Tiểu luận
Đa dạng sinh học ở các thủy vực
nước ngọt nội địa và phương
hướng khai thác
Phạm Văn Thương _ Lê Tân Phú
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
1
MỤC LỤC
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài
2 2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Bố cục của tiểu luận 3
NỘI DUNG 4
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
2
1. Khái niệm đa dạng sinh học 4
1.1 khái niệm 4
1.1.1. Đa dạng di truyền 4
1.1.2. Đa dạng loài 4
1.1.3. Sự đa dạng tổ hợp 5
1.1.4. Sự đa dạng sống và thích nghi 5
địa ở Việt Nam cũng được thể hiên rất rõ
Hệ sinh thái ( HST ) ở các thủy vực nước ngọt nôi địa gồm các
HST của hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên, hồ chứa và vùng đất ngập
nước. Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông
chính, bên cạnh hệ thống suối phân bố khắp vùng núi và trung du. Đây
là hệ thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản
cao nhất trong các thủy vực nội địa , cùng với khoảng 230 hồ tự nhiên
với diện tích 34.602 ha tập trung nhiều ở phía Bắc, từ 3 nghìn – 5 nghìn
hồ chứa các loại được xây dựng cho các mục đích thủy lợi, thủy điện,
ngăn mặn,…
Có thể nói HST ở các thủy vực nước ngọt nôi địa là rất đa dạng
và có giá trị rất lớn về giá trị kinh tế cũng như giá trị về đa dạng sinh
học.Bỡi vậy để có phương hướng khai thác hợp lý hết tất cả các giá trị
đó cũng là một vấn đề mà chúng ta cần thận trọng xem xét
Từ những cơ sở đó mà chúng tôi chọn đề tài : Sự đa dạng sinh
học ở các thủy vực nước ngọt nội địa và phương hướng khai thác
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
5
để phần nào làm rõ hơn vấn đề, từ đó có ý thức hơn về bảo tồn và phát
triển nguồn đa dạng sinh học,bảo vệ môi trường.
2. Mục đích nghiên cứu
Nêu bật được sự đa dạng sinh học ở các thủy vực nước ngọt nội
địa để thấy được các giá trị mà sự đa dạng sinh học đó đem lại.Mặc
khác đi thẳng vào thực trạng khai thác hiên nay từ đó có phương hướng
khai thác hợp lý và đúng đắn tất cả các giá trị đa dạng đó
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các hệ sinh thái phổ biến ở
các thủy vực nước ngọt nội địa
Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu về tính đa dạng của các HST ở các
điều kiện sinh thái mới khi những loài khác biến đi (McNeely, 1991).
Theo Công ước đa dạng sinh học 1992: Đa dạng sinh học
(ĐDSH) là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn
trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh
thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng
di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và
các hệ sinh thái (đa dạng các hệ sinh thái).
I.1.1 Đa dạng di truyền
Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc
di truyền của các cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị
di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể.
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
9
I.1.2 Đa dạng loài
Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các
hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra,
kiểm kê.
Đa dạng loài thể hiện bằng số lượng loài khác nhau sinh sống
trong một vùng nhất định. Hiện nay, tổng số các loài sinh vật trong sinh
quyển vào khoảng 5 đến 30 triệu loài, nhưng con người chỉ mới ghi
nhận khoảng gần 2 triệu loài. Trên thế giới sự đa dạng thể hiện rõ nhất
ở vùng nhiệt đới ( rừng nhiệt đới chiếm 7 % diện tích thế giới và chứa
trên 50% số loài), đặc biệt là ở hai khu vực Đông Nam Á vá khu vực
sông Amazôn. Sự giàu loài tập trung ở vùng nhiệt đới: ít nhất đã có
90.000 loài đã được xác định, trong lúc đó ở vùng ôn đới Bắc Mỹ và
Au Á chỉ có 50.000 loài (Walters và Hamilton, 1993).
Trên một đơn vị diện tích ở các vùng khác nhau có số loài khác
nhau chứng tỏ mức độ đa dạng khác nhau.
1.1.3. S ự đa dạng tổ hợp
Loài là đơn vị tổ hợp của hệ thống sinh vật, chúng không tồn tại
Hệ sinh thái là một cộng đồng gồm các loài sinh vật sống trong một
điều kiện nhất địnhvà mối tương hỗ giữa các sinh vật đó với các nhân
tố môi trường. Các nhân tố đó nương tựa vào nhau để tồn tại, tạo ra một
thế cân bằng nhất định.
Sự đa dạng hệ sinh thái thể hiện bằng sự khác nhau cả các kiểu quần xã
sinh vật tạo nên do các cơ thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau
và với các điều kiện sống ( đất, nước, khí hậu, địa hình).
2.Hệ sinh thái thủy vực nước ngọt
Vùng sinh thái nước ngọt có giới hạn của nồng độ muối hòa tan nhỏ
hơn 0,5‰. Đây là vùng nước thiên nhiên xa biển dưới các loại hình
thủy vực khác nhau như: sông, suối, hồ, ao, ruộng lúa
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
12
Đặc tính chung là trong nước có ít thành phần muối Na+, Cl-, SO4 2-;
nhiều thành phần muối Ca2 +, HCO3-, CO3
Các HST nước ngọt có thể chia thành các HST nước đứng(đầm
lầy, ruộng, ao hồ) và các HST nước chảy (sông,suối).
