428 Nâng cao chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh Ngân hàng Công thương KVII Hai bà trưng Hà Nội - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chúng ta cần khẳng định rằng không thể thực
hiện đợc các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nớc, cũng nh các mục
tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng nếu nh không có vốn. Đối với các
NHTM với t cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong
lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng. NHTM là đơn vị
chủ yếu cung cấp vốn thu lãi. Nhng để cung cấp đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị
trờng, ngân hàng sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài. Vì vậy, các NHTM rất
chú trọng đến vấn đề huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của
mình. Có thể nói hoạt động huy động các nguồn khác nhau trong xã hội là lẽ
sống quan trọng nhất của các NHTM.
Tại Việt Nam việc huy động vốn (khai thác lợng tiền tạm thời nhàn rỗi
trong công chúng, hộ gia đình, của các TCKT-XH hay các TCTD khác) của
NHTM còn nhiều bất hợp lý. Điều này dẫn tới chi phí vốn cao, quy mô
không ổn định, việc tài trợ cho các danh mục tài sản không còn phù hợp
với quy mô, kết cấu từ đó làm hạn chế khả năng sinh lời, buộc ngân hàng
phải đối mặt với các loại rủi ro.v.v. Do đó, việc tăng cờng huy động vốn từ
bên ngoài với chi phí hợp lý và sự ổn định cao là yêu cầu ngày càng trở nên
cấp thiết và quan trọng.
Để tăng cờng huy động vốn ta cần nghiên cứu các hình thức huy động,
các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn nh quy mô, cơ cấu
nguồn huy động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản và không ngừng
tăng trởng ổn định; nguồn vốn có chi phí hợp lý; huy động vốn phù hợp với
sử dụng vốn về mặt kỳ hạn; quản lý tốt các loại rủi ro liên quan đến hoạt
động huy động vốn. Cũng nh phân tích các nhân tố ảnh hởng tới công tác
huy động vốn.

vốn và sự phù hợp với sử dụng vốn trên cơ sở các số liệu của ngân hàng từ năm
2000-2004.
2
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
4. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phơng pháp khoa học: Phơng pháp duy vật biện
chứng, phơng pháp duy vật lịch sử, phơng pháp chỉ số, phân tích, so sánh
và tổng hợp, khái quát hoá và trừu tợng hoá. Sử dụng số liêu thống kê để
luận chứng.
5. Bố cục của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chơng:
Chơng I: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn từ bên ngoài trong
NHTM
Chơng II: Thực trạng hoạt động huy động vốn từ bên ngoài của NHTM CP
Quân đội thời gian qua.
Chơng III: Giải pháp tăng cờng huy động vốn từ bên ngoài tại NHTMCP
Quân đội.
3
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
Chơng 1: lý luận chung về hoạt động
huy động vốn trong NHTM
1.1. Tổng quan về NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
Hiện nay, tuy khái niệm về NHTM ở mỗi nớc có đặc điểm khác nhau nh-
ng đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và
cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong những tổ chức

chủ để tài trợ cho các hoạt động nhng điều đó không kéo dài. Từ hoạt động thực
tiễn, các ngân hàng nhận thấy thờng xuyên có ngời gửi tiền vào và có ngời lấy
tiền ra, song tất cả ngời gửi tiền không rút tiền cùng một lúc, đã tạo số d thờng
xuyên ở két. Do tính chất vô danh của đồng tiền, ngân hàng có thể sử dụng tạm
thời một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên
lợi nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu
hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho ngời gửi tiền. Nh vậy, từ việc giữ
hộ tiền để thu phí, ngân hàng chuyển sang huy động vốn và trả lãi cho việc huy
động số tiền nhàn rỗi, tiềm tàng trong xã hội. Bằng cách cung cấp các tiện ích
khác nhau mà ngân hàng huy động đợc ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để
mở rộng các hoạt động của ngân hàng.
Bớc chuyển mình lớn nhất của hệ thống ngân hàng bắt đầu từ thế kỷ 20 khi
mà các ngân hàng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào hoạt động của
mình. Hàng loạt sản phẩm mới ra đời đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng nh
bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, uỷ thác t vấn, môi giới chứng
khoán.v.v. Ngày nay, ngân hàng đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của
mỗi nền kinh tế. Nó đợc coi là mạch máu của một quốc gia.
1.1.3. Nguồn vốn của NHTM
NHTM cũng nh bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại và phát triển
phải có vốn. Vốn tác động đến kết cấu tài sản và khả năng sinh lời, hạn chế
các loại rủi ro trong hoạt động NHTM. Vốn của NHTM gồm 2 loại cơ bản
nếu phân chia theo hình thức sở hữu là vốn chủ sở hữu và vốn nợ (vốn huy
động từ bên ngoài).
5
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
1.1.3.1. Vốn của chủ sở hữu
a, Khái niệm
Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng đợc luật pháp cho phép

