LUẬN VĂN:
Thanh toán không dùng tiền mặt tại
Chi nhánh Ngân hàng Công thương
tỉnh Nam Định, thực trạng và giải pháp Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn 2001- 2010 là giai đoạn có tính chất quyết định chiến lược cho quá
Trước những khó khăn đó, các Ngân hàng thương mại Việt Nam càng phải
nhanh chóng khẳng định sức mạnh cạnh tranh cũng như khẳng định vai trò chủ đạo
của mình trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng, góp phần xây dựng
một nền văn minh tiền tệ ổn định và vững mạnh.
Như vậy, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đang là một yêu cầu cấp
thiết hàng đầu trong quá trình phát triển hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của
Ngân hàng Việt Nam nói riêng, của nền kinh tế Việt Nam nói chung. Xuất phát từ
thực trạng đó, cùng với quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về tình hình thanh toán không
dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định trong thời gian
thực tập vừa qua, em đã lựa chọn đề tài: “Thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi
nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định, thực trạng và giải pháp” để
nghiên cứu và phát triển thành khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận cơ bản về thanh toán
không dùng tiền mặt trong nền kinh tế và thực trạng hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong tương lai.
3. Phạm vi nghiên cứu
Thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm rất nhiều nội dung, phương thức
thanh toán khác nhau, nhưng khoá luận chỉ đề cập đến phương thức thanh toán không
dùng tiền mặt đang được áp dụng tại Việt Nam hiện nay, từ đó đi sâu vào phân tích
các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng chủ yếu ở Chi nhánh
Ngân hàng Công thương tỉnh Nam Định trong hai năm gần đây, năm 2003 – năm
2004.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích, so sánh. Ngoài ra,
khoá luận vận dụng phương pháp nghiên cứu logic biện chứng và diễn dịch.
5. Bố cục của khoá luận
Thanh toán là khâu đầu tiên cũng là khâu cuối cùng kết thúc một chu kỳ sản
xuất. Vì vậy, không có thanh toán thì quá trình sản xuất không thể tiến hành đều đặn
và liên tục được. Thanh toán được coi là tất yếu, khách quan và cần thiết phục vụ cho
quá trình sản xuất, kinh doanh, là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự tuần hoàn vốn
một cách bình thường, liên tục trong từng đơn vị sản xuất nói riêng cũng như toàn bộ
nền kinh tế nói chung. Nếu như trong khâu thanh toán có ách tắc thì quá trình sản
xuất bị gián đoạn, các mối quan hệ kinh tế bị phá vỡ, làm ảnh hưởng đến nhịp độ
phát triển của nền kinh tế.
Ngân hàng ra đời lúc đầu hoạt động đơn giản là giữ hộ tiền, vàng cho khách
hàng, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, dần dần
Ngân hàng phát sinh thêm một số nghiệp vụ như thanh toán cho khách hàng gửi tiền
tại Ngân hàng có nhu cầu thanh toán chi trả lẫn nhau. Khi nền sản xuất hàng hoá còn
ở trình độ thấp, việc thanh toán chỉ là thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng nhỏ,
phạm vi hẹp. Sự vận động của vật tư hàng hoá gắn liền với sự vận động của khối
lượng tiền tệ nhất định. Lúc này thanh toán bằng tiền mặt tỏ rõ sự linh hoạt của nó, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của người mua và người
bán, quá trình thanh toán bằng tiền mặt không gặp một trở ngại nào. Khi nền kinh tế
sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, nhu cầu trao đổi rộng, việc mua bán
thường xuyên diễn ra với khối lượng lớn, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt
không còn tỏ ra là một phương thức hữu hiệu nữa. Những hạn chế của tiền mặt gây
nhiều tốn kém trong khâu vận chuyển, kiểm đếm, độ an toàn thấp, từ đó đòi hỏi phải
có hình thức thanh toán mới ưu việt hơn để thay thế và đáp ứng kịp thời nhu cầu của
nền kinh tế. Vì vậy, cùng với sự phát triển vượt bậc của hệ thống Ngân hàng, các
công cụ thanh toán được đưa ra để lựa chọn và thanh toán không dùng tiền mặt đã
phát sinh từ đó.
