Tài liệu Luận văn: Công cụ tài chính phái sinh Góc nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu - Pdf 10

Luận văn
Công cụ tài chính phái sinh
Góc nhìn từ cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu

LỜI MỞ ĐẦU “Trong suốt những năm qua, chứng khoán phái sinh trở thành công cụ hết
sức hữu hiệu để chuyển giao rủi ro từ những người không sẵn sàng chấp nhận cho
những người sẵn sàng chấp nhận nó”, Alan Greenspan - Nguyên Chủ tịch Cục dự
trữ liên bang Mỹ.
“Chứng khoán phái sinh là loại vũ khí tài chính có sức huỷ diệt kinh khủng,
mang theo những nguy hiểm mà giờ đây - năm 2003 - đang âm ỉ huỷ diệt”,
Warrant Buffett.
Vậy đâu là sự thật? Vấn đề này sẽ được giải quyết trong phạm vi đề tài
nghiên cứu “ công cụ tài chính phái sinh - Góc nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu”. Đồng thời, đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và rõ ràng về
vai trò và bản chất thật sự của công cụ phái sinh từ góc độ cuộc khủng hoảng tín
dụng thứ cấp hiện nay. Và liệu rằng, nên hay không nên phát triển thị trường các
công cụ tài chính phái sinh tại Việt Nam? Cùng một số đề xuất cần thiết nhất cho
việc phát triển và ứng dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam.
Do hạn chế về thời gian và kiến thức, nên quá trình làm chuyên đề sẽ không
tránh khỏi những sai sót. Kính mong có được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô,
ban lãnh đạo công ty để chuyên đề tốt nghiệp của em được hoàn thiện và có ý
nghĩa thực tiễn hơn.

Nguồn: www.cuna.org
Một điều đáng quan tâm là sự ra đời và góp mặt của các công cụ tài chính phái
sinh - công cụ đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển của thị
trường tài chính. Đồng thời, cuộc khủng hoảng hiện nay xảy ra như một hậu quả tất yếu
từ sự phát triển quá nóng của chính các công cụ tài chính này. Cũng có ý kiến cho rằng sự
ra đời của công cụ phái sinh đã như một quả bom nổ chậm và tới thời điểm hiện nay quả
bom đã được khai hoả, nổ tung với tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Như đã đề cập, thị trường nhà đất phát triển mạnh mẽ trong 10 năm trở lại đây.
Lúc này các định chế tài chính đổ xô nhau “sản xuất” ra những hợp đồng cho vay dưới
chuẩn thậm chí còn tiếp thị rồi khuyến khích cả những người không đủ khả năng về tài
chính đi vay tiền mua nhà góp phần tham gia vào thị trường béo bở này. Điều tệ hại hơn
khi các tổ chức tài chính phố Wall đã tập hợp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại
thành tài sản đảm bảo để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế. Đó là một
dạng của “phát kiến tài chính” được mang tên “Mortgage backed securities” - một sản
phẩm tài chính phái sinh được đảm bảo bằng những hợp đồng cho vay bất động sản có
thế chấp. Các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư cùng các quỹ hưu trí đã tranh
nhau mua các hợp đồng này do họ đã bị che đi bởi một bức màn vô hình do các tổ chức
giám định hệ số tín nhiệm (Credit rating agencies ) tạo ra khi các tổ chức này đã đánh giá
cao cho các loại sản phẩm phái sinh này. Họ mua mà không hề hay biết rủi ro thực sự của
các hợp đồng cho vay này - những hợp đồng cho vay bất động sản dùng để đảm bảo
không đủ tiêu chuẩn. Việc mua bán các khoản nợ trong đó có rất nhiều nợ dưới chuẩn
tiếp tục thực hiện từ tổ chức này sang tổ chức khác, từ cá nhân này sang cá nhân khác.
Các hợp đồng nợ dưới chuẩn đã được “bôi trơn và đánh bóng” bởi những nhà đầu tư lớn
ở phố Wall thông qua các “phát kiến tài chính”. Từ đây, nghiệp vụ chứng khoán hoá
được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Như một quy luật tất yếu của tự nhiên, tức khi thời tiết trở nên ngày càng nóng
bức, đến một mức độ nào đó trời bắt đầu mưa làm nhiệt độ hạ xuống. Cũng theo quy luật
đó, khi thị trường bất động sản đã phát triển quá nóng, đi đến đỉnh điểm nó bắt đầu hạ
nhiệt.