Bao gồm cổ phần phát hành thêm ( hoặc ngân sách cấp thêm ) trong quá
trình hoạt động, lợi nhuận tích luỹ, thặng d vốn, các quĩ ...
Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêm: Ngân hàng có thể phát
hành thêm cổ phần (thờng là cổ phần u đãi) hoặc xin cấp thêm vốn từ ngân
sách để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro trong trờng
hợp cần phải duy trì thị giá của cổ phiếu...
Huy động vốn cổ phần từ cán bộ công nhân viên ngân hàng mình:
Hình thức huy động này huy động vốn từ chính những cán bộ công nhân
viên trong ngân hàng mình, làm cho họ trở thành những cổ đông của ngân
hàng và gắn chặt quyền lợi với quyền lợi chung của ngân hàng. Đây là hình
thức mang tính lâu dài và ổn định cần đợc chú trọng.
Huy động từ lợi nhuận bổ sung VCC, các quỹ dự phòng tài chính, quỹ
trợ cấp, quỹ khen thởng là các loại quỹ khác: Nếu nh lợi nhuận để lại của
ngân hàng đủ để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thờng đây
chính là nguồn bổ sung quan trọng nhất. Nguồn bổ sung này có thể lấy trực
tiếp từ các quỹ nh: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp.v.v. Mặc dù vậy khó
nhất là phải xác định đợc khi nào thì đợc phép trích lập từ các quỹ trên để làm
nguồn vốn bổ sung, tỉ lệ trích lập ra sao cho hợp lý.
Vốn bổ sung bằng phát hành giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành
cổ phiếu: Một số ngân hàng coi cổ phần u đãi có thời hạn, các trái phiếu
dài hạn cũng thuộc VCC mặc dù chúng mang nhiều tính chất của một khoản
nợ. Tuy nhiên, phần này thờng bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ.
c, Vai trò
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trng trong
kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay. Theo quy định của NHNN Việt
Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ,
song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng.
Vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ ngời gửi tiền: Kinh doanh ngân hàng th-
ờng xuyên đối đầu với rủi ro. Các khoản tổn thất của ngân hàng sẽ đợc bù đắp
7

8
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
thích các doanh nghiệp, dân c gửi và cho vay. Thu nhập gia tăng là điều kiện
để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn nguồn tiền gửi.
Các yếu tố khác nh địa điểm ngân hàng, các loại hình huy động... đều ảnh
hởng tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền.
- Tiền vay
Tỷ trọng nguồn này thấp hơn so với nguồn tiền gửi. Khác với nhận tiền gửi,
ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thờng xuyên chỉ vay lúc cần thiết và
hoàn toàn chủ động quyết định khối lợng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng. Các
khoản vay thờng có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi
nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao. Hơn nữa vay NHNN phụ thuộc rất
lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nguồn khác
Phần lớn các nguồn này ngân hàng không phải trả lãi. Tuy nhiên, chi
phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể. Nhìn chung, các nguồn khác
trong ngân hàng thờng không lớn.
c, Vai trò
Có thể nói nếu vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng để ngân hàng đợc đi
vào hoạt động và là đệm đỡ không thể thiếu của ngân hàng thì vốn nợ lại là yếu
tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Trên cơ sở vốn nợ tạo lập, ngân hàng sử dụng để cho vay, đầu t vào
chứng khoán, mua sắm tài sản cố định, tiền gửi tại ngân hàng khác và phải
đợc thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng thanh toán. Qui
mô, cơ cấu của các nhóm tài sản này đợc xác định một phần căn cứ vào qui
mô, cơ cấu vốn nợ.
Thêm vào đó, tính ổn định về chi phí và thời hạn của vốn nợ quy định số
tiền phải dự trữ là cơ sở cân nhắc đầu t bao nhiêu vào chứng khoán ngắn hạn nên