Phương thức thanh toán không dùng tiền mặt ra đời và nhanh chóng phát triển,
chiếm ưu thế trên thị trường vì nó đã khắc phục được những nhược điểm của thanh
toán bằng tiền mặt.
tế, thực hiện quá trình chu chuyển tiền tệ, khai thác và sử dụng tốt các nguồn vốn.
Nhờ đó các khối tiền bất động trở nên sống động hơn, di chuyển từ nơi này đến nơi
khác để phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, kinh
doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy nguồn vốn luân chuyển nhanh
chóng, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hoá. Đồng thời sử
dụng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu
thông, hạn chế lạm phát, giảm bớt chi phí in ấn, phát hành, lưu thông tiền tệ, ổn định
giá trị đồng tiền. Thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp đơn giản trong thanh
toán, tạo tâm lý thoải mái, yên tâm và độ tin cậy cao cho khách hàng.
1.1.2.2. Đối với Ngân hàng.
Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước thực
hiện nhiệm vụ điều hoà, lưu thông tiền tệ, kiểm soát các giao dịch thanh toán giữa
các Ngân hàng, nắm được khối lượng chu chuyển tiền tệ, từ đó nâng cao hiệu quả
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những dịch vụ chính của các
Ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở các quan hệ kinh tế – thương mại của khách
hàng, gắn liền với quá trình khai thác và sử dụng vốn của các tổ chức tín dụng. Thông qua việc cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng và
nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại sẽ tăng thu nhập từ việc thu phí dịch vụ, từ đó
tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại nâng cao khả năng tài chính, khả năng
cạnh tranh và tạo sự phát triển bền vững.
Mở rộng và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mang lại hiệu
quả kinh tế lớn cho các Ngân hàng thương mại, nhờ việc khai thác và sử dụng linh
hoạt nguồn vốn tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhân. Ngân hàng sẽ
tập trung được nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Ngoài ra thanh toán không
dùng tiền mặt còn giúp Ngân hàng tiết kiệm chi phí kiểm đếm, bảo quản tiền mặt.
được các chi phí phát sinh; góp phần giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm,
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đảm bảo tiện lợi, nhanh chóng, an
toàn và bảo mật cho khách hàng khi sử dụng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi
mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các Ngân hàng thương mại trong hoạt
động thanh toán ngày càng cao, chỉ bằng một lệnh của một chủ tài khoản, một giao
dịch có thể được thực hiện ngay không kể không gian và địa điểm giao dịch nhờ công
nghệ mạng, công nghệ chuyển tiền điện tử, công nghệ online
Sự đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán đã
và đang được các Ngân hàng thương mại cung cấp, tạo điều kiện cho khách hàng có
nhiều sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ sao cho có lợi nhất.
Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt không đơn thuần là việc chi trả tiền,
mà hàm nghĩa rộng hơn là chuyển tải luồng vốn trong nền kinh tế từ nơi này đến nơi
khác, hỗ trợ trực tiếp cho thị trường liên Ngân hàng và thị trường tài chính phát triển.
Trong xu thế quốc tế hoá hiện nay, khi mag thương mại quốc tế ngày càng phát triển
và mở rộng thì thanh toán không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia nữa mà
tiến tới thanh toán đa phương.
ở Việt Nam, sự phát triển của công nghệ điện tử, tin học trong công tác thanh
toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc gia hoà nhập vào nền
kinh tế thế giới và khu vực. Nhưng không phải vì thế mà phủ nhận chỗ đứng của
thanh toán bằng tiền mặt mà phải có sự kết hợp khéo léo, sáng tạo, vận dụng những
tiện ích của cả thanh toán sử dụng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt trong từng trường hợp cụ thể. Từ đó phát triển kinh tế nước nhà ngày càng ổn định, bền
vững và hưng thịnh hơn.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt ở Việt Nam.
