Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại tổng công ty xi măng Việt Nam - Pdf 10


Lời mở đầu
Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội đã đa nền
kinh tế toàn cầu sang một hình thái mới. Cơ chế thị trờng ra đời làm cho các
hoạt động tài chính và sở hữu ngày càng đa dạng và phức tạp, chức năng kiểm
tra kiểm soát đòi hỏi ngày càng chặt chẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý.
Ơ Việt Nam, công tác kiểm tra kiểm soát luôn đợc quan tâm. Trong cơ
chế kế hoạch hoá tâp trung bao cấp, công tác kiểm tra kiểm soát đợc tổ chức
một cách phù hợp với cơ chế. Nhà nớc với t cách là ngời quản lý vĩ mô đồng
thời là chủ sở hữu nắm toàn bộ trong tay công tac kế toán và kiểm tra nói
chung, kiểm soát nội bộ chủ yếu đợc thực hiện thông qua tự kiểm tra.
Từ đại hội đảng lần thứ VI, Việt Nam đã có những bớc chuyển đổi to lớn
trong cải cách nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng
có sự điều tiết của nhà nớc. Quá trình đổi mới đã đa Việt Nam từng bớc vơn lên
và đạt đợc nhiều thắng lợi trong kinh tế và phát triển xã hội. Nhà nớc đã và đang
cố gắng tạo dựng một môi trờng pháp lý, một hành lang pháp luật kinh tế rõ
ràng và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Song vẫn đề đặt ra là cơ chế thị
trờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên từ chính bản
thân mình, phải tự tìm hiểu những thông tin về quản lý và phải tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Do đó các nhà quản trị
phải có những quyết định và phơng pháp quản lý đúng đắn để đảm bảo cho việc
kinh doanh có hiệu quả. Một công cụ để giúp cho các nhà quản trị có đợc
những thông tin chính xác và kịp thời để ra các quyết định đúng đắn nhằm đảm
bảo công tác kiểm tra kiểm soát đợc thờng xuyên và hiệu quả đó chính là hệ
thống kiểm soát nội bộ.
Qua quá trình học tập và tìm hiểu thực tế tại tổng công ty xi măng về hệ
thống kiểm soát nội bộ, em đã nhận thấy những yếu tố tích cực và những mặt
còn hạn chế trong công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Để nâng cao hiệu quả
trong công tác quản lý tại tổng công ty xi măng nói riêng và các doanh nghiệp
1


- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý.
Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát là một hệ
thống chính sách và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị,
bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp
lý, và bảo đảm hiệu quả hoạt động.
Theo VSA 400, hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục
kiểm soát do đơn vị đợc kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn
vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát
hiện các gian lận và sai sót để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý nhằm
bảo vệ và quản lý, sử dụng có hiệu quả tàI sản của đơn vị.
Nh vậy, kiểm soát nội bộ là một chức năng thờng xuyên của các đơn vị,
tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để
3

tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thức hiện hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra
của đơn vị:
1/ Bảo vệ tài sản của đơn vị.
Tài sản của đơn vị bảo gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình, chúng
có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị h hại nếu
không đợc bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp. Điều tơng tự cũng có
thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác nh sổ sách kế toán, các tài liệu
quan trọng.
2/ Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin.
Thông tin kế toán, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn
cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý. Nh vậy
các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác
và tịn cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ và khách quan các nội
dụng chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính.
3/ Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý.
Hệ thống kiểm soát nội bộ đợc thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo

không hiểu rõ yêu cầu công việc.
Khả năng vợt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ do có sự
thông đồng của một ngời trong ban giám đốc hay một nhân viên với những ngời
khác trong hay ngoài đơn vị.
Khả năng những ngời chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ
lạm dụng đặc quyền của mình.
Do sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị vị
phạm.
I. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng nh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động
các đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát
nội bộ với bốn yếu tố chính: môi trờng kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ thống
kế toán), các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ.
1. Môi trờng kiểm soát.
5

Môi trờng kiểm soát là khái niệm bao gồm toàn bộ các nhân tố bên trong
và bên ngoài của đơn vị có tính môi trờng tác động đến việc thiết kế, hoạt động
và sử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ.
Theo VSA 400 môi trờng kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự
quan tâm và hành động của các thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc đối
với hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị. Môi trờng kiểm soát có ảnh hởng
trực tiếp đến hiệu quả của các thủ tục kiểm soát, môi trờng kiểm soát mạnh sẽ
hỗ trợ đáng kể cho các thủ tục kiểm soát cụ thể. Tuy nhiên môi trờng kiểm soát
mạnh không đồng nghĩa với hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh. Môi trờng kiểm
soát mạnh tự nó cha đủ đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống kiểm soát
nội bộ.
Các nhân tố thuộc môi trờng kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quan
điểm, thái độ và nhận thức cũng nh hành động của các nhà quản lý trong doanh
nghiệp. Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong các

chéo hoặc bỏ trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo
đảm sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn
nhau trong các bớc thực hiện công việc.
Nh vậy, để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các nhà
quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
thiết lập đợc sự điều hành và sự kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, đông thời không có sự chồng chéo
giữa các bộ phận.
Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi
chép sổ và bảo quản tài sản.
Đảm bảo sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận nhằm đạt đợc hiệu quả
cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng.
1.3. Chính sách nhân sự.
Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn găn liền với đội ngũ nhân viên
và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trờng kiểm soát cũng nh chủ thể trực
tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp. Nếu
nhân viên có năng lực và tin cậy, nhiều quá trìn kiểm soát có thể không cần
7

thiết phải thực hiện mà vẫn đảm bảo đợc các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội
bộ. Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các chính sách
và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong
công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội
bộ không thể phát huy hiệu quả.
Tóm lại, với những lý do nêu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp cần có
những chính sách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt,
khen thởng, kỷ luật nhân viên. Việc đào tạo, bố trí nhân cán bộ và đề bạt nhân
sự phải phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đồng thời phải
mang tính kế tục và liên tiếp.
1.4. Công tác kế hoạch.

2. Hệ thống kế toán.
Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ
thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ
thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán. Trong đó, quá trình lập và luân chuyển
chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiêm soát nội bộ của doanh
nghiệp.
Hệ thống chúng từ và sổ sách kế toán là những công cụ phản ánh các
nghiệp vụ kinh tế, chúng gồm những khoản mục đa dạng nh hoá đơn bán hàng,
đơn đặt mua hàng, sổ phụ, sổ nhật ký ban hàng cả chứng từ của bút toán gốc
và sổ sách mà trên đó các nghiệp vụ kinh tế đợc phản ánh đều quan trọng, nhng
tính không đầy đủ của chứng từ thờng gây ra những vấn đề lớn về kiểm soát.
Chứng từ thực hiện chức năng chuyển giao thông tin trong toàn tổ chức của
công ty. Chứng từ đầy đủ để cung cấp sự đảm bảo hợp lý là tất cả tài sản đã đợc
kiểm soát đúng đắn và tất cả nghiệp vụ kinh tế đợc ghi sổ chính xác. Khi sử
dụng chứng từ sổ sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Phải đợc đánh số liên tiếp để dẽ dàng kiểm soát các chứng từ bị thiếu.
Phải đợc lập ngay vào lúc nghiệp vụ kinh tế phát sinh, hoặc ngay sau
đó càng sớm càng tốt. Khi thời gian càng xa độ tin cậy của sổ sách càng giảm
và cơ hội để có sai lầm càng tăng.
9

Phải đủ đơn giản để đảm bảo là chúng rõ ràng dễ hiểu.
Hệ thống tài khoản đợc thiết lập để phân loại những nghiệp vụ kinh tế
thành những tài khoản riêng biệt trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và
trên bảng cân đối tài sản. Sơ đồ tài khoản là một công cụ kiểm soát quan trọng
vì nó cung cấp bố cục để xác định thông tin trình bày cho ban quản trị và những
ngời sử dụng báo cáo tài chính. Nó phải bao gồm đủ thông tin để cho phép sự
trình bày của các báo cáo tài chính phù hợp với các nguyên tắc kế toàn đã đợc
thừa nhận. Sơ đồ tài khoản có ích trong việc ngăn ngừa sai sót do phân loại sai
nếu nó mô tả chính xác và chuẩn mực loại nghiệp vụ kinh tế nào phải đợc xếp

quản lý cụ thể. Các thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm:
Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến
đơn vị.
Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán.
Kiểm tra chơng trình ứng dụng và môi trờng tin học.
Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.
Kiểm tra và phê duyệt các tài liệu kế toán.
Đối chiếu số liệu với bên ngoài.
So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán.
Gới hạn việc tiệp cận trực tiếp với các tài sản và các tài liệu kế toán.
Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch.
Các thủ tục kiểm soát thiêt lập trong đơn vị dựa trên ba nguyên tắc cơ
bản: nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; và
nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.
Nguyên tắc phân công phân nhiệm: theo nguyên tắc này, trách nhiệm
và công việc cần đợc phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều ngời
trong bộ phận. Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá
trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thờng dễ phát hiện do có sự kiểm
tra chéo.
Trong phân công phân nhiệm cần tránh cả hai xu hớng quá tập trung
hoặc quá phân tán. Quá tập trung dễ dẫn đến lạm quyền, quá phân tán dễ dẫn
11

đến những quyết định trong quản lý không đáp ứng đợc yêu cầu kịp thời hoặc
khong chuẩn xác, từ đó các cấp có thẩm quyền khong nắm đợc thông tin.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: nguyên tắc này qui định sự cách lý thích
hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai
phạm và hành vị lạm dụng quyền hạn.
Ba sự cách ly quan trọng nhất cân lu ý là:
- Cách ly quyền phê chuẩn nghiệp vụ với việc thực hiện nghiệp vụ kinh

tài sản và sổ sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị.
4. Kiểm toán nội bộ.
4.1.Khái niệm về kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập của đơn vị, thực hiện chức năng
kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị.
Theo chuẩn mực thực hành kiểm toán nội bộ do viện kiểm toán nội bộ
Hoa Kỳ ban hành 1978, kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập đ-
ợc thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra, đánh giá các hoạt động của tổ chức
nh là một hoạt động phục vụ cho một tổ chức.
Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là một hoạt
động đánh giá đợc lập ra trong một doanh nghiệp nh là một loại dịch vụ cho
doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp va hiệu
quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ.
Là một trong những nhân tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ của
doanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá th-
ờng xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả
của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ. Bộ
phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có đợc nhng thông
tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lợng của hoạt
động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các qui chế kiểm soát thích
hợp và hiệu quả.
13

4.2. Chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
4.2.1. Chức năng của kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nó
cũng trảI qua quá trình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý kinh
tế, trình độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp. Mặc dù
theo kinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, chức năng của
kiểm toán nội bộ hiện đại là đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ, nhng

báo cáo tài chính chứa đựng các thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích. Các
kiểm toán viên nội bộ thực hiện kiểm tra các báo cáo tài chính của doanh
nghiệp trong hai trờng hợp:
Trờng hợp thứ nhất: với mục đích giúp chủ doanh nghiệp hay nhà
quản lý của doanh nghiệp kiểm tra lại các thông tin tài chính, kiểm toán viên
nội bộ tiến hành kiểm tra, soát xét việc tính toán, phân loại báo cáo, thẩm định
cụ thể các khoản mục cá biệt. Điều này cũng có tác dụng giảm phí kiểm toán
của các kiểm toán viên độc lập khi công việc của kiểm toán viên nội bộ đạt hiệu
quả tốt.
Trờng hợp thứ hai: công việc kiểm tra đợc thực hiện nhằm hoàn thiện
việc thẩm tra các lĩnh vực khác để có thể đa ra kết luận.
Thứ ba: kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các chơng
trình hay các hoạt động nghiệp vụ. Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của doanh
nghiệp và các đối tác tham gia liên doanh với doanh nghiệp. Kiểm tra xác nhận
tính trung thực, hợp lý, đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của
đơn vị liên doanh.
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra hoạt động hay chơng trình để xem
xét kết quả thủ đợc có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không và các hoạt động,
chơng trình đó có đợc thực hiện theo kế hoạch đã định hay không.
Thứ t: kiểm tra các phơng tiện bảo đảm an toàn cho tài sản. kiểm tra
tính hiệu quả và pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó có hệ thống kế
toán. Giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiện chúng.
15

Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phơng tiện đợc sử dụng để
đảm bảo an toàn cho các tài sản để tránh mất mát. Đồng thời cần có những kiến
nghị cho nhà quản lý để phòng ngừa các hành vi bất hợp pháp xâm phạm tài sản
của đơn vị.
Thứ năm: đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động
của các nguồn lực.

yếu tố cấu thành của kiểm toán để thực hiện chức năng của kiểm toán.
Tổ chức bộ máy kiểm toán chính là việc tạo ra các mối liên hệ giữa các
yếu tố cấu thành kiểm toán, giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm toán và chính
giữa bản thân của hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác trong môi trờng hoạt
động của kiểm toán. Chính từ việc tổ chức bộ máy kiểm toán mà các mối liên
hệ đợc duy trì đảm bảo cho hệ thống thực hiện tốt chức năng xác minh và bày tỏ
ý kiến. Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phảo đảm bảo:
Tính khoa học: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải phù hợp với
nguyên lý chung của lý thuyết kiểm toán. Tuỳ theo đặc điểm tổ chức của doanh
nghiệp là tổ chức theo phơng pháp chức năng hay trực tuyến tham mu mà đa ra
mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ cho phù hợp.
Tính nghệ thuật: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải chú ý tới nhân
tố con ngời. Trong sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán cần phải phân công rõ ràng
chức năng và nhiệm vụ của mỗi kiểm toán viên nhằm đạt hiệu quả và hiệu suất
cao. Phải đảm bảo đủ về số lợng nhân viên trong bộ phận kiểm toán cũng là một
vấn đề quan trọng.
Điều quan trọng trong tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ là phải xác
định quy mô của doanh nghiệp: doanh nghiệp có thực sự cần bộ máy kiểm toán
nội bộ hay không, quy mô của doanh nghiệp nh thế thì bộ máy kiểm toán nên
có quy mô nh thế nào thì thích hợp
Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải tuỳ theo cơ cấu của doanh
nghiệp nh thế nào mà tổ chức sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít
nhất. Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để
không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải đợc giao một quyền
17

hạn tơng đối rộng rãi và hoạt đông tơng đối độc lập với phòng kế toán và các bộ
phận hoạt động đợc kiểm tra.
Về nhân sự, bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân
viên có năng lực chuyên môn và đạo đực nghề nghiệp phù hợp với các qui định

nghiệp nhà nớc và các doanh nghiệp có qui mô nhỏ. Trong trờng hợp này, ngời
thực hiện công việc kiểm toán có thể là kiểm toán viên chuyên nghiệp, thậm chí
ở một sô nớc trong các xí nghiệp công và doanh nghiệp nhà nớc đợc biên chế
trong bộ máy kiểm toán nhà nớc.
Mô hình này rất thích hợp với các xí nghiệp công, các doanh nghiệp có
qui mô nhỏ không cần biên chế kiểm toán viên nội bộ. Nó phát huy đợc thế
mạnh nghề nghiệp của các chuyên gia giỏi. Tuy nhiên trong trờng hợp này chi
phi kiểm toán thờng cao do phải thuê nhân viên. Mặt khác, do công việc kiểm
toán nội bộ cũng do số ít chuyên gia có trình độ cao đảm nhiệm nên cần chú
trọng đảm bảo tính khách quant rung thực của kiểm toán viên bằng các phơng
pháp bổ sung nh kiểm tra chéo, định kỳ thay đổi nơi làm việc của các kiểm toán
viên tăng cơng trách nhiệm của kiểm tra bên ngoài
Thực tế tại một số nơi cho thấy bộ máy kiểm toán nội bộ đợc thiết lập tại
các cơ quan và tổ chức kinh tế nhà nớc có thể là chân rết của các cơ quan hữu
quan. Trong những trờng hợp này bộ phận kiểm toán nội bộ chịu sự chỉ đạo trực
tiếp của cơ quan tổng kiểm soát, kiểm toán nhà nớc, bộ tài chính. Kiểm toán
viên nội bộ đợc kiểm toán nhà nớc đào tạo, bổ nghiệm, quản lý và chỉ đạo hoạt
động. Việc xây dựng mô hình nh vậy có u điểm là:
- Thống nhất quản lý nhà nớc đối với hoạt động kiểm toán nội bộ trong
các cơ quan và tổ chức kinh tế nhà nớc.
- Tiêu chuẩn hoá đợc đội ngũ kiểm toán viên.
- Công tác kiểm toán nội bộ sẽ đợc hớng dẫn và chỉ đạo thống nhất.
- Kiểm toán nội bộ sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho cơ quan
kiểm toán nhà nớc trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra, kiểm soát khi bộ
19

máy kiểm toán nhà nớc mới hình thành với số lợng kiểm toán viên còn ít ỏi so
với nhu cầu thực tế.
Từ những vai trò của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp thì việc tổ
chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp là cần thiết để nâng cao hiệu quả

Cơ quan quản
lý cấp trung
gian
Cán bộ quản lý
cấp doanh
nghiệp
Cán bộ quản lý
cấp doanh
nghiệp
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát
Bộ phận kiểm
toán nội bộ
Bộ phận kiểm
toán nội bộ
Cơ quan tổng
giám đốc
Cơ quan tổng
giám đốc

Mô hình này dựa trên cơ sở kiểm toán nội bộ là một bộ phận quan trọng
của doanh nghiệp, đặt tại doanh nghiệp, tiếp cận thờng xuyên, liên tục với mọi
hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh
nghiệp và phát hiện kịp thời những sai sót, sơ hở, những điểm yếu để báo cáo
kịp thời cho lãnh đạo để có các biện pháp khắc phục, hoàn thiện. Cách tổ chức
theo mô hình này phù hợp với điều kiện thực tiễn của các doanh nghiệp nhà nớc
trong giai đoạn hiện nay.
4.4. Các loại hình hoạt động của kiểm toán nội bộ.
4.4.1. Phân loại theo đối tợng cụ thể, hoạt động kiểm toán có 3 loại hình:
kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.

vào hoạt động hay việc luân chuyển chứng từ trong một đơn vị Vì thế, khó có
thể đa ra một khuân mẫu cho loại hình kiểm toán này. Đồng thời, tính hiệu lực
và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó đợc đánh giá một cách khách quan
so với tính tuân thủ và tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Thay vào
đó, việc xây dựng các chuẩn mực để đánh giá các thông tin có thể định lợng
trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một việc mang nặng tính chất chủ quan.
Sản phẩm của kiểm toán hoạt động là báo cáo cho ngời quản lý về kết quả kiểm
toán và những ý kiến đề xuất cảI tiến hoạt động.
Trong loại hình này kiểm toán nội bộ là chủ thể tiến hành kiểm toán một
cách thờng xuyên và chủ yếu.
kiểm toán tuân thủ: là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về chấp hành
luật pháp, thể lệ, chế động và quy định nào đó của đơn vị. Trong kiểm toán liên
kết phải đồng thời giải quyết hai yêu cầu:
Một là: xác minh tính trung thực của các thông tin tài chính cùng với xác
định mức an toàn của các nghiệp vụ tài chính và chất lợng của hệ thống kiểm
soát nội bộ.
23

Hai là: hớng vào những thành tích và hiệu quả trong đó cần xem xét việc
thiết lập hệ thống thông tin và quản lý cõng nh việc điều hành hớng tới tối u hoá
việc sử dụng các nguồn lực.
Trong loại hình này kiểm toán viên nội bộ tiến hành cuộc kiểm toán
trong trờng hợp cấp trên yêu cầu.
4.4.2. Dựa vào thời gian tiến hành cuộc kiểm toán có 3 loại hình: kiểm
toán trớc quá trình hoạt động, kiểm toán trong quá trình hoạt động và kiểm toán
sau quá trình hoạt động.
Kiểm toán trớc quá trình hoạt động: chủ yếu là kiểm tra tính khả thi,
tính hiệu quả các dự án, kế hoạch nhằm giúp các cấp ra các quyết định quản lý
có đợc những thông tin và sự đảm bảo chắc chắn về các quyết định của mình.
Kiểm toán trong quá trình hoạt động: Mục đích nhằm giúp các nhà

đến một nghiệp vụ la đảo và nó cũng có thể có ảnh hởng làm tăng phí hoặc phá
hoại tài sản của công ty.
3. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổ đầy đủ (tính đầy đủ).
Các thể thức của khách hàng phải ngăn ngừa sự gạt bỏ các nghiệp vụ
kinh tế ra ngoài sổ sách.
4. Các nghiệp vụ kinh tế phải đớc đánh giá đúng đắn (sự đánh giá).
Một cơ cấu kiểm soát nội bộ đầy đủ gồm các thể thức để tránh các sai số
khi tính toán và ghi sổ các số tiền của nghiệp vụ đó ở các giai đoạn khác nhau
của quá trình ghi sổ.
5. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phân loại đúng đắn (sự phân loại).
Quá trình phân loại đúng đăn tài khoản phù hợp với cơ cấu tàI khoản của
doanh nghiệp phải đợc thực hiện trên các sổ nhật ký nếu các báo cáo tài chính
đợc trình bày đúng đăn. Sự phân loại cũng bao gồm những nhóm nh khu vực và
sản phẩm.
6. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phản ánh đúng kỳ (tính đúng kỳ).
Việc ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế hoặc trớc hoặc sau khi chúng xảy ra
làm tăng khả năng bỏ quên không ghi sổ nghiệp vụ đó hoặc khả năng ghi sổ với
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status