Đề Bài:
Phân tích tác động của Đòn Bẫy đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp.
Liên hệ thực tiễn DN sử dụng đòn bẫy trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
A/ Mục lục:
B/Lời mở đầu
C/ Phân tích đòn bẫy ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, bất động sản.
I/ Thị trưởng bất động sản
II/ Thị trường chứng khoán
D/ Phân tích tác động của đòn bẫy đến chính sách tài trợ doanh nghiệp.
1.Đòn bẫy hoạt động và một số chỉ tiêu
2.Đòn bẫy tài chính và một số chỉ tiêu
E/ Thực tiễn
I/ Giới thiệu sơ lược về công ty Cao Su Đà Nẵng (DRC)
II/ Phân tích việc sử dụng đòn bẩy của Công Ty Cao Su Đà Nẵng (DRC)
F/Kết luận.
1
B.Lời Mở Đầu
Mặc dù không ai muốn nhưng trên thực tế rủi ro vẫn cứ luôn song hành trong
cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng
của doanh nghiệp. Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là nhằm tối đa
hóa lợi nhuận. Trong điều kiện các nguồn lực của doanh nghiệp là hữu hạn cho nên đòi
hỏi doanh nghiệp phải luôn cân nhắc, tính toán, lựa chọn những giải pháp cho một vấn
đề, phương án thực hiện cho một công việc dự định. Để có lựa chọn tốt nhất, người ta sẽ
phải so sánh mục tiêu mong muốn sao cho với chi phí bỏ ra thấp nhất trong thời gian
cho phép nhưng đạt được doanh thu cao nhất và lợi nhuận thu được ở mức tối đa, tức là
đồng nghĩa với việc hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra.
Vấn đề đặt ra là để làm được điều này, đòi hỏi các nhà quản lý tài chính phải
thật am hiểu những vấn đề cơ bản và mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố: đòn
bẩy, rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, điểm hòa vốn, độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh,
độ nghiêng đòn bẩy tài chính, độ nghiêng đòn bẩy tổng hợp…Thông qua phân tích tác
động qua lại giữa các yếu tố trên, các nhà quản trị sẽ đánh giá đúng đắn nhất kết quả
đầu tư sử dụng quá nhiều đòn bẩy phải bán ra đã dẫn tới làn sóng bán tháo bất động sản,
quá trình giảm đòn bẩy (de-leveraging) đã lan ra các lĩnh vực khác (doanh nghiệp, tiêu
dùng cá nhân) khiến khủng hoảng trở nên rất trầm trọng.
II/ Thị trường chứng khoán:
. Đối với thị trường chứng khoán, đòn bẩy tài chính được áp dụng chủ yếu trong thời
kỳ thị trường tăng trưởng trong năm 2009.
Đòn bẩy tài chính, tuy nhiên, cũng được cho là một trong những nguyên nhân dẫn tới
việc chỉ số chứng khoán biến động rất mạnh trong năm 2009.
Tính rủi ro hệ thống của thị trường cũng tăng lên tương ứng với mức độ sử dụng đòn
bẩy tài chính trung bình của nhà đầu tư. Khi thị trường đi xuống, nhà đầu tư sử dụng
đòn bẩy tài chính sẽ lập tức bán ra khi đã chạm ngưỡng cắt lỗ của mình nhằm giảm
thiểu rủi ro.
Điều này tạo ra một lượng cung áp đảo lực cầu và khiến chỉ số tiếp tục đi xuống sâu
hơn. Ngược lại, sau khi tạo đáy và đi lên, thị trường cũng sẽ gặp những lực cản mạnh từ
những người sử dụng đòn bẩy tài chính (và chưa cắt lỗ khi thị trường đi xuống).
Một số nhà đầu tư (NĐT) VIP do thua lỗ khá nặng nên quyết tâm gỡ gạc bằng cách sử
dụng margins (đòn bẩy tài chính) với tỷ lệ cao hơn. Nhưng do từ đầu năm đến này, tín
dụng cho chứng khoán bị siết, nên muốn vay cũng không hề đơn giản. Nhưng sử dụng
đòn bẩy càng lớn, khi thị trường sụt giảm, lại lỗ càng nhiều và những trường hợp NĐT
bị cháy tài khoản, CTCK cấp margins bị âm vốn liên tục xảy ra.