Ngân hàng đợc nhận tiền gửi của các TCKT, cá nhân và các TCTD khác
10
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
dới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền tửi có kỳ hạn và tiền gửi khác -
Điều 45 Luật các TCTD số 03/1997/QH10.
Tiền gửi phân loại theo kỳ hạn bao gồm :
- Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch):
Khi tiền mặt (hoặc Séc từ một ngân hàng khác) đợc gửi vào ngân hàng A,
nếu muốn sẽ có thể rút tiền ra hoặc chi tiêu vào bất cứ lúc nào, ngân hàng A sẽ
sắp xếp tiền gửi đó vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với
thời gian không xác định. Ngời vừa mới gửi tiền vào buổi sáng, nếu cần có thể
rút ra ngay vào buổi chiều. Nếu không có nhu cầu sử dụng, có thể mời bữa nửa
tháng hoặc một năm sau mới rút ra. Tính bất định về thời gian gửi, cùng với đặc
điểm có thể rút ra bất cứ lúc nào cần đã làm cho loại tiền gửi này còn có tên gọi
tiếng Anh là Demand deposit.
Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không đợc trả lãi và bao
gồm 2 loại sau:
+ Tiền gửi thanh toán: Đó là khoản tiền gửi không kỳ hạn trớc hết đợc sử
dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các
khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thờng xuyên, an
toàn và thuận tiện.
Đối với tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thờng
đợc thực hiện bằng séc hay chuyển khoản.
Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc d nợ, có lúc d có.Với tài khoản
này, khách hàng còn có thể đợc ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong
một khoảng thời gian nhất định. Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không
kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng
vào bất cứ lúc nào.

Các NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo
rút (tức khi muốn rút ra phải báo trớc).
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi
tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tơng đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần
lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng
12
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau vói mức lãi
suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm : Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của
đân c cha sử dụng cho tiêu dùng. Các tầng lớp dân c đều có các khoản thu
nhập tạm thời cha sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có
khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện
các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt
là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân
hàng đều cố gắng khuyến khích dân c thay đổi thói quen giữa vàng và tiền
mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lới huy động, đa ra các hình thức huy
động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh
toán hộ và một số mục đích khác, các TCTD có thể gửi tiền tại ngân hàng.
Tuy nhiên, quy mô nguồn này thờng không lớn.
b, Huy động vốn vay
Vốn đi vay là quan hệ vay mợn giữa NHTM và NHTW hoặc giữa các
NHTM với nhau hay với các TCTD khác.
Các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn huy động của mình khi ngân
hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động, hay nói
cách khác tạm thiếu vốn khả dụng.
Trong trờng hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng đợc cho đủ nhu cầu sử

