, tuy nhiên từ năm 2010 thì hoạt động đang dần được mở rộng.
F.DỰ BÁO DT (dự báo DT của NLC năm 2012)
18
I. Các yếu tố ảnh hưởng:
- Triển vọng của nền kinh tế: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế từ 7.5% đến
8%/năm thì trong 20 năm tới nhu cầu điện sẽ phải tăng từ 15% đến 17%.
- Thị phần và khả năng cạnh tranh của NLC: vốn hóa thị trường của NLC là
124,500,000,000, chiếm 0.93% vốn hóa TT của toàn ngành điện.
- Lạm phát: mục tiêu năm 2012, lạm phát kiềm chế ở dưới mức 10%.
- Chính sách CT: kinh doanh có lãi, tăng trưởng ổn định, bảo toàn và phát triển
vốn đầu tư
II. Dự báo DT:
Năm DT ( y) t
t
2
yt
2006 25,778,786,702
-
5
2
5
-128,893,933,510
2007 27,754,633,647
-
3
9 -83,263,900,941
2008 45,217,902,999
-

20
Phụ lục 1: BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1:
Chỉ số thanh khoản của NLC giai đoạn 2006-2011
21

Biểu đồ 2:
Chỉ số thanh khoản của NLC, RHC và TB ngành năm 2011
22
Biểu đồ 3:
Chỉ số nợ vốn cổ phần của NLC giai đoạn 2006-2011
23
Biểu đồ 4:
Chỉ số tổng nợ của NLC giai đoạn 2006-2011
24
Biểu đồ 5:
Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay của NLC giai đoạn 2006-2011
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status