Nghiên cứu tình hình Thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2008 - Pdf 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM NGỌC HÙNG
THỊ XÃ TUYÊN QUANG TỪ 1991 ĐẾN 2008 LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ Thái Nguyên 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

LỜ I CẢ M ƠN

Tc gi chân thnh cm ơn GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ, trườ ng Đạ i họ c
Sư phạ m H Nội , ngườ i đã hướ ng dẫ n tá c giả hoà n thà nh luậ n văn nà y . Xin

1.31. Tình hình chính trị 21
1.3.2. Đặc điểm kinh tế 22
1.3.3. Đặc điểm xã hội 25

Chương 2. THỊ XÃ TUYÊN QUANG TRONG GIAI ĐOẠN 1991 – 2000
2.1. Tình hình thị xã Tuyên Quang sau khi tá ch tỉ nh (năm 1991) 29
2.2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng 32
2.2.1. Kinh tế 32
2.2.2. Xã hội 43
2.2.3. Củng cố an ninh - quốc phòng - trật tự an toàn xã hội 47

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Chương 3. THỊ XÃ TUYÊN QUANG TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HOÁ 2001 – 2008
3.1. Tình hình chính trị 52
3.2. Chuyển biến về kinh tế 53
3.2.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 54
3.2.2. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (Đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá) 57
3.2.3. Thương mại - dịch vụ - du lịch 66
3.2.4. Nông, lâm nghiệp và thủy sản 71
3.2.5. Tài chính - ngân hàng 83
3.2.6. Cơ sở hạ tầng - Xây dựng cơ bản và quy hoạch đô thị 85
3.2.7. Hoạt động khoa học - công nghệ 89
3.2.8. Môi trường 90
3.3. Chuyển biến về xã hội 95
3.3.1. Kết cấu dân cư và tốc độ tăng dân số - Lao động, việc làm 95
3.3.2. Giáo dục - đào tạo - văn hóa - thể thao 99
3.3.3. Thực hiện chính sách xã hội 108


PHẦN PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Tổ chức Lễ Phật Đản tại chùa An Vinh thị xã Tuyên Quang

PHẦN PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Lễ hội đền Hạ Đường Bình Thuận, phường Minh Xuân
(thị xã Tuyên Quang).
Đường tránh thị xã Tuyên Quang

Cánh đồng Phường Ỷ La (nhìn từ quốc lộ 2)
PHẦN PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


các dân tộc trong thị xã cũng như toàn tỉnh, củng cố niềm tin vào Đảng, phát
huy truyền thống cách mạng, truyền thống đoàn kết, không ngừng vươn lên
hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Trong giai đoạn hiện nay,
việc cấp thiết của mỗi dân tộc hay từng địa phương cụ thể, vấn đề lịch sử đặt
ra ở hiện tại cũng như cho tương lai đó là sự phát triển bền vững. Theo Hội
đồng thế giới về môi trường và phát triển World Commission and
Environment and Development (WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát
triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế
hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. Như vậy, chúng ta tổng kết
những gì đã đạt được và hạn chế trong thời gian qua, để hoạch định một bước
đi đúng đắn, hướng tới sự phát triển bền vững, theo đường lối đổi mới của đất
nước, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử là một việc làm cần thiết.
Đối với nước ta, các tỉnh miền núi phía Bắc có điểm xuất phát thấp,
kinh tế chậm phát triển và đây vẫn là những vùng nghèo nhất cả nước. Tuy
nhiên trải qua một quá trình, có sự đóng góp của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

sát sao của các cấp chính quyền và những nỗ lực cố gắng vươn lên của đồng
bào các dân tộc nên bộ mặt kinh tế - xã hội miền núi đã thay đổi.
Thị xã Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang là vùng đất có truyền thống
lịch sử lâu đời, với vị trí là phên dậu của đất nước trong thời kì phong kiến.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Bắc,
thị xã Tuyên Quang đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong nhiệm vụ kháng
chiến và làm căn cứ, hậu phương vững chắc của cả nước.
Từ năm 1991, sau quyết định tách tỉnh Hà Tuyên thành tỉnh Tuyên
Quang và tỉnh Hà Giang, thị xã Tuyên Quang với vai trò là trung tâm phát
triển của một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, song đã nhanh chóng bắt tay
vào xây dựng dựa trên phương hướng nhiệm vụ đề ra của Đảng, Nhà nước và
chính quyền địa phương. Từ một nền kinh tế thuần nông, thị xã đã tập trung