bảo và kiểm soát nhất định.
Thông thờng NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thơng phiếu có
chất lợng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với
mục tiêu của ngân hàng Nhà nớc trong từng thời kỳ. Còn trong điều kiện
cha có thơng phiếu, NHNN cho NHTM vay dới hình thức tái cấp vốn
theo hạn mức tín dụng nhất định.
Một điều cho thấy, đặc biệt là ở những nớc có nền kinh tế phát triển, cho dù
NHTW áp dụng mức lãi suất tái chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thế
14
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
nào đi nữa thì NHTW vẫn phải cho các NHTM vay khi NHTM bị kẹt thanh toán
để tránh những cơn khủng hoảng tài chính không đáng xảy ra và thực hiện tốt
chức năng là là ngời cho vay cuối cùng đối với các NHTM.
Đứng về phía NHTM, vay tại NHTW là một dịch vụ hết sức tiện lợi
vào những khi NHTW hạ lãi suất chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền
tệ nới lỏng để kích thích đầu t.
Trong trờng hợp khi NHTM đến vay giữa lúc NHTW đang thắt chặt
cung ứng để chống lạm phát. Lúc đó lãi suất chiết khấu đợc đa lên cao với
những khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của NHTW, các NHTM chỉ miễn c-
ỡng vay trong những tình huống thắt chặt ngặt nghèo, và tìm mọi cách trả
nợ rất nhanh. Khi đó các khoản vay này chỉ chiếm một phần rất ít trong
tổng tài sản nợ.
Tùy vào yêu cầu điều tiết của nền kinh tế mà NHTW có thể hạ hoặc
nâng lãi suất chiết khấu. Song dù sao đây cũng là nguồn cuối cùng đối với
hoạt động vốn của các NHTM.
c, Huy động vốn qua hình thức vay các TCTD khác
Đó là nguồn các NHTM vay lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên
thị trờng liên ngân hàng hay thị trờng tiền tệ. Đây là hình thức cho vay, nh-

nhỏ trong tổng nguồn tiền gửi bằng nội tệ. Nguồn tiền gửi của các TCTD khác
thờng có mức độ tăng trởng khá cao nhng chủ yếu là nguồn trong thanh toán,
ngân hàng cũng không sử dụng nhiều nguồn này để cho vay và đầu t.
Đi vay bằng nội tệ: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM.
Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thờng vay mợn thêm. Tại nhiều nớc NHTW
thờng quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu. Do vậy
nhiều NHTM vào những giai đoạn cụ thể phải vay mợn thêm để đáp ứng
nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Việc đi vay bằng đồng
nội tệ chủ yếu là để đáp ứng sự thiếu hụt dự trữ.
b, Huy động vốn bằng ngoại tệ:
Tiền gửi bằng ngoại tệ cuả các tầng lớp dân c : Tiền gửi bằng ngoại
16
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
tệ của các tầng lớp dân c chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc huy động vốn bằng
ngoại tệ luôn bị tác động mạnh bởi lãi suất ngoại tệ trên thị trờng quốc tế
và tính trạng khan hiếm tiền đồng VND.
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất cho vay từ đó
lãi suất huy động bằng USD của các ngân hàng luôn giảm mạnh, hệ quả là
ngời dân chuyển sang dùng đồng tiền có giá (đổi USD sang VND chuyển
sang gửi tiết kiệm bằng đồng VND để hởng lãi suất cao hơn).
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH : Đây chủ yếu là các khoản
tiền gửi trong thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn ngắn thờng từ 1-3 tháng.
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD khác : Nguồn tiền này chiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng số vốn huy động bằng ngoại tệ. Tại Việt Nam đối t-
ợng cho vay chủ yếu là các NHTM nhà nớc.
Tiền vay bằng ngoại tệ: cũng giống nh tiền vay bằng nội tệ, chỉ khi thật sự
cần thiết NHTM mới đi vay nhất là bằng ngoại tệ với lãi suất cao và đầy biến
động. Do vậy lợng vay này thờng nhỏ.

