Nghiên cứu chỉ số ICT INDEX và đề xuất lựa chọn, áp dụng thử nghiệm tại nam trung bộ - Pdf 10

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

TRƯƠNG XUÂN TRUNG

NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ ICT INDEX VÀ ĐỀ XUẤT LỰA
CHỌN, ÁP DỤNG THỬ NGHIỆM TẠI NAM TRUNG BỘ Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử
Mã số: 60.52.70 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI -2012
Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS HOÀNG MINH Phản biện 1: …………………………………………………

kinh tế - xã hội nói chung và trong sự phát triển của CNTT -
TT Việt Nam nói riêng.
Cho đến nay, việc đánh giá chỉ số sẵn sàng cho phát
triển và ứng dụng CNTT - TT (ICT Index) ở Việt Nam do một
số đơn vị, hiệp hội thực hiện dựa trên phương pháp đánh giá
của các tổ chức quốc tế như Harvard , World Bank Về cơ
bản, các công bố ICT Index được đưa ra xem như là một cơ sở
hữu ích có ý nghĩa phản ánh thực trạng để có thể nhìn nhận rõ
hơn sự phát triển của CNTT - TT ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong
bối cảnh các đơn vị tổ chức đưa ra đánh giá và công bố chỉ số
ICT Index mà chưa có được những đánh giá, kiểm chứng từ
phía các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp
về tính khả thi, đúng đắn, phương pháp đánh giá, thì các kết
2

quả đã công bố chắc sẽ chưa đủ cơ sở khoa học, cũng như tính
pháp lý và được cộng đồng CNTT - TT trong nước, quốc tế
thừa nhận. Do đó, cần phải nghiên cứu, phân tích các phương
pháp xây dựng ICT Index của các tổ chức đã sử dụng và công
bố. Đề xuất sử dụng bộ chỉ số ICT có tích sát thực, khách quan
và nhất là đủ cơ sở khoa học, phù hợp với Việt nam để đánh
giá. Từ góc độ này, tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu "
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ ICT INDEX VÀ ĐỀ XUẤT LỰA
CHỌN, ÁP DỤNG THỬ NGHIỆM TẠI NAM TRUNG
BỘ".
Bố cục của luận văn: gồm 3 chương và phần mở đầu,
phần kết luận kiến nghị:
Phần mở đầu tập trung nêu bật được tầm quan trọng của
ICT trong phát triển kinh tế xã hội. Lý do chọn đề tài, mục
đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tính cấp thiết và ý

đặt ra và cần được giải quyết kịp thời. Thực tế tại nước ta hiện
nay, báo cáo hằng năm về ICT Index do những đơn vị thực
hiện đó là “ Hội Tin học Việt Nam” phối hợp với “Văn phòng
Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT”; Viện tin học Doanh nghiệp
thuộc phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam
(VCCI)…dựa theo phương pháp đánh giá của ITU, Hardvard
4

University. Các tổ chức này thực hiện việc thu thập số liệu,
phân tích, đánh giá và đưa ra báo cáo về mức độ sẵn sàng cho
phát triển và ứng dụng CNTT của Việt Nam. Tuy nhiên trong
bối cảnh những tổ chức công bố chỉ số ICT Index mà chưa có
được những đánh giá, kiểm chứng từ phía các cơ quan quản lý
nhà nước cũng như các doanh nghiệp về tính khả thi, đúng đắn,
phương pháp đánh giá thì các chỉ số đã công bố chắc sẽ chưa
đủ cơ sở khoa học, cũng như tính pháp lý và được cộng đồng
CNTT - TT trong nước, quốc tế thừa nhận. Vì vậy cần phải
nghiên cứu, phân tích đánh giá chỉ số ICT Index của các tổ
chức Quốc tế cũng như Việt nam đưa ra trên cơ sở khoa học,
phù hợp với nông thôn Việt nam nói riêng và Việt nam nói
chung. Để bảo đảm tính khách quan và tính mở trong báo cáo
ICT Index hằng năm cần thêm những tổ chức có uy tín, đủ
nguồn lực tham gia nghiên cứu và lập báo cáo về lĩnh vực này.
Vậy, ICT Index ( hay chỉ số ICT) là gì?
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) thì: ICT
Index là thước đo mức độ phát triển về Công nghệ thông tin và
Truyền thông.
Theo định nghĩa của đại học Havard: ICT Index là
thước đo mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng Công
nghệ thông tin và Truyền thông.