Chính phủ và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá
XIV thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển
nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới, đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan hành chính nhà nước từ
tỉnh đến cơ sở nhằm tận dụng tốt các cơ hội, vượt qua thách thức, để Tuyên
Quang phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Thị xã Tuyên Quang (thành phố
Tuyên Quang trong tương lai) là của cả tỉnh Tuyên Quang. Nhân dân Tuyên
Quang lại chung sức, chung lòng xây dựng thị xã Tuyên Quang sớm trở thành
thành phố vào năm 2010
Giai đoạn 1991 đến 2008, thị xã Tuyên Quang đóng vai trò là trung tâm
của một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn. Trong bối cảnh chung của cả tỉnh,
thị xã đã từng bước xây dựng cơ sở vật chất, con người để thoát khỏi khủng
hoảng và tiến tới trở thành một đô thị phát triển. Có thể nói giai đoạn này là
tiền đề để thị xã bước sang một trang sử mới, đó là được công nhận đô thị loại
III từ ngày 10/9/2009, và xây dựng để thị xã Tuyên Quang trở thành thành phố
vào năm 2010.
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Dựa trên các nguồn tư liệu, luận văn này khái quát lại tình hình “Thị xã
Tuyên Quang từ 1991 đến 2008”, qua đó khẳng định những thành quả đã đạt
được và hạn chế còn tồn tại; đồng thời khẳng định thêm sự đúng đắn trong
chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối
phát triển cho mô hình địa phương miền núi phía Bắc.
Đề tài cũng làm rõ thêm về truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của thị
xã Tuyên Quang trong quá khứ và hiện tại.
Lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc. Dạy và
học lịch sử địa phương không chỉ giúp học sinh hiểu về mảnh đất và con

Việt Nam những chặng đường lịch sử 1954 - 1975; 1975 - 2005. NXB
Giáo dục, Hà Nội 2005.
Việt Nam 1954 - 2005 (21 năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước và 30
năm xây dựng bảo vệ Tổ quốc). NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005.
Trần Xuân Minh, Lịch sử Việt Nam 1945 - 2000, Nhà xuất bản Giáo
dục - 2006
Các công trình nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội thời kỳ đổi
mới như tác phẩm "Lịch sử Việt Nam từ năm 1975 đến nay - những vấn đề lý
luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, 1998; "Đổi mới kinh tế - xã hội thành tựu, vấn đề và giải
pháp" của Phạm Xuân Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
Các tài liệu nói trên đã đặt ra những yêu cầu, định hướng cho quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đối với thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, vấn đề “Thị xã Tuyên
Quang từ 1991 đến 2008” được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu
của các cơ quan, cá nhân, các báo cáo của các cơ quan Đảng, chính quyền địa
phương, trong đó có:
- Lịch sử truyền thống xây dựng và phát triển của thị xã Tuyên Quang
được giới thiệu trong cuốn "Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuyên Quang". Cuốn sách
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

đã nêu lên một cách khá đầy đủ, tổng quát về công cuộc xây dựng, phát triển
kinh tế - xã hội thị xã dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm đổi mới.
- Cuốn "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang". Cuốn sách đã nêu lên
một cách tổng quát về công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
- UBND thị xã Tuyên Quang: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội thị xã Tuyên Quang đến năm 2020, Báo cáo tổng hợp, Tuyên Quang,
tháng 8-2007.

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình hình Thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
trong thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2008 trên các mặt kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn không gian: Đề tài giới hạn trong thị xã Tuyên Quang, tỉnh
Tuyên Quang
- Giới hạn về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thị xã Tuyên Quang
từ năm 1991, sau quyết định tách tỉnh Hà Tuyên thành tỉnh Hà Giang và tỉnh
Tuyên Quang, cho đến năm 2008, năm được công nhận trở thành đô thị loại
III.
3.3. Nhiệm vụ đề tài
Nghiên cứu, làm rõ công cuộc xây dựng và phát triển thị xã Tuyên
Quang từ năm 1991, sau quyết định tách tỉnh Hà Tuyên thành tỉnh Hà Giang
và tỉnh Tuyên Quang, cho đến năm 2008, những thành tựu và hạn chế cần
khắc phục. Nhìn nhận những bước đi trong sự phát triển bền vững của thị xã.
Rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế, môi trường và
giải quyết các vấn đề của xã hội trong thời kỳ đổi mới ở địa phương, đề xuất
các giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc phát triển bền vững ở thị xã
Tuyên Quang.
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi dựa vào các tư liệu sau:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các chỉ thị nghị quyết,
báo cáo tổng kết của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, thị uỷ, UBND thị xã Tuyên
Quang trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2009, các số liệu, hệ thống bảng
biểu của trung tâm lưu trữ, Cục thống kê Tuyên Quang, phòng lữu trữ thị xã