làm gia tăng rủi ro:
Khi điều kiện thị trường có những chuyển biến theo chiều hướng thuận lợi, nếu
một doanh nghiệp thực hiện việc phòng ngừa thì có thể sẽ bỏ qua những cơ hội thực hiện
các ưu thế mà thị trường đang có. Trên thực tế, thực hiện phòng ngừa rủi ro, doanh
nghiệp sẽ giảm đi được các khoản lỗ nhưng đồng thời cũng làm giảm đi các khoản lãi
tiềm năng. Ngoài ra, người đi thực hiện phòng ngừa rủi ro phải gánh chịu thêm rủi ro
basic ngoài rủi ro trên tài sản do tính không chắc chắn trong basic (vì basic = giá giao
ngay – giá giao sau). Phòng ngừa rủi ro chính là ta không thực sự tin vào điều gì cả. Tức
là nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro vì nghĩ là sẽ có những sự kiện không mong muốn xảy ra
trong thị trường và điều này trở thành hành vi đầu cơ khi mà tất cả tiền của một người
đều tập trung vào thị trường cổ phiếu. Trong một giới hạn nào đó nếu các cổ đông có thể
dự báo chính xác tất cả các rủi ro có thể phòng ngừa đi chăng nữa nhưng nếu như xuất
hiện độ nhạy cảm do những bất ổn trong giá cả, nguyên vật liệu thì họ khó có khả năng
tính toán chính xác mức độ của những rủi ro này cũng như xác định được thời điểm mà
lúc các rủi ro này gây ra những tổn thất lớn nhất, hay xác định chính xác số lượng hợp
đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro. Một điều đáng lưu tâm nữa là phòng ngừa rủi ro có
thể làm cho nhà đầu tư cảm nhận sai lệch về số lượng rủi ro giảm đi. Bởi một mặt phòng
ngừa rủi ro không thể cũng như không hoàn toàn có thể loại trừ hết rủi ro. Điều này cho
thấy phòng ngừa rủi ro chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong một khía cạnh nào đó
thôi, nếu không có sự am hiểu kỹ càng về phòng ngừa rủi ro thì sẽ làm gia tăng rủi ro
công ty.
1.2. Trường phái cho rằng công ty nên sử dụng công cụ phái sinh:
1.2.1. Nguyên nhân thực sự của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu:
 Lãi suất được cắt giảm liên tục:
Năm 2000, lãi suất cơ bản của FED là trên 6%. Lãi suất này liên tục được cắt
giảm, thậm chí như đã nói ở trên, đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%. Chính sách cắt giảm
lãi suất được thực hiện nhằm kích thích tiêu dùng trong dân cư, kích thích đầu tư trong
khối doanh nghiệp, giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ sau sự kiện bong bóng dotcom bùng
nổ và sự kiện nước Mỹ bị tấn công khủng bố vào năm 2001. Với bối cảnh hiện thời,
chính phủ Mỹ cho rằng chính sách kích cầu là thích hợp nhất và mục tiêu chính là thị

người dân vay, nới lỏng tín dụng, thậm chí đối với những khách hàng có hạng mức tín
dụng dưới chuẩn - những đối tượng không có thu nhập ổn định, có tiền sử tài chính xấu,
không có được các tài sản đảm bảo cho các khoản vay của mình. So với trước đây, ở Mỹ
để có thể vay tiền ngân hàng mua nhà ở trả góp thì người vay gọi là “đủ tiêu chuẩn” phải
có được ba tiêu chuẩn cơ bản là: tiền cọc ít nhất bằng 10% tiền mua nhà , thu nhập phải
ổn định để cho số tiền trả góp hàng tháng không quá 28% thu nhập và có điểm tín nhiệm
vay trả sòng phẳng. Bên cạnh đó ngân hàng chỉ được phép cho vay tuỳ thuộc vào lượng
tiền gửi hiện đang có tại ngân hàng cũng như tỷ lệ dự trữ bắt buộc của chính phủ đối với
ngân hàng. Một điều tất yếu, rủi ro cao thì lãi suất cao. Tuy nhiên, nếu lãi suất cao thì đại
bộ phận những người dân nghèo sẽ không dám đi vay tiền. Do đó, các ngân hàng cho vay
bất động sản để tạo ra các sản phẩm cho vay “hấp dẫn” như Alt-a tức cho vay với lãi suất
rất thấp trong năm đầu sau đó lãi suất sẽ tính theo lãi suất thị trường. Do đó bất cứ cá
nhân, tổ chức nào cũng có thể vay tiền mua nàh một cách dễ dàng. Điều này làm cho
doanh số nhà ở tại Mỹ tăng lên nhanh chóng.
Biểu đồ1.2: Doanh số bán nhà ở Mỹ giai đoạn 1995 - 2007