Công nghiệp Việt Nam
6

1.2.8 Phương pháp xây dựng của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn
1.3 Tình hình sử dụng chỉ số ICT Index trên thế giới
Cho đến nay, trên thế giới đã có hơn 1500 đánh giá đã
được công bố, trong đó có 188 nước được đánh giá ít nhất1 lần,
68 nước được đánh giá từ 5 đến 10 lần, 69 nước được đánh giá
trên 10 lần. Việt nam nằm trong số các nước này, 4 nước chưa
bao giờ được đánh giá: Bắc Triều Tiên, Tuvalu, Monaco và
Nauru.
1.4 Tình hình sử dụng chỉ số ICT Index ở Việt Nam.
Cho đến trước năm 2005, chưa có báo cáo chính thức
nào về thực trạng phát triển và ứng dụng CNTT-TT của Việt
Nam ngoài một số báo cáo của các tổ chức nước ngoài hoặc
nghiên cứu chuyên biệt như "Toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam"
của Hội Tin Học TP. Hồ Chí Minh (HCA). Tuy nhiên, phần
lớn các báo cáo này chỉ thực hiện một lần (trừ của HCA) vào
các năm 2000-2002, nên số liệu hiện nay đã lạc hậu. Số liệu
phục vụ các báo cáo đó chủ yếu lấy từ các nguồn không chính
thức nên có thể chưa tạo được độ tin cậy cao. Năm 2003, Hội
Tin Học Việt nam cũng đã xây dựng ICT Index cho các
tỉnh/thành, bộ/ngành và các doanh nghiệp CNTT-TT, song do
thời gian thực hiện quá ngắn, nguồn lực hạn chế, nên kết quả
chưa làm thoả mãn người đánh giá và đối tượng được đánh giá.
Cụ thể bao gồm những đơn vị tổ chức sau tiến hành đánh giá
và báo cáo liên quan đến ICT ở Việt nam:
1. BC Toàn cảnh CNTT-TT của VN (HCA)
7

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của vùng Nam Trung
bộ
2.1.1 Khái quát chung
Vùng Nam trung bộ của Việt nam bao gồm các tình và
thành phố: thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình
Thuận.
Diện tích của vùng: gần 44,4 nghìn km2, số dân gần 9,1
triệu người, chiếm 13,4% diện tích và 10,5% dân số cả nước
(thống kê năm 2009). Có 2 quần đảo xa bờ: Hoàng Sa (huyện
đảo thuộc Thành phố Đà Nẵng), Trường Sa (huyện đảo thuộc
tỉnh Khánh Hoà).
Là dãi lãnh thổ hẹp nằm ở phía đông Trường Sơn Nam,
phía bắc có dãy núi Bạch Mã làm ranh giới tự nhiên với Bắc
Trung Bộ, phía nam là Đông Nam Bộ. Các nhánh núi ăn ngang
ra biển chia nhỏ phần duyên hải thành các đồng bằng nhỏ hẹp,
tạo nên hàng loạt các bán đảo, các vũng vịnh và nhiều bãi biển
đẹp.
Dân số của vùng Nam trung bộ phân bố không tập
trung và là vùng có nhiều dân tộc ít người sinh sống như
Giarai, Êđê, Bana, Chăm….Theo thống kê của cục thống kê
năm 2011 thì tỷ lệ dân nông thôn chiếm khoảng 73% dân số
vùng, mật độ dân số khoảng 260,3 người/Km
2
. Theo báo cáo
mới nhất của Việt Nam về tiến độ thực hiện trong việc phổ cập
9

giáo dục tiểu học và vấn đề học tập là tỷ lệ nhập học đúng tuổi
ở bậc tiểu học trong vùng trên 90%. Tỷ lệ nhập học ở bậc trung