Từ kết quả nghiên cứu, luận văn nêu lên đặc điểm, thành tựu, ưu điểm
cũng như những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của thị xã Tuyên Quang trong thời kỳ đổi mới. Từ đó rút ra nhận xét, đánh
giá, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy mọi tiềm năng, sức
mạnh và khắc phục các vấn đề bất cập, tiến tới sự phát triển bền vững.
Luận văn có thể làm tư liệu giáo dục truyền thống lịch sử địa phương,
góp phần làm làm rõ tính đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được chia thành 3
chương.
Chương 1: Khái quát về thị xã Tuyên Quang trước năm 1991
Chương 2: Thị xã Tuyên Quang trong giai đoạn 1991 - 2000
Chương 3: Thị xã Tuyên Quang trong quá trình đô thị hoá 2001 - 2008 10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ XÃ TUYÊN QUANG TRƯỚC NĂM 1991
1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên.
1.1.1. Vị trí địa lí.
Thị xã Tuyên Quang là trung tâm tỉnh lỵ Tuyên Quang. Là tỉnh miền
núi nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, cách Hà Nội khoảng 160 km về phía
Bắc, Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang và Cao Bằng, phía Nam giáp
tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái
Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái.
Thị xã Tuyên Quang có tọa độ địa lý từ 21
0
52’ đến 21

Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và các tỉnh Đông Bắc.[96, tr.10]
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Mặc dù thị xã Tuyên Quang nằm sâu trong nội địa, cách xa cảng, cửa
khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, không có đường hàng không
nhưng do có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy hoàn chỉnh, dày đặc
nên việc thông thương, giao dịch, trao đổi hàng hóa của thị xã với bên ngoài
khá thuận lợi.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên (Địa hình địa mạo)
Địa hình Tuyên Quang tương đối phức tạp và bị chia cắt nhiều bởi hệ
thống sông suối. Thị xã Tuyên Quang nằm trong kiểu địa hình thung lũng:
phân bố dọc theo dòng sông Lô, tạo thành những bãi bồi không liên tục, thuận
lợi cho việc trồng cây nông nghiệp và hoa màu. Kiểu địa hình này thường bị
ngập nước vào mùa mưa lũ. Sự chênh lệch độ cao địa hình giữa các vùng
trong tỉnh khá lớn.Thị xã Tuyên Quang nằm trong khoảng 10% diện tích của
tiểu vùng địa hình đồi thấp và thung lũng: có diện tích không lớn, gồm phần
diện tích thuộc các huyện Yên Sơn, Sơn Dương và thị xã Tuyên Quang. Tiểu
vùng này có các dải đồng bằng tương đối rộng, phân bố dọc thung lũng các
sông, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. [67, tr.13]
Nằm hai bên bờ sông Lô, địa hình thị xã thấp dần theo hướng bắc -
nam. Tả ngạn là dãy núi Tràng Đà - Nông Tiến với một số núi đất và núi đá
xen nhau, có đỉnh núi Dùm cao 400m, ven sông có những cánh đồng hẹp.
Hữu ngạn đất đai tương đối bằng phẳng, có một vài ngọn núi đất thấp như núi
Thổ Sơn, núi Cố. Hai bên tả ngạn, hữu ngạn được nối bởi cầu Nông Tiến, cầu
An Hòa và cầu Tân Hà.
Nhìn chung, địa hình địa mạo thị xã Tuyên Quang khá phức tạp, nội thị
là khu đất khá bằng phẳng, xen lẫn gò đồi thấp, ao hồ, ruộng trũng, cao độ
trung bình cốt 26,5m, có lợi thế hơn cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
và phân bố dân cư so với các khu vực khác trong tỉnh.

ngại cho việc sử dụng nước sông làm nguồn nước cấp sinh hoạt. Thị xã còn
có lượng nước ngầm dồi dào, có ở khắp lãnh thổ và chất lượng tốt đủ tiêu
chuẩn dùng trong sinh hoạt. Mực nước ngầm không sâu và tương đối ổn định,
thuận lợi cho khai thác, kể cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt đời sống
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