Nguồn: www.cuna.org
Các ngân hàng dám mạnh tay thực hiện những nghiệp vụ cho vay này với một
tâm lý ỷ lại do đã có sự bảo đảm ngấm ngầm từ chính phủ mà hiện thân lúc bấy giờ là hai
công ty Fannie Mae và Freddie Mac. Sở dĩ tồn tại hai công ty này vì để hỗ trợ cho vay tạo
lập nhà ở, Chính phủ Mỹ cho lập Hiệp hội quốc gia tài trợ bất động sản (Federal National
Mortgage Association - gọi tắt là Fannie Mae) và Tập đoàn cho vay quốc gia (Federal
Home Loan Mortgage Corporation - gọi tắt là Freddie Mac). Hoạt động chính của hai
công ty này là mua lại những món vay nợ thế chấp bằng bất động sản, đặc biệt là các
khoản vay thế chấp “dưới chuẩn” (subprime mortgage) của các ngân hàng rồi dùng bất
động sản thế chấp để phát hành “trái phiếu tái thế chấp” (Mortgage-backed Securities)
bán cho các nhà đầu tư khác nhằm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Lúc này các
món nợ nhà ở đã được “trái phiếu hoá” thành sản phẩm tài chính thông dụng có thể mua
bán dễ dàng trên thị trường tiền tệ.
 Vấn đề lương, thưởng cho các CEO ngành tài chính:

bong bóng tài sản vỡ tung, như một cơn sóng thần ập lên khắp nước Mỹ. Cuộc khủng
hoảng bắt đầu. Những hợp đồng trước đây được các chuyên gia phố Wall gom lại và phát
hành chứng khoán phái sinh, được đảm bảo bằng những hợp đồng cho vay thế chấp, bây
giờ mất giá thảm hại, thị trường không có người mua. Các ngân hàng, công ty bảo hiểm,
các tổ chức tài chính nắm giữ hàng ngàn tỷ USD chứng khoán đó không bán được.
Người đi vay “không đủ tiêu chuẩn” thì không có khả năng trả được nợ. Các
khoản nợ xấu thì gia tăng. Khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá giới hạn chịu đựng thì các tổ chức
tài chính lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán rồi đi đến gục ngã hoặc phá sản. Mở
màn cho sự kiện này là sự đổ vỡ của ngân hàng đầu tư Bear Stearns. Từ đó dẫn tới hiệu
ứng domino trong toàn hệ thống tài chính. Sự đổ vỡ hàng loạt của các công ty cho vay
kinh doanh bất động sản, ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm,
công ty bảo hiểm…như Fannie Mae và Freddie Mac, Lehman Brother, AIG…
 Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm:
Cuộc khủng hoảng diễn ra do nhiều nguyên nhân như đã phân tích ở trên. Tuy
nhiên, một vấn đề cần phải xem xét thêm đó chính là vai trò của các tổ chức xếp hạng tín
nhiệm - một thành viên cũng đã góp mặt gây nên cuộc khủng hoảng. Trong một báo cáo
gần đây của SEC – Uỷ ban chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ - đã chỉ thẳng ra rằng nhiều
tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn như Fitch, Moody’s và Standard & Poor’s đã coi thường
các quy tắc về xung đột lợi ích. Các tổ chức này chỉ chú ý đến lợi nhuận khi xếp hạng các
loại chứng khoán. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã cầm trong tay một khối lượng rất
lớn các chứng khoán cùng với mức độ phức tạp tăng cao của chúng mà họ được yêu cầu
đánh giá. Thời gian hạn hẹp do thị trường nhà đất ngày càng nóng bỏng cộng thêm thiếu
nguồn nhân lực khiến cho họ có ít thời gian hơn để thực hiện công việc và đánh giá mức
độ an toàn cho các khoản đầu tư một cách chính xác và khách quan. Thêm vào đó, nỗi lo
bị mất hợp đồng, ảnh hưởng tới doanh thu. Điều này đã khiến cho họ đánh giá không dựa
theo chuẩn mực đạo đức mà theo lợi nhuận. Sợ thua lỗ, mất đi khả năng cạnh tranh,
không đạt được doanh thu kỳ vọng đã làm cho các nhà phân tích méo mó đánh giá của
mình. Cuối cùng, mức phí mà các tổ chức này nhận được để xếp hạng các khoản cho vay
có thế chấp - một khâu bắt buộc trong quy trình chứng khoán hóa - lại do chính các ngân
hàng chi trả chứ không phải các nhà đầu tư. Vấn đề rủi ro đạo đức nảy sinh. Liệu rằng

cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài chính, điều này tạo
điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử
dụng vốn. Bên cạnh đó, thị trường các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả
cho hoạt động đầu cơ. Bởi người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác
có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro
phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ. Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực
hiện, khi mà thực tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể
tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả
năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các
khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Và thế là họ gặp nhau và
tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác.
Và cũng không giống như người ta thường nghĩ, thị trường phái sinh không dẫn
vốn trong nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ khủng khiếp. Những nhà đầu cơ không
phải là những tay cờ bạc. Chỉ đơn giản là thay vì giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản
phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho
việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn. Bởi cần khẳng định chắc chắn
rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng
chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có cuả thị
trường tài sản, chuyển những khoản rủi ro đó từ những không đủ khả năng chấp nhận nó
sang những người sẵn sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ. Không có thêm bất
kỳ một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này. Và lợi ích từ thị trường không chỉ bó
hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả ra toàn xã hội.
 Thông tin hiệu quả hình thành giá
Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả.
Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay
của tài sản. Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều hàng hoá được giao dịch
trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên
rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng. Ở đây, thường giá tương lai của
những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay. Thêm nữa, thị trường giao
sau, trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin do nó cung cấp có tính tin cậy

giá. Tiếp đó là các dự án đầu tư với số vốn lớn. Các dự án này đều vay hay mua chịu một
lượng lớn hàng hóa nước ngoài bằng USD, nếu sử dụng hoán đổi lãi suất (Swaps) thì có
thể tránh được thiệt hại không nhỏ với những biến động khó lường của thị trường tiền tệ.
 Công cụ phái sinh – công cụ bảo hiểm cho nhà đầu tư:
Một điều gây khó khăn cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào thị trường chứng khoán
là không có chứng khoán để bán khi thị trường lên cao và không có tiền để mua khi thị
trường xuống dốc. Thị trường chứng khoán phái sinh ra đời do đó nhà đầu tư sẽ có thêm
công cụ bảo hiểm rủi ro và thêm nhiều nghiệp vụ trong giao dịch để nhà đầu tư lựa chọn
nhằm giảm thiểu rủi ro, đa dạng hoá các phương thức đầu tư cho mình và tối đa hoá lợi
nhuận. Một trong các công cụ tài chính giúp nhà đầu tư đó là chứng khoán phái sinh. Một
công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro, đầu tư giá xuống khi thị trường tuột dốc. Điều
này tạo cho nhà đầu tư một tâm lý có được cảm giác an toàn và sự an tâm hơn khi đầu tư
vào thị trường chứng khoán. Lúc này có được sự chủ động và yên tâm nên các nhà đầu tư
sẽ tham gia nhiều vào thị trường chứng khoán khi họ còn các kênh đầu tư hấp dẫn khác
như vàng, xăng dầu, tiền tệ…Nhà đầu tư bớt đi tâm lý sợ hãi khi thị trường tuột dốc và
luôn phải đặt ra câu hỏi “Đâu là đáy của thị trường?” vì lúc này họ có thể đầu tư ở mọi
trạng thái của thị trường. Khi thị trường càng đi xuống thì nhà đầu tư nắm giữ các chứng
khoán phái sinh càng có lợi. Thêm vào đó, khi có sự đầu tư theo hai hướng ngược nhau
của các nhà đầu tư “mua lên” hoặc “bán xuống” sẽ tạo lực cản để thị trường không giảm
quá sâu hoặc tăng quá nóng.
Theo một số chuyên gia, thị trường chứng khoán phái sinh sẽ là một trong những
giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay. Cụ thể cho
bước đi đầu tiên để có thể triển khai thị trường này là đầu năm 2007 HOSE đã tiến hành
nghiên cứu về thị trường chứng khoán phái sinh và báo cáo kết quả nghiên cứu vào giữa
năm 2008 lên Uỷ ban chứng khoán nhà nước. Qua những kinh nghiệm và thực tiễn các
nước trên thế giới, HOSE đã khẳng định rằng việc phổ biến kiến thức cho nhà đầu tư về
thị trường chứng khoán phái sinh là rất cần thiết bởi tính chất phức tạp của thị trường
này. Nhận thức rõ về những lợi ích đi kèm theo những rủi ro có thể xảy ra là điều quan
trọng nhất đối với các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán phái sinh. Nhưng để có thể
làm được điều này vai trò của các công ty chứng khoán, tổ chức tài chính là rất quan