Giá cổ phiếu liên tục suy giảm khiến nhà đầu tư sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính trắng
tay. Công ty chứng khoán cũng rơi vào thế bí trong việc xử lý nợ.
TTCK đang ở trong giai đoạn buồn tẻ nhất đối với nhà đầu tư. Khác với giai đoạn suy
thoái năm 2008 - thị trường liên tục lao dốc nhưng vẫn có sóng hồi phục đủ mạnh, gần
đây thị trường giảm điểm chậm nhưng kéo dài triền miên khiến nhà đầu tư từ lỗ đến lỗ,
nhất là các nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính.
Giá đắt của Đòn bẫy tài chính.
Đòn bẩy tài chính là cụm từ rất “hot” trong giai đoạn thị trường sôi động. Nhiều hình
thức hợp tác đầu tư, dịch vụ tài chính cũng đang được sử dụng, nhất là việc sử dụng
ĐBTC đã làm cho không ít nhà đầu tư trắng tay.
tài chính có thể đem lại hiệu quả cao hơn đối với nhóm người trẻ tuổi có độ chấp nhận
rủi ro cao vì có thể giúp nhóm này đa dạng hóa danh mục đầu tư theo thời gian. Ở các
nước phát triển, nhà đầu tư cá nhân vào các quỹ quản lý tài sản thường phải làm các test
liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, qua đó nhà quản lý tiền có thể đưa ra các sản
phẩm phù hợp với từng đối tượng.
Cần tuân thủ kỷ luật đầu tư. Đây là yếu tố tiên quyết nếu bạn sử dụng đòn bẩy. Thứ
nhất, bạn cần tuân thủ việc cắt lỗ: xác định mất mát tối đa và có sự cắt lỗ hợp lý khi thị
trường diễn biến không theo ý đồ đầu tư, ít nhất là đối với phần vốn vay. Thứ hai,
không sử dụng đòn bẩy để mua trung bình giá khi thị trường đi xuống vì điều này chỉ
khiến cho các khoản nợ ngày càng trầm trọng. Thứ ba, tránh việc sử dụng đòn bẩy gấp
thếp. Nhiều nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy và thành công trong một vài phiên giao dịch
đầu và tiếp tục “gấp thếp”, tiếp tục sử dụng đòn bẩy với mức độ cao tương đương hay
cao hơn trên toàn bộ phần vốn và lãi đạt được.
Thực tế thì những người sử dụng đòn bẩy sau một vài lần thành công có xu hướng cho
rằng vận may sẽ tiếp tục đến và mình sẽ rút khỏi thị trường khi đang trên đỉnh cao,
nhưng trong phần lớn các trường hợp điều này không xảy ra. Một diễn biến không đúng
ý đồ của nhà đầu tư sẽ khiến cho một phần lớn tài sản bay hơi chỉ trong một lần sai sót.
Hạn chế tối đa việc sử dụng đòn bẩy vào các tài sản không có tính thanh khoản. Nếu
đầu tư vào các tài sản này, nhà đầu tư cần nắm được họ sẽ đối mặt với cả 3 rủi ro chính
là rủi ro mất giá, rủi ro đòn bẩy và rủi ro thanh khoản.
Việc sử dụng đòn bẩy nên tập trung vào các tài sản có tính thanh khoản cao như cổ
phiếu blue chip so với cổ phiếu penny, hay các bất động sản có tính thanh khoản cao so
với các bất động sản ở địa bàn có cầu mua thấp. Nên bắt đầu sử dụng thử đòn bẩy với
quy mô nhỏ để thử nghiệm và việc sử dụng đòn bẩy nên là một phần của một kế hoạch
đầu tư có kỷ luật và có tính khả thi. Việc sử dụng đòn bẩy cần có kế hoạch rõ ràng, nhà
đầu tư cần phác thảo ra các trường hợp sẽ xảy ra trong tương lai và hành động của họ
trong từng trường hợp.