nhân dân. Chất lượng nước ngầm trong khu vực nhìn chung là tốt, nước trong,
theo nghiên cứu thì nước không nhiễm cặn, không nhiễm các hợp chất nitơ và
kim loại nặng. Tuy vậy, nước ngầm phân bố không đồng đều theo cấu thành
địa chất. [67, tr.29]
Về tài nguyên khoáng sản: hiện nay thị xã không còn rừng tự nhiên, chỉ
có rừng trồng. Lòng đất thị xã có than và quặng kẽm, song trữ lượng đã bị
khai thác cạn kiệt. Ngoài ra, thị xã Tuyên Quang còn có trữ lượng khá lớn đá
vôi và cát, sỏi, đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng ở địa phương.
Tài nguyên du lịch: Thị xã có cảnh quan thiên nhiên kì thú, nhiều di
tích lịch sử - văn hóa, có tiềm năng phát triển du lịch như: dãy núi Tràng Đà
(Nông Tiến), thác Cổng Trời, động Tiên và nhiều hang động khác. Cùng đó là
hệ thống các đền, chùa như: đền Ỷ La, đền Thượng, đền Cảnh Xanh, đền
Cấm, chùa An Vinh, chùa Trùng Quang, chùa Linh Thông, chùa Hương
Nghiêm có kiến trúc, cảnh quan đẹp, hằng năm thu hút nhiều du khách đến
thăm quan vãn cảnh. Trên địa bàn còn có một số di tích lịch sử như Thành
nhà Mạc được xây dựng từ thế kỉ XVI; đền Hạ xây dựng từ thế kỉ XVIII là
hai di tích lịch sử - văn hóa xếp hạng cấp quốc gia.
Nhờ có những di tích lịch sử cách mạng như: thành nhà Bầu, thành nhà
Mạc, Hòa Mục, Bình Ca, Đá Bàn, Kim Bình, Km7, cầu Cả, đèo Chắn, Hòn
lau… và đặc biệt là khu di tích lịch sử Tân Trào nên từ lâu thị xã Tuyên
Quang được nhân dân trong cả nước coi đây là một trung tâm của các tuyến
tham quan, du lịch các di tích lịch sử cách mạng, các di tích lịch sử văn hóa

cưới, hát Then của dân tộc Tày; hát Soọng cô của dân tộc Sán Dìu; hát Páo
dung và cấp sắc của dân tộc Dao; hát Sình ca của dân tộc Cao Lan.
1.2.2. Truyền thống lịch sử đấu tranh cách mạng.
Thời Hùng Vương, tỉnh Tuyên Quang nằm trong địa vực của nhà nước
Văn Lang và thuộc địa bàn Bộ Vũ Định. Trải qua các thời kì Đinh, Lê, Lý,
Trần, hậu Lê… tỉnh Tuyên Quang thuộc châu Tuyên Quang, Thừa Tuyên
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Quang, Trấn Minh Quang. Đời nhà Nguyễn được gọi là tỉnh Tuyên Quang.
Nửa cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, tháng 4 -1900, toàn
quyền Đông Dương ra nghị định chia Tuyên Quang thành hai tỉnh: Tuyên
Quang và Hà Giang. Tỉnh Tuyên Quang bao gồm 6 châu: Yên Sơn, Sơn
Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang và Yên Bình (tháng 7 – 1956 thị xã
Yên Bình được sáp nhập về tỉnh Yên Bái).
Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, nền kinh tế của thị xã Tuyên
Quang chủ yếu là nông nghiệp. Cư dân thị xã phần nhiều sinh sống bằng nghề
trồng trọt và chăn nuôi; kỹ thuật canh tác lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên. Ngoài chăn nuôi và trồng trọt, cư dân thị xã còn làm nhiều nghề thủ
công như: khai thác, chế biến nông - lâm sản và nghề dệt vải từ sợi bông.
Trải qua các thời kỳ, địa dư hành chính của thị xã Tuyên Quang có
nhiều biến động. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, thị xã Tuyên Quang
chưa là một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, các đơn vị hành chính cơ sở
thuộc địa bàn thị xã Tuyên Quang ngay khi đó đều thuộc châu Yên Sơn. Sau
cách mạng Tháng Tám 1945, tháng 5 - 1946, ủy ban hành chính thị xã Tuyên
Quang được thành lập, thị xã Tuyên Quang trở thành một đơn vị hành chính
trực thuộc tỉnh Tuyên Quang. Địa giới hành chính của thị xã chỉ bao gồm hai
khu phố Xuân Hòa và Tam Cờ nằm trên hữu ngạn sông Lô với diện tích
khoảng 1km
2

Là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, qua các thời kì lịch sử, nhân dân
các dân tộc thị xã Tuyên Quang đã kết tinh những truyền thống quý báu: yêu
nước, đoàn kết, yêu lao động, kiên cường trong đấu tranh và giữ gìn độc lập
dân tộc… Những truyền thống quý báu đó được các thế hệ củng cố, phát huy
và tỏa sáng trong lao động, sản xuất cũng như trong đấu tranh chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.
Từ giữa thế kỷ XIX (năm 1858), thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm
lược Việt Nam, triều đình phong kiến nhà Nguyễn bạc nhược, từng bước đầu
hàng quân xâm lược. Mặc dù vậy, nhân dân thị xã Tuyên Quang vẫn cùng với
nhân dân cả nước tiến hành cuộc chiến đấu chống lại ách thống trị của thực
dân Pháp.

Trích đoạn Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp (Đẩy mạnh công nghiệp hoá, Thương mạ i dịch vụ du lịch Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tài chính ngân hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status