công cụ phái sinh dựa trên cơ sở là tạo ra một trạng thái mở về lãi suất, ngoại tệ, hàng
hoá, chứng khoán…Thêm vào đó, khi doanh nghiệp sử dụng kết hợp nhiều công cụ phái
sinh với đối tác khác nhau, trên những thị trường khác nhau có thể tạo ra lợi nhuận trên
cơ sở không phải đối mặt với các trạng thái thái mở các rủi ro tài chính.
 Xét từ góc độ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính:
Việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh của các tổ chức tài chính cũng thu được
những lợi ích tương tự như doanh nghiệp. Đồng thời, với vai trò của trung gian tài chính,
các tổ chức này có thể tăng nguồn thu từ thu phí với tư cách của người môi giới; đặc biệt,
khả năng mở rộng, phát triển các mặt hoạt động khác của tổ chức tài chính như huy động
vốn, cho vay, dịch vụ thanh toán, tư vấn…cũng tăng cao và hiệu quả hơn.
 Các rủi ro gánh chịu khi sử dụng nghiệp vụ tài chính phái sinh:
Dù không mong đợi nhưng rủi ro vẫn luôn hiện diện trong mọi quyết định đầu tư
hay giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp và có thể biến những “giấc mơ ngọt ngào”
của các ông chủ doanh nghiệp trở thành “quả đắng”. Nếu hoạt động của doanh nghiệp,
của các tổ chức tài chính cũng như của thị trường không hiệu quả có thể dẫn tới việc sử
dụng công cụ tài chính phái sinh và hoạt động của thị trường công cụ tài chính phái sinh
sẽ chứa đựng những rủi ro tiềm tang rất lớn. Tuỳ theo mức độ, rủi ro có thể gây ra những
thiệt hại về tài chính, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khánh kiệt,
thậm chí phá sản hay rộng hơn là khủng hoảng tài chính.
Chính vì vậy, từng nhà quản trị doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước cần phải
hiểu rõ về bản chất cũng như những rủi ro gia tăng từ công cụ tài chính phái sinh. Tuỳ
thuộc vào từng loại công cụ tài chính phái sinh, tuỳ thuộc vào mục đích và trạng thái kinh
doanh sẵn có khi mua hay bán, giao dịch công cụ tài chính phái sinh, tuỳ thuộc vào cơ sở
hạ tầng tài chính, tuỳ thuộc vào môi trường kinh doanh mà nhà đầu tư không phải gánh
chịu các rủi ro tài chính. Ví dụ, ta xem xét nghiệp vụ quyền chọn: đối với người mua
quyền chọn mua thì lãi là vô hạn, lỗ giới hạn trong khoản phí quyền chọn. Còn đối với
người bán quyền chọn mua thì lãi tối đa là phí quyền chọn, lỗ thì vô hạn.
Xem xét đến một số rủi ro khi doanh nghiệp sử dụng nghiệp vụ tài chính phái sinh như:
Rủi ro tín dụng: Rủi ro mà một bên đối tác đối với một công cụ phái sinh là
nguyên nhân gây ra thất thoát tài chính cho đối tác khác do không hoàn thành nghĩa vụ