Chức năng thanh toán của tiền tệ đang phát triển với nhiều mô thức phong
phú, đa dạng và ngày càng chiếm giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế –
nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng, chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt
không được đảm bảo, kưo theo hàng loạt những rủi ro, ảnh hưởng đến sự phát triển
của mỗi quốc gia.
Sự phát triển ổn định các nhân tố vĩ mô như: tăng trưởng kinh tế, lạm phát,
thất nghiệp giả là điều kiện thuận lợi phát huy các chức năng thanh toán của Ngân
hàng, đặc biệt là chức năng thanh toán không dùng tiền mặt.
Kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa với các ngành công – nông nghiệp, xuất nhập
khẩu và dịch vụ phát triển, việc làm và thu nhập của người dân cũng tăng lên. Sản
xuất hàng hoá phát triển mạnh nhu cầu trao đổi hàng hoá diễn ra thường xuyên hơn,
đòi hỏi và thúc đẩy quá trình thanh toán phải phát triển kịp thời, thích ứng theo sự
phát triển của nền kinh tế, tạo cơ sở mở rộng và hoàn thiện thanh toán không dùng
tiền mặt ngày càng hiện đại hơn.
1.1.3.2. Môi trường pháp luật.
Thanh toán không dùng tiền mặt là một hành vi kinh tế, do đó nó phải được
điều chỉnh bằng pháp luật của nhà nước. Pháp luật càng ổn định càng tạo điều kiện
thuận lợi cho thanh toán không dùng tiền mặt phát triển và mở rộng. Cũng như mọi
hoạt động khác, để sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt cần phải có những quy
tăc, quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia nhằm đảm bảo công
bằng, hợp lý, tránh tranh chấp xảy ra. Vì vậy, thanh toán không dùng tiền mặt phải
tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản pháp quy mà các cơ quan có thẩm quyền ban hành,
thế nhưng không phải vì thế mà các thủ tục quy định lại quá cứng nhắc, dập khuôn,
gây ách tắc về vốn cũng như thời gian, công sức của khách hàng. Cần thiết phải xây
dựng những văn bản pháp quy linh hoạt, thuận tiện, dễ hiểu, dễ áp dụng trong điều
kiện cụ thể. Mặt khác, sự ổn định chính trị – xã hội ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển, ổn định của nền kinh tế. Đất nước có thể chế chính trị ổn định, chế độ pháp luật
công khai rõ rằng sẽ tạo điều kiện lớn cho sản xuất, lưu thông hàng hoá. Từ đó ảnh
hưởng đến nhu cầu thanh toán chu chuyển vốn trong nền kinh tế, đảm bảo an toàn trong hệ thống thanh toán, giúp ta phát triển và mở rông thanh toán không dùng tiền
Cán bộ công nhân viên Ngân hàng chính là cầu nối quan trọng giữa các bên tham gia
thanh toán qua Ngân hàng.
Như vậy các nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế càng phản ánh rõ nét vai trò đặc biệt quan trọng của thanh toán không dùng
tiền mặt đối với các chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán. Ngoài những nhân tố
kể trên còn có rất nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đên thanh toán không dùng tiền mặt
như tâm lý, thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí, thu nhập của người dân, mức độ
cạnh tranh giữa các Ngân hàng… Hệ thống Ngân hàng – hệ thống huyết mạch của
nền kinh tế với những vai trò, chức năng của mình đã, đang và sẽ đẩy nhanh, đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong toàn hệ thống Ngân hàng, củng
cố nguồn lực cạnh tranh, vị thế và thương hiệu của mình để cùng với các ban ngành,
các cấp lãnh đạo và toàn thể nhân dân Việt Nam cùng nhau xây dựng một nền văn
minh tiền tệ, làm trong sạch đồng tiền và nâng cao vị thế của đồng tiên Việt Nam trên
trường quốc tế.