mà nông dân không tìm được đầu ra cho sản phẩm của mình vì
không nắm được thị trường. Đây là một ví dụ cho thấy vai trò
quan trọng của thông tin đối với người nông dân. Đối với ngư
dân đánh bắt trên biển thì điều này càng cho thấy thiếu thông
tin cho ngư dân như: nhu cầu thông tin về thị trường thuỷ sản
hàng ngày, thị trường ngư cụ, dự báo thời tiết mùa vụ cho ngư
dân và hỗ trợ định vị cho tàu bè khi đánh bắt trên biển… Nông
dân cần thông tin, và thực tế là chúng ta đã phát triển một số
kênh thông tin nông nghiệp nông thôn phục vụ nhu cầu của
nông thôn. Trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng,
thông tin Nông nghiệp Nông thôn cũng đã được chuyển tải với
một số chuyên mục/nội dung, vào các thời điểm khác nhau và
theo nhiều hình thức chuyển tải, ở cả cấp trung ương và địa
phương tuy nhiên ở mức độ còn hạn chế về mặt thời gian, hạn
chế về sự đa dạng của thông tin được cung cấp.
2.3 Đề xuất mô hình ICT áp dụng cho nông thôn vùng Nam
Trung bộ
2.4. Đề xuất lựa chọn, áp dụng bộ chỉ số ICT Index phù hợp
cho vùng Nam Trung bộ
Việc xác định chỉ số ICT Index phù hợp cho các tỉnh
thành ở nước ta hiện nay đang rất được quan tâm. Tuy nhiên
hiện nay ở nước ta chưa có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về tác dụng của ICT lên nhu cầu thông tin của nông dân
trong sản xuất và đời sống của họ, chủ yếu các điều tra về ICT
11

tập trung vào mảng CNTT chứ chưa chú trọng đến vấn đề
truyền thông. Việc xây dựng các bộ chỉ số ICT Index để tính
toán thường được các tổ chức nước ngoài xây dựng và đưa vào
áp dụng hoặc do các tổ chức trong nước xây dựng dựa trên các

những tiêu chí đặc trưng của đối tượng cấn đánh giá, có hạ mục
đánh giá riêng cho đối tượng là các tỉnh thành, phù hợp với
điều kiện, hiện trạng ICT của từng địa phương.
- Các tiêu chí đánh giá ICT Index của hội tin học Việt
nam đưa ra cho đối tượng đánh giá các tỉnh thành gồm 32 tiêu
chí, hầu hết các tiêu chí phù hợp để đánh giá đối với đối tượng
là các tỉnh thành trực thuộc Trung ương. Phương pháp thu thập
số liệu và phân tích kết quả nhanh, chính xác và khách quan.
Tuy nhiên, để kết quả đánh giá có tính khách quan và
chính xác, bộ chỉ số ICT Index của VAIP được đề xuất sử dụng
bao gồm phần lớn các tiêu chí đã phù hợp với điều kiện, hiện
trạng của Việt nam. Tuy nhiên cần điều chỉnh bổ sung một số
mục cho hợp lý, thuận lợi cho việc áp dụng đánh giá các cho
đối tượng tỉnh thành.
2.4.2.Hệ thống tiêu chí và phương pháp tính toán
A.Hệ thống nhóm tiêu chí khối tỉnh thành trực
thuộc trung ương
- Nhóm Hạ tầng kỹ thuật CNTT- TT: gồm 14 tiêu chí về
hạ tầng mạng viễn thông và CNTT
- Hạ tầng nhân lực CNTT-TT: gồm 07 tiêu chí về nguồn
nhân lực viễn thông và CNTT
13

- Nhóm Ứng dụng CNTT-TT: gồm 11 tiêu chí phản ánh
nguồn nhân lực CNTT
- Nhóm Sản xuất kinh doanh CNTT-TT: gồm 04 tiêu chí
phản ánh về lĩnh vực kinh doanh CNTT -TT
- Nhóm Môi trường chính sách cho phát triển - ứng dụng
CNTT-TT: gồm 04 tiêu chí phản ánh về môi trường chính sách
cho CNTT-TT.

giữa các vùng tác giả xin đề xuất phương pháp thu thập số liệu
như sau.
 Thu thập số liệu thông qua khảo sát trực tiếp:
 Thu thập số liệu gián tiếp:
 Thu thập từ các nguồn dữ liệu đã có:
 Thu thập số liệu từ quan sát:
Phương pháp phân tích số liệu: sử dụng cả phương
pháp phân tích số liệu thông qua phương pháp toán thống kê và
phương pháp sử dụng chuyên gia để đảm bảo tính tối ưu của
việc phân tích số liệu.
3.1.2 Tổ chức thu thập thông tin số liệu.
a) Lựa chọn đối tượng thực hiện: đối tượng thực hiện điều tra
khảo sát gồm:
- Các cơ quan ban ngành thuộc tỉnh thành.
- Các tổ chức, doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh
thành.
- Các tổ dân phố ( khối dân phố, thôn bản dân cư và
cấp tương dương) của tỉnh thành.
15

Tổ trưởng dân phố ( khối trưởng, thôn trưởng…) trên
địa bàn điều tra thực hiện công tác phát phiếu điều tra và
hướng dẫn người dân thực hiện ghi phiếu điều tra.
Cộng tác viên tình nguyện thực hiện công tác phát
phiếu và hướng dẫn cán bộ, công chức trong các tổ chức,
doanh nghiệp, ban ngành thực hiện ghi phiếu điều tra.
Gửi phiếu điều tra ICT Index và thư yêu cầu (công văn)
đến các tổ chức, đơn vị, ban ngành… trên địa bàn tỉnh thành.
Sử dụng các nguồn thông tin chính thức của cá tổ chức,
đơn vị chức năng, doanh nghiệp kinh doanh liên quan đến ICT

bộ.
3.2.1 Thu thập số liệu và đánh giá thử nghiệm ICT Index TP
Đà Nẵng-2012
3.2.2 Thu thập số liệu và đánh giá thử nghiệm ICT Index
tỉnh Khánh Hoà-2012
3.2.3 Thu thập số liệu và đánh giá thử nghiệm ICT Index
tỉnh Quảng Ngãi-2012
3.3 Đề xuất áp dụng.
Công tác nghiên cứu về chỉ số ICT Index đòi hỏi phải
tiến hành qua nhiều khâu, từ lý luận cho đến phương pháp, từ
đối tượng cho đến việc tổ chức nghiên cứu. Ngoài ra, công tác
17

nghiên cứu phải trực tiếp đi sâu vào khảo sát cụ thể các đặc
trung cơ bản của từng vùng miền, từng đối tượng đánh giá. Qua
việc phân tích bằng phương pháp lý luận khoa học, đi sâu vào
từng tiêu chí con trong các bộ tiêu chí và thực tiễn. Căn cứ vào
hiện trạng ICT của các tỉnh thành, vùng miền. Tác giả nhận
thấy cần đề xuất sử dụng bộ chỉ số ICT Index phù hợp cho áp
dụng tính toán tại các địa phương như sau:
- Đề xuất lựa chọn bộ chỉ số ICT Index của Hội tin
học Việt nam xây dựng để đánh giá ICT Index cho khối các
tỉnh thành trực thuộc Trung ương bởi lý do: hầu hết các bộ chỉ
số ICT Index của Nước ngoài hoặc Việt nam đều không xây
dựng đánh giá cho đối tượng Tỉnh/ Thành, hoặc nếu có chỉ xây
dựng để đánh giá cho hạ mục “Ứng dụng CNTT-TT” trong các
tỉnh thành.
- Áp dụng: Để áp dụng thực hiện công tác đánh giá
ICT Index cho các tỉnh thành được thực hiện đều hằng năm,
phản ánh đúng hiện trạng ICT của các đơn vị cần thực hiện 19

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TIẾP THEO
1.Kết luận:
Các khái niệm, định nghĩa liên quan đến ICT và các lợi
ích của ICT mang lại cho con người và xã hội đã được đề cập
đến trong nội dung của luận văn. Mặt khác, trong nội dung
cũng đã trình bày các ý tưởng phân tích đến các phương pháp
xây dụng chỉ số ICT Index ở Việt nam và trên thế giới theo
quan điểm riêng của bản thân. Việc phân tích các bộ chỉ số ICT
Index đòi hỏi nhiều kiến thức liên quan đến ICT và thực tiễn
sâu rộng, tuy nhiên nội dung của luận văn phần nào thể hiện và
đưa ra được những nhận xét và phân tích, đề xuất sử dụng bộ
chỉ số ICT Index của Hội tin học Việt nam áp dụng để tính toán
cho khối các tỉnh thành.
Thông qua việc phân tích tình hình ứng dụng ICT và
đặc điểm kinh tế xã hội vung Nam Trung bộ của Việt nam,
luận văn đã đưa ra được ý tưởng đề xuất sử dụng các mô hình
ICT áp dụng tại các vùng dân cư tại khu vực này.
Phần thực nghiệm của luận văn là sử dụng bộ chỉ số
ICT Index đã đề xuất, áp dụng đánh giá thử nghiệm tại vùng
Nam Trung bộ và cụ thể tại 03 tỉnh thành là : TP Đà Nẵng, tỉnh
Khánh Hoà và tỉnh Quảng Ngãi cho kết quả tốt. Từ đó kiến
nghị, đề xuất sử dụng bộ chỉ số ICT do Hội tin học Việt nam
xây dựng có điều chỉnh một số chỉ tiêu cho phù hợp để tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status