4
Tránh việc sử dụng đòn bẩy tối đa: Đây là sai lầm mà những người mới sử dụng đòn
bẩy thường hay gặp phải. Việc sử dụng đòn bẩy quá khả năng chịu đựng về tài chính
lợi trên vốn chủ sở hữu(ROE) và lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.Đòn bẫy hoạt động:
1.1 Đòn bẫy hoạt động.
a.Đinh nghĩa:
Là việc doanh nghiệp sử dụng chi phí cố đinh để khuếch đại tác dụng của sự thay đổi
trong doanh thu lên EBIT.
b. Ý nghĩa:
Sử dụng đòn bẫy hoạt động sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng lợi nhuận, nhưng nếu sử
dụng quá cao sẽ làm cho EBIT giảm dần.
Trong những thời gian tốt, đòn bẩy hoạt động có thể giúp công ty gia tăng tốc độ tăng
trưởng lợi nhuận. Nhưng trong những khoảng thời gian xấu, nó lại có thể tạo ra một sự
sụp giảm lợi nhuận nhanh hơn. Như vậy đòn bẩy kinh doanh của công ty biến động
cũng có thể nói cho biết rất nhiều về triển vọng của công ty đó.
1.2 Phân tích điểm hòa vốn.
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí mà doanh nghiệp bỏ
ra.
5
Sản lượng hòa vốn:
QBE = F/P-V
Tại mức sản lượng này, DN hòa vốn (EBIT bằng 0)
Doanh thu hòa vốn:
SBE = QBE.P
(Hoặc nhiều đơn vị sản phẩm: SBE =F /1- (VC/S) )
1.3 Rủi ro kinh doanh
Đòn bẩy hoạt động của một doanh nghiệp có thể nói cho ta biết nhiều điều về doanh
nghiệp đó cũng như rủi ro của nó. Mặc dù đòn bẩy hoạt động cao có thể tạo thêm lợi ích
cho công ty. Các công ty có sử dụng đòn bẩy kinh doanh cao cũng được xem là có khả
năng biến động lớn khi nền kinh tế có biến động và cũng chịu ảnh hưởng mạnh theo chu
kỳ kinh doanh. Và như đã nói ở trên, trong những khoảng thời gian tốt đẹp, một đòn bẩy
hoạt động cao có thể giúp tăng lợi nhuận. Nhưng các công ty có các chi phí “cột chặt"
Là việc doanh nghiệp sử dụng định phí tài chính nhằm khuếch đại tác động sự thay đổi
của LNTT&lãi vay (EBIT) lên thu nhập mỗi cổ phiếu (EPS) hoặc ROE. Hay nói cách
khác là khả năng sử dụng nợ để tăng khả năng sinh lợi từ vốn chủ sở hữu.
6
Vai trò của nguồn vốn rất quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Để sử dụng
nguồn vốn hiệu quả tránh được rủi ro về tài chính DN cần chú ý đến nguồn vốn nợ.
Điều này được biểu hiện thực tế qua vấn đề sử dụng đòn bẫy tài chính và các hệ số lien
quan.
Nguồn vốn mà các doanh nghiệp thường có là các nguồn vốn chủ sỡ hữu và nguồn vốn
vay nợ. Đó là 2 kênh tài chính mà tỷ trọng nguồn vốn có vai trò rất lớn trong việc sản
xuất kinh doanh củadoanh nghiệp. Các DN cần đặc biệt quan tâm tới việc quản lí và
kiểm soát nguồn vốn vay nợ. Đòn bẫy tài chính là một trong những tiêu chí đầu tiên để
DN đưa ra được hiểu quả của việc sử dụng nguồn vốn vay của mình
Đòn bẫy tài chính là khái niệm chỉ mức độ nợ và tác động của nợ trong cơ cấu nguồn
vốn kinh doanh của DN. Hệ số đòn bẫy tài chính có mục đích xác định mức độ thành
công của công ty khi sử dụng nguồn vốn bên ngoài tăng hiệu quả số vốn tự có đang
đươc sử dụng để tạo ra lợi nhuận.
2.2 Các hệ số đặc trưng của đòn bẫy tài chính:
a.Tỷ lệ nợ / vốn chủ sở hữu
Là hệ số so sánh tài sản của chủ doanh nghiệp qua vốn đầu tư và tài sản do các tổ chức
tín dụng cung cấp thông qua các khoản vay. Hệ số này được tính bằng tổng nợ chia cho
tổng vốn CSH.