trong nớc không đợc quyết định đơn thuần chỉ bằng bởi lãi suất nớc ngoài, tỷ
lệ thay đổi kỳ vọng trong tỷ giá hối đoái và mọi chi phí rủi ro mà còn bị ảnh
hởng mạnh mẽ bởi điều kiện thị trờng trong nớc, bao gồm cung và cầu trong
nớc đối với tín dụng, cấu trúc của hệ thống tài chính trong nớc và tình trạng
lạm phát mong đợi.
b, Huy động vốn nớc ngoài
Xét theo lịch sử, phần lớn các khoản vốn nớc ngoài chảy vào các nớc
đang phát triển là mang tính chất dài hạn hoặc trung hạn (trái phiếu, viện trợ
hoặc các khoản cho vay bằng đồng tiền ngoại tệ). Hầu hết chúng đợc sử
dụng vào các dự án và do vậy là nhằm mục đích thúc đẩy tăng tr ởng kinh tế.
Đối với những nớc có khó khăn về nguồn vốn trong nớc hoặc về dự trữ ngoại
hối, thì việc tiếp cận đợc với vốn nớc ngoài sẽ có thể giúp giải quyết đợc
nhiều trở ngại của nền kinh tế.
18
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
Hiện nay, đối với các NHTM ở Việt Nam đợc phép huy động vốn của các
tổ chức nớc ngoài qua các hình thức sau:
+ Vay bằng tiền (vay tài chính)
+ Nhập khẩu hàng hoá dịch vụ trả chậm theo phơng thức mở th tín dụng.
+ Thuê tài chính nớc ngoài.
+ Phát hành trái phiếu ra nớc ngoài.
+ Các loại hình vay nớc ngoài khác.
Để huy động vốn từ nớc ngoài thì các NHTM phải có các điều kiện theo
quy định của Ngân hàng nhà nớc ban hành theo thông t số 03/1999/TT-NHNN
ngày 12 tháng 08 năm 1999 chỉ đợc sử dụng vốn vay nớc ngoài để bổ sung vốn
tín dụng và phải sử dụng đúng mục đích vốn vay.
Các NHTM cần có những giải pháp sử dụng nguồn vốn tín dụng có
hiệu quả và đặc biệt nên sử dụng vào việc triển khai các chơng trình quốc

bắt buộc hay để đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách trong thời gian ngắn. Việc vay
vốn này lãi suất thờng cao nên các NHTM chỉ khi thực sự cần thiết cấp bách
mới huy động thông qua hình thức này.
- Chứng th tiền gửi loại lớn: Đây là hình thức đơn giản của chứng th
giống nh tín phiếu do các NHTM Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đã
phát hành trong năm 1995. Giá trị bề mặt của tín phiếu hoặc chứng th có thể
thấp hơn theo mức thu nhập của nhân dân. Ví dụ 500.000, 1.000.000,
2.500.000 hoặc 5.000.000 nh ở Việt Nam. Đứng về phía những ngời sở hữu
chứng th hay tín phiếu, nó là một khoản đầu t, một khoản cho ngân hàng
vay với lãi suất cố định, và cũng là tiền, là tài sản. Đứng về phía ngân hàng,
mỗi khi phát hành tín phiếu hay CDs, nó đã và đang huy động vốn của thị
trờng để hoạt động. Đây là loại vốn ngắn hạn, dùng để giải quyết những nhu
cầu về tiền mặt. Loại tài sản nợ này, đối với ngân hàng là một hình thức của
tiền gửi có kỳ hạn. Cái khác là ở chỗ loại chứng th này hoàn toàn không đổi
thành tiền mặt đợc khi cha đến hạn (tiền gửi có kỳ hạn có thể chuyển nếu
20
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
chịu lãi suất phạt). Do vậy, vốn thu đợc từ phát hành chứng th CDs hoặc tín
phiếu giúp ngân hàng chủ động trong việc kinh doanh hơn so với vốn từ tiền
gửi có kỳ hạn.
- Các khoản huy động USD ngoài nớc: Các NHTM cũng có thể tìm kiếm
nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để huy động tiền ở nớc ngoài.
Vì loại tiền thông dụng nhất trong thanh toán quốc tế hiện nay là USD cho nên
vay tiền ở nớc ngoài thờng là vay bằng USD. Khoản vay này dùng để phục vụ
các thơng vụ bảo đảm tín dụng cho kinh doanh xuất nhập khẩu... ở nhiều nớc
trong đó có Việt Nam việc phát hành loại trái phiếu Euro dollars (Euro dollars
tức là những khoản tiền gửi bằng đôla Mỹ thuộc các ngân hàng nằm ngoài nớc
Mỹ) chỉ đợc giới hạn vào một số ngân hàng đặc biệt nh Ngân hàng Ngoại thơng