suất cho vay của hình thức này sẽ cao hơn cho vay theo chuẩn ” .
Không có một tài liệu chính thức nào quy định cụ thể về người đi vay dưới tiêu
chuẩn nhưng ở Mỹ hầu hết những người vay này có điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm
gần 25% dân số Mỹ. Do uy tín của người vay thấp và tình hình tài chính không mấy
sáng sủa nên nhìn chung các khoản vay dưới tiêu chuẩn có lãi suất cao hơn lãi suất thị
trường và điều này lại càng làm tăng thêm khó khăn tài chính cho người vay, đặc biệt
khi lãi suất thị trường gia tăng.
Cho vay thế chấp nhà đất dưới tiêu chuẩn (subprime housing mortgage): là
một trong những loại hình thuộc lĩnh vực cho vay dưới tiêu chuẩn và đặc biệt phát
triển mạnh từ đầu thế kỷ 21, trở thành một “ngành công nghiệp ở Mỹ”. Nói như vậy có
nghĩa là hình thức thế chấp nhà đất trở thành một loại hình kinh doanh đầy lợi nhuận
không chỉ với ngân hàng cho vay mà còn với cả dân đầu cơ địa ốc. Một điều đặc biệt là
hầu hết các ngân hàng, tổ chức tín dụng ở Mỹ cho vay dưới hình thức này đều chấp
nhận đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Như vậy, trước hết ta có thể thấy
nguy cơ rủi ro là rất cao do đối tượng của nó là nhà đất vốn thường xuyên rơi vào chu
kỳ đóng băng.
2.1.2. Những đặc điểm của tín dụng thứ cấp
Một người muốn mua nhà thì người đó phải có điều kiện tín dụng “Credit”. Nếu
người này có tình trạng tín dụng tốt họ sẽ được hưởng lãi suất ưu tiên “Prime rate”. Và để
nâng cao doanh số của mình các ngân hàng địa ốc chấp nhận một số người chưa đủ điều
kiện tín dụng đựơc vay nhưng phải trả lãi cao hơn và điều này chính là “sub-prime” (lãi
suất thứ cấp). Các công ty cho vay bất động sản trực tiếp được gọi là Mortgage
originators .Và theo quy định về giám sát ngân hàng (basle2) thì các ngân hàng phải đảm
bảo một tỷ lệ nợ xấu nhất định dể đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Nếu hàng hàng
cho vay sub-prime nó phải giữ những món nợ này trên sổ sách của nó (mortgage) thì nó
không thể cho vay thêm. Để cân bằng tỷ lệ nợ này các ngân hàng cho vay địa ốc có thể
bán lại các khoản nợ này cho các ngân hàng chuyên về địa ốc như “Fannie Mae” và
“Freddie Mac” để chuyển các khoản nợ trên sổ sách của họ sang sổ sách của các ngân
hàng này. Và từ đây bắt đầu lây lan ra hệ thống tài chính toàn thế giới khi các ngân hàng
trên thế giới đầu tư vào các loại chứng khoán này.

lượng ABS. Thế là người ta quyết định thay ABS trong các portfolio để tạo ra CDO bằng
chính các CDO, nghĩa là CDO của CDO. Rồi sau đó là CDO của CDO của CDO. Những
loại CDO được xây dựng từ các portfolio cấu thành từ các CDO khác này gọi là sythetic
CDO, để phân biệt với cash CDO là các CDO truyền thống cấu thành từ ABS.
Hình 2.1:Mô tả về chu trình các khoản vay tín dụng thứ cấp (Nguồn : FED)
Nếu chúng ta cứ nói về khủng hoảng hiện nay xuất phát từ chuyện cho vay tín
dụng thứ cấp rồi lây lan đến thị trường tài chính thì việc cho vay thứ cấp là việc ảnh
hưởng xấu đến nền kinh tế nhưng khi xem xét nó một cách khách quan thì công cụ nào
cũng có những mặt tốt của nó kể cả tín dụng thứ cấp.
Nếu như cho vay thế chấp mua nhà dưới chuẩn mới bắt đầu hình thành từ những
năm đầu 90 và phát triển rất chậm thì trong 5 năm gần đây con số này gia tăng một cách
kỷ lục. Năm 2002, doanh số cho vay dưới chuẩn cung cấp cho thị trường khoảng 200 tỷ
USD, năm 2003 là 320 tỷ, năm 2004 là 550 tỷ, năm 2005-2006 con số này đạt gần 700 tỷ
USD hàng năm, chiếm khoảng 25% thị phần cho vay thế chấp mua nhà toàn nước Mỹ.
Chứng khoán hóa là một công cụ chuyển giao rủi ro hiệu quả được các ngân hàng
đầu tư quốc tế nắm bắt kịp thời để thực hiện cho vay nợ dưới chuẩn. Nếu như trước đây
các ngân hàng thương mại với nguồn vốn hữu hạn của mình từ tiền gửi của khách hành
dùng để cho vay thế chấp mua nhà thì giờ đây, nguồn vốn này trở nên dường như bất tận.
Những năm 2000-2001 nền kinh tế Mỹ có dấu hiệu đi vào suy thoái. Tỷ lệ người thất
nghiệp tăng ngày càng cao. Để kích thích nền kinh tế chính phủ đã phải cắt giảm lãi suất
và nới lỏng tiền tệ. Chính phủ các bang cũng nới lỏng mức chuẩn tín dụng cho người dân
có cơ hội mua nhà của riêng mình. Và điều này đã có hiệu quả kích thích nền kinh tế tăng
trưởng. Nhưng với lợi nhuận cao kết hợp với lòng tham đã dẫn đến lạm dụng việc cho
vay nợ dưới chuẩn. Các thủ tục thẩm định thực hiện bởi các đại lý cho vay diễn ra hết sức
lỏng lẻo và việc tiếp cận vốn tín dụng mua nhà trở nên nhanh chóng, dễ dàng hơn bao
giờ, cộng thêm sự yếu kém của các tổ chức xếp hạng các công cụ này đã đẩy cả hệ thống
tài chính đến bên bờ vực thẳm.

chứng khoán truyền thống để tạo nên các công cụ lai tạo. Tuy nhiên, cũng chính vì những
biến đổi hình thái như vậy cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của của thị trường tài chính
làm cho công cụ tài chính phái sinh có thêm một chức năng mới ngoài phòng ngừa rủi ro,
là sử dụng nhiều hơn để tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ. Như giáo
sư Stanley R.Pliska trường đại học Illinois, Chicago Mỹ cho biết: “Bên cạnh việc giúp
các nhà đầu tư quản lý rủi ro, thị trường chứng khoán phái sinh cũng được dùng để đầu
cơ khi nhà đầu cơ hướng về sự giao động giá trong tương lai”. Theo điều tra đối với 500
công ty lớn nhất trên thế giới tại 26 quốc gia khác nhau thì có tới 92% các công ty trả lời
rằng họ sử dụng thường xuyên công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa và quản lý rủi
ro và còn lại là sử dụng nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời.
Hình 2.4: Mức độ sử dụng công cụ phái sinh trong phòng ngừa và đầu cơ.
Mục đích các doanh nghiệp sử dụng
công cụ tài chính phái sinh
92%
8%
Phòng ngừa rủi ro Kinh doanh kiếm lời

Nguồn: www.saga.vn
Các công cụ tài chính ngày càng tinh vi và mang theo một số rủi ro gây gián đoạn
lớn hơn độ rủi ro thông thường. Một ví dụ đó là vào ngày 19/10/1987 - ngày thứ hai đen
tối - đã xảy ra một cuộc “di cư tập thể” ra khỏi thị trường cổ phiếu dẫn tới sự sụp đổ của
thị trường cổ phiếu Mỹ do việc sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta. Những
người bảo hiểm này đã đầu tư mạnh hơn vào thị trường mà nếu như không có kỹ thuật
này thì có thể họ đã không làm như vậy.
Xét cụ thể trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, Thành viên Hội
đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ Nguyễn Thị Mùi nhận định:
“Công cụ phái sinh như “con dao hai lưỡi”. Một mặt, nó là công cụ phòng chống rủi ro để
kiếm lời nhưng đồng thời nó cũng lại làm nảy sinh rủi ro. Cuộc khủng hoảng tài chính lần
này của Mỹ chính là do sự phát triển quá nóng của của các công cụ phái sinh và trong đó
có công cụ của thị trường bất động sản là chứng khoán hoá bất động sản”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status