Nếu DN nợ quá nhiều, rủi ro xuất hiện có thể làm mất đi vốn của chủ DN và công ty và
công ty không thể trả được các khoản nợ. Nhưng ngược lại nợ quá ít công ty không có
vốn tạo ra được lợi nhuận.
b.Tỷ suất lợi nhuận trước thuế & lãi vay
(tỷ suất này còn gọi là khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh)
Tỷ suất này chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa vốn kinh doanh sử dụng nợ với lợi
nhuận đồng vốn tạo ra.
Tỷ suất lợi nhuận trước =(lợi nhuận trước thuế& lãi / vốn kd bq trong kì) .100%
Nẵng
Điện thoại : 0511.3950824 – 3954942 – 3847408
Fax : 0511.3836195 – 3950486
Email : [email protected]
Website : http://www.drc.com.vn/, http://www.drc.vn/
Lĩnh vực kinh doanh.
+ Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm cao su và vật tư thiết bị cho
ngành công nghiệp cao su,
+ Chế tạo lắp đặt thiết bị ngành công nghiệp cao su
+ Kinh doanh thương mại dịch vụ tổng hợp
Một số hình ảnh Thiết bị , nhà xưởng II/ Phân tích việc sử dụng đòn bẩy của Công Ty Cao Su Đà Nẵng (DRC)
1. Đòn bẫy hoạt động:
Chỉ tiêu 2009 2010
Chi phí phải trả CNV 29,563 45,955
Chi phí quản lí doanh nghiệp 39,744 40,485
Chi phí khấu hao TSCD 423,735 473,510
Tổng chi phí 493,092 559,950
Tổng doanh thu 1,820,240 2,160,139
Tỷ số đòn bẫy hoạt động 0.27 0.26
Nhận xét:
Qua số liệu trên ta có thể nhận xét như sau:
8
Trong năm 2009 tỷ số ĐBHĐ là 0,27 trong khi đó năm 2010 chỉ có 0,26. Điều đó thể
hiện việc sử dụng đòn bẫy hoạt động của năm 2010 kém hơn năm 2009 nên làm cho
EBIT của năm 2010 thấp hơn năm 2009( 260,948 < 394,527 ).Vì đây là doanh nghiệp
sản xuất việc sử dụng ĐBHĐ cao là tốt.Do đó năm 2010 DN chưa phát huy tốt ĐBHĐ
so với năm 2009.
Lợi nhuận sau thuế 393,275 196,184
Vốn CSH bq trong kì 387,258 645,070
Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH 101.55 30.41
Nhận xét:
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ suất vốn CSH năm 2010 thấp hơn so với năm 2009 là
71.14%.Nó phản ánh vốn đầu tư của chủ đầu tư bỏ ra đem lại lợi nhuận sau khi đã hoàn
thành nghĩa vụ đóng thuế năm 2010 thấp hơn 2009 .Như vậy tỷ suất sinh lợi từ vốn
CSH của năm 2010 kém hơn so với năm 2009 vì DN trong năm 2010 đã phải dùng vốn
CSH của mình để bù đắp cho các khoản vay nợ nhiều hơn năm 2009.
9
2.4 Chỉ tiêu ROE
Chỉ tiêu 2009 2010
Nợ phải trả 226,561 332,542
Tổng tài sản 785,049 1,064,193
Hệ số nợ 0.2886 0.3225
ROA 50.095 18.43
ROE 70.41 26.81
Nhận xét:
Qua số liệu trên ta thấy với ROA thay đổi, mà ROA của 2009 lớn hơn 2010 nên nó có
đủ khả năng để bù đắp khoản nợ của doanh nghiệp. Do đó thu nhập tạo ra của năm 2009
sẽ nhiều hơn so với 2010 với hệ số nợ của 2010 cao hơn so với 2009.
Như vậy ta thấy rằng việc sử dụng đòn bẫy hoạt động và đòn bẫy tài chính của DN
trong năm 2009 tốt hơn 2010, nó đem về lợi nhuận cao hơn khi doanh nghiệp sử dụng
nguồn vốn vay từ bên ngoài. Việc sử dụng vốn CSH của DN để bù đắp cho các khoản
vay trong năm 2009 cũng thấp hơn 2010. DN cần có những chính sách sử dụng vốn hợp
lí hơn.
F.KẾT LUẬN
Người quản lý trong DN thường có xu hướng chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn
nhiều so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp, và theo đó rủi ro phá sản với doanh
nghiệp cũng cao hơn. Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại cần được áp dụng