2.1 Hệ sinh thái nước đứng
Sơ lược thành phần nước ao:
Ao là loại hình thủy vực nước đứng, nhỏ, nông, được hình thành
chủ yếu là do các nguyên nhân nhân tạo. Nhìn chung những tính chất
vật lý, thành phần hóa học của nước trong ao biến động lớn. Mức độ
biến động của các yếu tố phụ thuộc vào độ lớn của thủy vực và phụ
thuộc vào chế độ chăm sóc của con người.
- Hàm lượng oxy hòa tan trong nước biến động lớn theo ngày đêm,
mức độ biến động tùy theo hàm lượng vật chất dinh dưỡng trong ao.
- pH dao động từ 6-9,5 tùy theo mật độ của tảo trong ao
- Hàm lượng các muối dinh dưỡng thường phong phú hơn nước sông
do sự chăm sóc bón phân của con người.
- Hàm lượng TAN dao động trong khoảng 0,1-1,0 mg/L; NO3- dao
ăn của động vật. Trong các tầng nước, nhiệt độ và độ muối
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
14
khoáng được phân bố đồng đều do tác dụng của gió. Hệ động
vật bao gồm: Động vật đáy và những động vật tự bơi.
2.2 Hệ sinh thái nước chảy (sông, suối)
Sơ lược thành phần nước sông:
Sông là loại hình thủy vực nước chảy tiêu biểu nên hàm lượng oxy
hòa tan trong nước sông thường cao,ở những đoạn chảy xiết, hàm
lượng oxy hòa tan có thể lên đến bão hòa.Độ pH tương đối ổn
định,giao động trong khoảng 6-8.Nhìn chung các loại muối dinh dưỡng
và các loại chất hữu cơ trong nước song thường nghèo nàn.Hàm lượng
TAN (tổng đạm amôn) ít khi vượt quá 0,1ppm,hàm lượng NO ít khi
vượt quá 0,02ppm có khi chỉ có lượng vết.Vì lượng oxy cao nên dạng
đạm này dễ bị oxy hóa thành đạm Nitrate (NO) .Hàm lượng NO thường
gặp trong khoảng 0,1-0,5ppm. Hàm lượng dạng này trong nước sông
thường thay đổi theo mùa: mùa hạ,thực vật phù du phát triển mạng-quá
trình quang hợp của chúng hấp thu nhiều NO- làm hàm lượng muối này
trong thủy vực giảm xuống đáng kể có khi bằng 0; vào mùa thu,hàm
lượng muối này tăng lên hẳn và đạt cực đại ở mùa đông,sang mùa xuân
thì bắt đầu giảm xuống. Hàm lượng PO4 3- dao động trong khoảng 0,03-0,1 ppm
và cũng dao động theo mùa, vào mùa nước lũ hàm lượng PO43- thường cao do nước mưa
mang vào thủy vực. Hàm lượng SiO3.2- dao động trong khoảng 2-10 mg/L. Hàm lượng
muối sắt hòa tan trong nước sông thường rất thấp vì hàm lượng oxy hòa tan cao, các
muối hòa tan của sắt dễ dàng bị oxy hóa thành dạng keo Fe(OH)3 không hòa tan. Tuy
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
15
nhiên, hàm lượng sắt tổng sẽ cao đối với những vùng chịu ảnh hưởng của đất phèn (Vùng
Đồng Băng Sông Cửu Long). COD của nước sông thường rất thấp chỉ dao động trong
khoảng 2-5mg/L.
3.1 Đặc điểm thủy vực nước ngọt nội địa
Vệt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính,
bên cạnh hệ thống suối phân bố khắp vùng núi và trung du. Đây là hệ
thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học nguồn lợi thủy sản cao
nhất trong các thủy vực nội địa, đặc biệt ở các hệ thống sông Cửu
Long, sông Đồng Nai, sông Hồng, sông Thái Bình…, cùng với khoảng
230 hồ tự nhiên với diện tích 34.602 ha tập trung nhiều ở phía Bắc, từ 3
nghìn – 5 nghìn hồ chứa các loại được xây dựng cho các mục đích thủy
lợi, thủy điện, ngăn mặn,…
3.2 Đa dạng các hệ sinh thái thủy vực
Các thuỷ vực nước ngọt là nơi cư trú của rất nhiều loài cá, lưỡng
cư, động vật không xương sống, thực vật thuỷ sinh, và các vi sinh vật.
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
17
- Hệ thống sông, suối: Việt Nam có khoảng 2.360 con sông trong đó
có 106 sông chính, bên cạnh hệ thống suối phân bố khắp vùng núi và
trung du. Đây là hệ thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học nguồn
lợi thủy sản cao nhất trong các thủy vực nội địa, đặc biệt ở các hệ thống
sông Cửu Long, Đồng Nai, Hồng, Thái Bình…
- Hồ tự nhiên: Việt Nam có khoảng 230 hồ với diện tích 34.602 ha, tập
trung nhiều ở phía bắc. Thành phần loài cá ở hồ tự nhiên kém phong
phú hơn ở sông và hồ chứa, trung bình chỉ từ 19-56 loài / hồ.
- Hồ chứa: Việt Nam có khoảng 3.000-5.000 hồ chứa các loại được
xây dựng cho các mục đích thủy lợi, thủy điện, ngăn mặn… Cá trong
hồ chứa ngoài nguồn gốc tự nhiên còn có cá thả nuôi, tính đa dạng sinh
học tùy thuốc vào cơ cấu quần đàn của hai nhóm cá trên.
- Vùng đất ngập nước: Việt Nam có 2 vùng đất ngập nước quan trọng
là ĐBSCL (4.939.684 ha đất ngập nước) và đồng bằng sông Hồng
(229.762 ha đất ngập nước), với mức độ đa dạng sinh học cao do mức
độ đa dạng sinh thái và môi trường cao.
trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô
tả, tất cả đều là những loài đặc hữu của Việt Nam hay vùng Đông
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
19
Dương. Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ đặc hữu của khu hệ
tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn.
Thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam bao
gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Riêng
họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ
được coi là đặc hữu ở Việt Nam. Số lượng loài cá ở các cửa sông dao
động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài, thuộc 109 họ
và 27 bộ. Có thể thấy tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong
phú và đa dạng. Mỗi năm, sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt
trung bình từ 150 – 200 tấn, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu
cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm của người dân, đặc biệt là từ các
địa phương không có biển Đa dạng sinh học nước ngọt là ít được biết
đến nhất trên trái đất. Các nhà khoa học tin rằng, chẳng hạn Thái Lan
có thể có khoảng 1000 loài cá nước ngọt, nhưng chỉ khoảng 475 loài
được ghi nhận hiện nay
Bảng : Sự đa dạng của cá nước ngọt ở Việt Nam
TT
Tên các bộ
Số họ Số giống
Số
loài
và
Tên Việt Tên khoa học
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
20
1 Bộ cá cháo Elepiformes 2 2 2
nước ta, nhiều hệ sinh thái ở các thủy vực nước ngọt cũng biến đổi rất
mạnh.
Hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nội địa có phần giảm đi so
với các năm trước. Trên các sông, hồ lớn sản lượng khai thác giảm
mạnh, một số đối tượng cá truyền thống như cá Bơn, Lẹp, Chày, Chép
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
22
và các loài cá đồng khác như cá Trê, cá Chạch, lươn… đang có chiều
hướng suy giảm mạnh.
Sản lượng khai thác nội địa giai đoạn 2001 - 2009 giảm 20%,
từ 243 nghìn tấn năm 2001 xuống còn 191 nghìn tấn năm 2009. Có sự
thay đổi sản lượng do nguồn lợi suy giảm và môi trường thủy sinh thay
đổi.
Phương tiện khai thác thủy sản ở các thủy vực nước ngọt nội địa
chủ yếu là tàu thuyền thủ công không lắp máy, trên một số hồ, đầm
phá…tàu thuyền thường được lắp máy công suất dưới 15 cv. Hiện nay
lượng phương tiện khai thác nội địa còn số lượng lớn, cùng với việc
chưa đăng ký đầy đủ, phân tán nhiều nơi. Điều này dẫn tới áp lực khai
thác nội địa lớn, gây khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ nguồn
lợi thủy sản.
Phương thức khai thác chủ yếu vẫn là các nghề khai thác truyền
thống như lưới rê, chài quăng, lồng bẫy, vó bè…., những nghề này
thường cho sản lượng không cao. Gần đây có du nhập một số nghề mới
như lồng Trung Quốc, Thái Lan…, những nghề mới này vi phạm quy
định về kích thước mắt lưới trong việc bảo vệ nguồn lợi.
Phương pháp khai thác tận thu vẫn còn khá phổ biến tại các địa
phương, một số vi phạm như dùng kích điện, xung điện, chất nổ, chất
độc, ngư cụ có mắt lưới nhỏ hơn quy định
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
23
nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng.
Bảo đảm dòng chảy tối thiểu duy trì hệ sinh thái thuỷ sinh theo
quy hoạch.
Bảo vệ tính toàn vẹn và sử dụng có hiệu quả các vùng đất ngập
nước và cửa sông cho các sông trọng điểm, các tầng chứa nước quan
trọng.
Chấm dứt tình trạng thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước
và xả nước thải vào nguồn nước.
Kiểm soát tình hình ô nhiễm nguồn nước
Cần sớm ban hành các quy chế quản lý vùng khai thác thuỷ sản ở
sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác; quy hoạch các khu
vực được phép khai thác, nuôi trồng thuỷ sản. Ban hành các tiêu chuẩn
cụ thể về ngư cụ và hình thức khai thác nội địa.
Phạm Văn Thương _ Lê Tân phú
25