thông qua các ngân hàng đại lý hoặc đợc ngân hàng Đầu t. Khả năng huy
động còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trờng tài chính, tạo khả
năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ vay
mợn này rất phức tạp. Hơn nữa tại Việt Nam, thị trờng vốn đặc biệt là thị
trờng chứng khoán đợc ví nh một đứa trẻ mới lớn nên việc vay mợn này
hầu nh cha phát triển.
1.2.1.5. Huy động vốn từ các cá nhân, hộ gia đình và tổ chức kinh tế:
Các NHTM với t cách là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính
trung gian, nhận tiền gửi từ khách hàng có tiền nhàn rỗi hoặc đi vay bằng
cách phát hành các công cụ tài chính nh chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu... để
thu hút vốn.
Đối với đối tợng khách hàng là các tổ chức kinh tế: hình thức mà
ngân hàng có thể huy động đợc nhiều nhất là tiền gửi giao dịch.
Thông qua việc làm trung gian thanh toán và chuyển hoá các phơng tiện
thanh toán, các ngân hàng thu hút đợc số lợng lớn các tổ chức mở tài khoản
tạo ra tiền gửi giao dịch. Đây là nguồn có chi phí thấp nên các NHTM thờng
xuyên cải tiến các phơng tiện, nâng cao công nghệ thanh toán để thắng thế
trong việc hấp dẫn khách hàng gửi tiền và bán thêm các dịch vụ. Các doanh
nghiệp, TCKT thờng mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một hoặc một số
22
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
NHTM nhất định, khi cần thiết yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả tiền cho bên
thụ hởng một cách nhanh chóng và tính chất của tài khoản này là thanh toán
theo yêu cầu. Qua đó ngân hàng vừa là thủ quỹ, vừa cung cấp dịch vụ thanh
toán theo yêu cầu của khách hàng.
Một trong những yêu cầu bắt buộc khi một doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh phải mở tài khoản giao dịch tại một NHTM, tài khoản này một mặt là nơi
thu nhận tiền từ những ngời mua hàng hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp này cung

định nhiều loại kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng lựa chọn, có thể kỳ hạn 3
tháng, 6 tháng, 12 tháng để thu hút tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Hình thức đi vay này chính là phát hành giấy tờ có giá ra thị tr ờng
vốn: kỳ phiếu, trái phiếu, giấy chứng nhận tiền gửi, để phục vụ cho các cá
nhân, hộ gia đình hay các TCKT có vốn nhàn rỗi, có nhu cầu đầu t vào
những nơi an toàn cao và thu lợi nhuận nhiều. Để huy động thông qua hình
thức này với khối lợng lớn theo nhu cầu lãi suất từng thời kỳ, NHTM phát
hành kỳ phiếu, trái phiếu với lãi suất hấp dẫn hơn vì đối tợng khách hàng
này rất quan tâm đến thu nhập từ tài sản của họ. Tại Việt Nam việc huy
động này từ các cá nhân, hộ gia đình và TCKT hầu nh cha có gì khác hẳn
với các nớc phát triển đây là hình thức huy động thu hút đợc khá đông mọi
ngời và tổ chức tham gia.
1.2.1.6. Huy động vốn từ các nguồn bên ngoài khác
a, Vốn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn
trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quĩ để mở L/C...) . Những
ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có thể kết số d từ tiền của
các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
b, Vốn vay từ công ty mẹ (Parent company)
Tại các nớc đã phát triển, một công ty hoặc một tập đoàn kinh doanh có
thể là chủ của từ 1 đến rất nhiều NHTM. Thay vì ngân hàng phát hành trái
phiếu hoặc giấy nợ để vay, có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của
24
Chuyên đề tốt nghiệp

Nguyễn Việt Anh
NHTW về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục, các công ty mẹ của ngân hàng có
thể thay thế nó làm việc đó dới hình thức phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu
công ty hoặc các loại thơng phiếu, rồi chuyển vốn đã huy động đợc về cho
ngân hàng hoạt động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status