1.2. Khái quát về cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam.
1.2.1. Cơ sở pháp lý của thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam.
Để hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng hoàn thiện hơn,
chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không ngừng nghiên cứu và ban hành
các văn bản có tính pháp lý, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán nói
chung và các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng. Hệ thống các văn
bản pháp luật đó bao gồm:
- Luật Ngân hàng nhà nước và luật các tổ chức tín dụng ban hành 2003, trong
đó có đề cập đến vấn đề thanh toán qua Ngân hàng;
- Quyết định 371/ QĐ- NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
ngày 19/10/1999 về quy chế phát hành và thanh toán thẻ Ngân hàng;
- Nghị định 64/ 2001/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 20/09/2001 về
hoạt động thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
- Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành ngày 26/03/2002 về việc ban hành quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
phải chuẩn bị đầy đủ những phương tiện thanh toán (số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc hạn mức thấu chi nếu có) để
đáp ứng yêu cầu thanh toán đầy đủ, kịp thời khi xuất hiện yêu cầu thanh toán.
Nếu người mua chậm trễ thanh toán hoặc vi phạm chế độ thanh toán thì phải
chịu phạt theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thứ ba, người bán hay cung ứng dịch vụ là người được hưởng số tiền do
người chi trả chuyển vào tài khoản của mình nên phải có trách nhiệm giao hàng hay
cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán,
đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán.
Thứ tư, là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán:
- Chỉ trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người
thụ hưởng khi có lệnh của người chi trả (thể hiện trên các chứng từ thanh toán).
Trường hợp không cần có lệnh của người chi trả (không cần có chữ ký của chủ tài
khoản trên chứng từ) chỉ áp dụng đối với một số hình thức thanh toán như uỷ nhiệm
chi hay lệnh của Toà án kinh tế.
- Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải có trách nhiệm hướng dẫn,
giúp đỡ khách hàng mở tài khoản, sử dụng các công cụ thanh toán phù hợp với đặc
điểm sản xuất, kinh doanh, phương thức giao nhận, vận chuyển hàng hoá; cung cấp
đầy đủ các chứng từ sử dụng trong quá trình thanh toán cho khách hàng.
- Tổ chức hoạch toán, chuyển chứng từ thanh toán một cách nhanh chóng,
chính xác, an toàn tài sản. Nếu để chậm trễ hay hoạch toán thiếu chính xác gây thiệt
hại cho khách hàng trong quá trình thanh toán thì phải chịu phạt để bồi thường cho
khách hàng theo chế tài chung. 1.2.3. Nội dung cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt.
1.2.3.1. Các phương thức thanh toán vốn giữa các Ngân hàng.
Xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam và để từng bước hội nhập với các
Ngân hàng khu vực và quốc tế, Ngân hàng Việt Nam đã áp dụng ba phương thức
kiểm soát, đối chiếu:
- Từ năm 1951 (Khi thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam) đến 1962 áp
dụng phương thức “đại lý liên hàng”. Nội dung của phương thức này là các chi
nhánh Ngân hàng trực tiếp gửi chuyển tiền cho nhau, Ngân hàng Trung ương làm
nhiệm vụ kiểm soát, đối chiếu thông qua các tài khoản liên hàng phản ánh trên bảng
cân đối tài khoản hàng tháng của các chi nhánh gửi về Ngân hàng trung ương.
- Từ năm 1963 đến nay áp dụng hai phương thức là “kiểm soát tập trung, đối
chiếu phân tán” và “kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung”. Cả hai phương thức
đều áp dụng mô hình chữ “V” ngược. Theo mô hình này thì ngoài hai chi nhánh tham
gia thanh toán còn có trung tâm thanh toán làm nhiệm vụ kiểm soát, đối chiếu tất cả
các khoản chuyển tiền thanh toán trong hệ thống và theo dõi nguồn vốn của các chi
nhánh để thực hiện thanh toán vốn giữa các chi nhánh khi có một khoản chuyển tiền
thanh toán xảy ra.
+ Phương thức “kiểm soát tập trung, đối chiếu phân tán”: Các chi nhánh trực
tiếp gửi chuyển tiền cho nhau, trung tâm thanh toán làm nhiệm vụ kiểm soát tất cả
các chuyển tiền, sau đó lập sổ đối chiếu gửi các gửi các chi nhánh nhận chuyển tiền
để Ngân hàng này đối chiếu. Sơ đồ phương thức “kiểm soát tập trung, đối chiếu phân tán” như sau:
Error!
(2) Trung tâm thanh toán truyền chuyển tiền về Ngân hàng nhận.
(3) Cuối ngày trung tâm thanh toán đối chiếu cho tất cả các Ngân hàng.
(4) Các Ngân hàng xác nhận đối chiếu gửi trung tâm thanh toán.
Phương thức này được áp dụng trong thanh toán liên hàng điện tử.
b. Thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng.
Thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng là phương thức thanh toán vốn giữa các
Ngân hàng được thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu, phải trả và trên cơ sở
đó chỉ thanh toán với nhau số chênh lệch (kết quả bù trừ). Thanh toán bù trừ phát
sinh trên cơ sở các khoản tiền hàng hoá, dịch vụ của khách hàng mở tài khoản ở các
Ngân hàng khác nhau hoặc thanh toán vốn của bản thân Ngân hàng. Thanh toán bù
trừ được áp dụng giữa các Ngân hàng khác hệ thống (thanh toán bù trừ khác hệ
thống) hoặc có thể áp dụng giữa các đơn vị Ngân hàng thuộc cùng một hệ thống
Ngân hàng (thanh toán bù trừ cùng hệ thống). Tuỳ thuộc vào phương pháp trao đổi
chứng từ, chuyển số liệu mà có cơ chế thanh toán bù trừ trên cơ sở chứng từ giấy
(thanh toán bù trừ giấy) và thanh toán bù trừ điện tử.
Trung tâm
thanh
toán
Ngân hàng
nhận
chuyển
ti
ền
(1
)
Ngân hàng
chuyển
Ngân hàng thành viên. Ngân hàng chủ trì được quyền chủ động trích tài khoản tiền
gửi của các Ngân hàng thành viên để thanh toán.
- Thanh toán bù trừ có thể tổ chức trong phạm vi địa bàn (nội thành, nội thị và
các Ngân hàng lân cận có cự ly gần để đảm bảo giao nhận chứng từ thanh toán bù trừ
theo phiên giao nhận trong ngày) hoặc có thể tổ chức thanh toán bù trừ theo khu vực
hay toàn quốc (khi đã thực hiện thanh toán bù trừ điện tử, nối mạng trực tiếp giữa các
Ngân hàng thành viên và trung tâm thanh toán bù trừ).
- Về luân chuyển chứng từ:
+ Thanh toán bù trừ truyền thống (luân chuyển chứng từ giấy). Tuỳ theo hình
thức hoạt động của các Ngân hàng thành viên trong địa bàn để quy định phiên giao
nhận chứng từ trong ngày. Đến giờ giao nhận chứng từ, các Ngân hàng thành viên
phải mang các chứng từ thanh toán bù trừ đến địa điểm giao dịch (tại Ngân hàng chủ
trì) để giao nhận chứng từ giữa các Ngân hàng thành viên và Ngân hàng thành viên
với Ngân hàng chủ trì.
+ Thanh toán bù trừ điện tử: qua mạng máy tính, các Ngân hàng thành viên
truyền chứng từ điện tử đến trung tâm thanh toán bù trừ để thực hiện thanh toán bù
trừ theo chương trình phần mềm thanh toán bù trừ điện tử.
c. Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước.
Được áp dụng trong thanh toán qua lại giữa hai Ngân hàng hoặc đơn vị Ngân
hàng khác hệ thống đều có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (cùng hoặc khác chi nhánh, sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước). Các khoản thanh toán qua tiền
gửi tại Ngân hàng Nhà nước của các Ngân hàng cũng đều phát sinh trên cơ sở các
khoản thanh toán của khách hàng và của nội bộ các Ngân hàng như các khoản điều
chuyển vốn, các khoản vay trả giữa các Ngân hàng với nhau.
Để các Ngân hàng thực hiện thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng
Nhà nước, trên cơ sở chứng từ giấy, cần có các điều kiện như sau:
- Các Ngân hàng phải mở tài khoản tiền gửi tại Sở giao dịch hoặc chi nhánh
Ngân hàng Nhà nước và phải đăng ký mẫu dấu, chữ ký trong giao dịch thanh toán
1.2.3.2. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay.
Theo Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam ban hành “Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán” và Quyết định 235/2002/QĐ-NHNN ngày 27/03/2002
của Ngân hàng Nhà nước ban hành về việc chấm dứt phát hành ngân phiếu thanh
toán. Hiện nay, thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam có các hình thức sau
đây:
- Thanh toán bằng Séc,
- Thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi – chuyển tiền,
- Thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu,
- Thanh toán bằng Thư tín dụng,
- Thanh toán bằng thẻ thanh toán.
1.2.3.2.1. Thanh toán bằng Séc:
Theo Nghi định 30/ CP, Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập theo
mẫu do Ngân hàng Nhà nước quy định yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ
tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để trả cho người thụ hưởng số tiền trên tờ Séc
hoặc là người cầm Séc.
- Chủ tài khoản là người đứng tên mở tài khoản tiền gửi thanh toán và là người
sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu số tiền ghi trên tài khoản. Chủ tài khoản có thể là
pháp nhân hoặc cá nhân.
- Người phát hành Séc là chủ tài khoản hoặc là người được uỷ quyền theo quy
định của pháp luật. - Đơn vị thanh toán là đơn vị giữ tài khoản thanh toán của khách hàng. Đơn vị
thanh toán có thể là Ngân hàng, Kho bạc nhà nước hoặc là một số đơn vị khác được
phép thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt.
- Người thụ hưởng là người có tên trên tờ Séc đối với Séc ký danh và là người
cầm Séc đối với Séc vô danh.
Hiện nay chỉ có một mẫu Séc duy nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định dùng
gửi của khách hàng mà không phải qua tài khoản trung gian như Séc bảo chi. Séc
chuyển khoản chỉ dùng để thanh toán chuyển khoản qua Ngân hàng, không được
dùng để rút tiền mặt.
Séc chuyển khoản so chủ tài khoản trực tiếp phát hành và giao trả trực tiếp cho
người thụ hưởng không qua kiểm soát của Ngân hàng nên dễ bị lợi dụng phát hành
quá số dư, người thụ hưởng dễ bị thiệt hại. Khả năng chi trả của tờ Séc không cao
nên nó được sử dụng ở phạm vi khiêm tốn.
*Séc bảo chi là Séc được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả bằng cách trích
tài khoản của người phát hành một khoản tiền theo yêu cầu để lưu ký vào một tài
khoản riêng. Séc bảo chi thường được sử dụng cho hai đơn vị mua bán không tín
nhiệm nhau.
Tiền gửi để bảo chi Séc không được trả lãi vì đây là một loại tiền gửi mang
tính chất bắt buộc.
Ngân hàng làm thủ tục bảo chi và đóng dấu bảo chi lên mặt trước của tờ Séc
trước khi giao cho khách hàng. Séc bảo chi được thanh toán cho hai khách hàng có
mở tài khoản ở cùng một Ngân hàng hoặc khác Ngân hàng nhưng cùng hệ thống
hoặc khác hệ thống nhưng có tham gia thanh toán bù trừ.
Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng phải kiểm tra các yếu tố, nhất là chữ ký
và con dấu của Ngân hàng bảo chi trước khi nhận, nếu sơ suất gây thiệt hại thì Ngân
hàng này phải chịu trách nhiệm.
Với số tiền bảo chứng được lưu ký đã đảm bảo cho Séc bảo chi có khả năng
thanh toán cao nên sử dụng Séc bảo chi ít rủi ro và đảm bảo quyền lợi cho người thụ
hưởng. Vì được Ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, nên Séc bảo chi đơn giản
được khâu luân chuyển chứng từ, không cần thiết phải kiểm tra số dư trên tài khoản
nên thời gian thanh toán được giảm bớt. Với những ưu điểm đó, Séc bảo chi trở thành Séc có uy tín và có phạm vi sử dụng thanh toán rộng rãi nhất trong các loại
Séc.
1.2.3.2.2. Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền.