Tài liệu Tiểu luận: Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn - Pdf 10

GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 1 Tiểu luận
Thực trạng quản lý và sử
dụng hóa đơn

GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 2 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nó
tồn tại và thực hiện các chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để
ban hành những quy định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối một phần của cải
xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Sự xuất hiện sản phẩm thặng
dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu tạo khả năng và nguồn thu để thuế khóa tồn tại và

ở nước ta hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Bài luận được hoàn thiện với mục tiêu chính như sau:
Thứ nhất, lý luận chung về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn chứng từ.
Thứ hai, thực trạng và giải pháp công tác quản lý hóa đơn giá trị gia tăng hiện
nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là luật thuế và công tác quản lý thuế giá trị gia tăng ở
nước ta.
Phạm vi nghiên cứu là việc quản lý hóa đơn chứng từ của nhà nước.
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 4 PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thuế giá trị gia tăng (VAT)
1.1.1 Khái niệm:



Thuế GTGT đầu ra = tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi
trên hóa đơn GTGT.

Thuế GTGT đầu vào = tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua HH,
DV. Tùy vào từng loại HH, DV khác nhau mà mức thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
cũng khác nhau.
 Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng.
Xác định số thuế phải nộp:
Trong đó: 1.1.3. Vai trò của thuế GTGT.
1.1.3.1. VAT trong lưu thông hàng hóa.
Số thuế
GTGT
phải nộp
Số thuế
GTGT
đầu ra
_

=

Giá thanh toán
HH, DV mua vào
tương ứng
-

=

GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 6

Với ưu điểm của thuế giá trị gia tăng là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá
trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối
với toàn bộ doanh thu phát sinh như mô hình thuế doanh thu, nếu như không có các sự
kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế
suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay
cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái
lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế.
Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF) thì phần lớn các nước trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị
gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ thường không thay đổi và mức sản xuất của
các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng cũng không sút giảm, kể cả các
trường hợp tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng trong định kỳ
điều chỉnh. Như vậy ta có thể kết luận rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một
nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lưu thông
hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở
rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất
khẩu.
1.1.3.2. VAT trong quản lý Nhà nước về kinh tế.
Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô

tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận
về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng
có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá
đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung
được nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và
thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn
chế thất thu về thuế.
 Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá
có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp
kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ
hoá đơn, chứng từ.
 Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại
hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá
thành sản phẩm.
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 8

 Thuế giá trị gia tăng được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số
loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu góp phần làm cho hệ
thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động
và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực
và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam.
Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, thuế giá trị gia tăng được coi là
phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu
lớn của chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đơn
giản, trung lập Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế giá trị gia tăng đã phát
sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước ta đang từng bước tháo gỡ những khó
khăn đó trong quá trình thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng.

vụ.
Hoá đơn là chứng từ xác định chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trong việc thực
hiện Luật thuế giá trị gia tăng và các Luật thuế mới thì hoá đơn lại có ý nghĩa quan
trọng trong việc kê khai thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế, đảm bảo tính chính xác và
chống thất thoát tiền Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
tốt chế độ kế toán thống kê, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.


Ý nghĩa công việc quản lý hóa đơn của Nhà nước:
Vì hoá đơn là chứng từ ghi nhận hoạt động kinh doanh nên hoá đơn cũng có
nghĩa là tiền, thậm chí quan trọng hơn tiền bởi vì, hoá đơn tài chính nếu vượt ngoài
tầm kiểm soát của Nhà nước thì còn nguy hiểm hơn cả việc làm tiền giả rất nhiều. Đối
với doanh nghiệp, hoá đơn cũng là bằng chứng chủ yếu cho một nghiệp vụ kinh doanh
và có tính chất quyết định đến nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp. Vì vậy, Nhà nước
phải quản lý hoá đơn. Việc quản lý hoá đơn có ý nghĩa rất to lớn không chỉ đối với
Nhà nước mà cả đối với bản thân doanh nghiệp. Việc quản lý nếu không tốt có thể dẫn
đến việc phản ánh sai lệch kết quả sản xuất kinh doanh, nghĩa vụ đối với Nhà nước của
doanh nghiệp; Các đối tượng xấu có thể lợi dụng các kẽ hở trong quy định về hoá đơn
để gian lận, rút tiền của NSNN; quản lý hoá đơn không tốt sẽ tạo ra sự bất bình đẳng
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 10

giữa các doanh nghiệp, ảnh hưởng xấu đến môi trường sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đối với Nhà nước, việc quản lý hoá đơn không tốt sẽ dẫn đến các thông tin về
doanh nghiệp bị sai lệch, ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách vĩ mô của
Nhà nước. Nhìn một cách tổng thể, quản lý tốt hóa đơn sẽ mang lại nhiều lợi ích:
 Thứ nhất, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tự quản lý tốt hoạt động sản xuất,
kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua hoá đơn, doanh nghiệp dễ


Hoá đơn, chứng từ hợp pháp là:
Hoá đơn do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành do cơ quan thuế cung cấp
cho các cơ sở kinh doanh.
Hoá đơn do các cơ sở kinh doanh tự in để sử dụng theo mẫu quy định và đã
được cơ quan Thuế chấp nhận cho sử dụng.
Các loại hoá đơn, chứng từ đặc thù khác được phép áp dụng.
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 12

Chương 2:
THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
HÓA ĐƠN Ở NƯỚC TA.

2.1 Thực trạng sử dụng hóa đơn ở các doanh nghiệp
Trong các năm qua, đại bộ phận các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đều
chấp hành nghiêm chỉnh chế độ in phát hành, quản lý sử dụng hoá đơn và đã thực hiện

 Sử dụng hoá đơn giả để bán hàng, để khấu trừ thuế đầu vào hoặc xin hoàn
thuế.
 Sử dụng hoá đơn của đơn vị khác (xin, mua) hoặc đã báo mất.
 Xuất hoá đơn theo bảng kê bán lẻ không lưu giữ liên 2 với lý do xé bỏ mất
nhưng lại dùng để xuất hàng cho đơn vị khác hoặc đem bán.
 Dùng hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành đã sử dụng sau đó tẩy xoá (dùng
hoá chất hoặc tẩy cơ học) để dùng lại.
 Viết hoá đơn bán hàng không đúng ngày thực tế bán hoặc có trường hợp
trước cả ngày mua hoá đơn tại cơ quan thuế.
 Xuất hoá đơn khống cho khách hàng.
 Sử dụng hoá đơn không do Bộ Tài chính phát hành để bán hàng,
 Bán hoá đơn trắng.
 Hoá đơn đã sử dụng xuất hàng cho khách nhưng quay vòng lại để báo huỷ.
 Xuất giùm hoá đơn.
 Đóng dấu giùm trên hoá đơn.
 Khấu trừ thuế đầu vào không có hoá đơn, hoá đơn không hợp pháp, không
đúng tỷ lệ.
 Kê khai hoá đơn dịch vụ không được khấu trừ của hàng hoá không dùng cho
hoạt động SXKD.
 Kê khai thuế đầu vào trên bảng kê sai với thực tế.
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 14

 Lập hồ sơ, hợp đồng kinh tế khống hoặc với đối tác không có thực để chiếm
dụng tiền hoàn thuế.
 Công ty mẹ thành lập nhiều công ty con để hoàn chỉnh hồ sơ rút tiền hoàn
thuế của Nhà nước.
 Kê khai hàng hoá xuất khẩu nhưng thực tế lại bán trong nước để hưởng thuế
suất 0%.

Cũng có trường hợp doanh nghiệp chỉ nhập hàng một lần rồi sau đó thay đổi
toàn bộ địa chỉ, trụ sở và thậm chí là cả đổi tên doanh nghiệp. Để rồi cũng chính con
người đó tiếp tục nhập lô hàng khác, với một tư cách pháp nhân khác để lại nhận được
ưu đãi về chậm nộp thuế một cách hợp pháp.
 Xuất hóa đơn VAT khống:
Không có giao dịch cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhưng hóa đơn vẫn được
xuất và trị giá trên hóa đơn có thể được tính là chi phí hợp lý hợp lệ giúp giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp (đối với chủ doanh nghiệp) hoặc để chiếm đoạt trị giá hóa đơn khi
thanh toán với công ty (đối với nhân viên).

Bán hàng lập hóa đơn chênh lệch giữa các liên.
Một trong những cách gian lận đơn giản, không tốn nhiều công sức đó là người
mua và người bán thông đồng với nhau ghi chênh lệch thuế GTGT giữa liên 1 (người
bán giữ) và liên 2 (màu đỏ, giao cho khách hàng) khác nhau. Người bán sẽ hạ giá trị
ghi ở liên 1 thấp xuống để khai báo lỗ, không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp
hoặc để giảm số thuế GTGT phải nộp đồng thời ghi giá trị trên liên 2 của hóa đơn cao
hơn giá thanh toán trên thực tế giúp người mua tăng số thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ.

Lập hồ sơ xuất khẩu khống để được hoàn thuế.
Theo quy định, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa có thuế suất thuế GTGT
là 0% thì các đơn vị xuất khẩu sẽ được hoàn lại thuế GTGT. Lợi dụng chính sách
khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu này, một số doanh nghiệp không có hàng hóa
xuất khẩu nhưng cũng lập hồ sơ xuất khẩu khống. Các doanh nghiệp sẽ lập các hợp
đồng mua bán khống cũng như xuất hóa đơn khống. Các doanh nghiệp thực hiện các
giao dịch thu mua hàng hóa đầu vào khống (thường là với các mặt hàng nông/lâm/thủy
sản) là các mặt hàng thuộc loại không cần hóa đơn đầu vào và xuất hàng khống ra
nước ngoài sử dụng các thủ đoạn để qua mặt cơ quan hải quan. Sau đó lập bảng kê và
tờ khai để lấy lại tiền thuế VAT đầu vào mà họ đã không bao giờ phải chịu.Hình thức
gian lận này của doanh nghiệp rất công phu và có tổ chức. Một ví dụ đã xảy ra ở thành

nhiều cửa hàng, nhà hàng, quán ăn (thực hiện thuế khoán) đã tuy không lớn nhưng
cũng “tiến lên” thành lập công ty để được “tự tính, tự khai, tự nộp thuế”.
Ngoài ra kinh nghiệm của chủ một nhà hàng cho hay rằng không nên thành lập
công ty tại địa chỉ kinh doanh, như thế sẽ rất “rách việc”, vì chỉ cần không “khéo” sẽ
bị cán bộ thuế “hành”. Doanh số đơn vị bán ra bao nhiêu, cán bộ biết được đề xuất
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 17

xuống kiểm tra lên, kiểm tra xuống cũng mệt. Chính vì vậy các doanh nghiệp đã
chuyển trụ sở công ty sang địa bàn quận khác, sau đó biến nhà hàng, cửa hàng kinh
doanh thành đơn vị trực thuộc công ty. Như vậy, hoạt động kinh doanh vẫn ở chỗ cũ,
nhưng báo cáo thuế ở quận khác (nơi công ty đóng trụ sở). Vì thông thường, cán bộ
thuế quận này rất ít đến quận khác kiểm tra. Không ít cửa hàng lớn, bán hàng mỗi
ngày doanh thu đến tiền tỷ nhưng đóng thuế rất ít. Điều đáng nói là, “ai cũng biết, chỉ
mình cán bộ thuế không biết”.
Bên cạnh vấn đề lợi dụng thuế GTGT để chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước như
nói trên, thì vấn đề trốn thuế trong lĩnh vực xây dựng cơ bản cũng đang trở thành một
vấn đề nổi cộm. Nhiều trường hợp đã lợi dụng việc đầu tư ngân sách từ Trung ương
"rót" về các địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng để kiếm những khoản tiền "béo bở".
Những đối tượng này phần lớn là những doanh nghiệp đại gia của một số Bộ, ngành,
thành phố lớn. Họ nắm được "thóp" của các doanh nghiệp xây dựng ở địa phương chắc
chắn "đói vốn", không đủ khả năng tài chính để đứng ra nhận thầu các công trình đầu
tư trên. Các doanh nghiệp đại gia này nhanh chân nhảy vào đấu thầu, rồi sau đó sẽ bán
thầu lại cho các doanh nghiệp địa phương kiếm khoản tiền chênh lệch, rồi ung dung bỏ
đi, không kê khai nộp thuế tại địa phương theo quy định Có trường hợp, khi cơ quan
thuế phát hiện ra thì đã quá muộn, vì doanh nghiệp này đã kịp "cao chạy xa bay".
 Tiêu điểm: Bán hàng không xuất hóa đơn
Theo quy định, khi bán hàng có giá trị thanh toán trên 100.000 đồng, người
bán phải có trách nhiệm xuất hóa đơn cho khách hàng. Việc không lập, không giao

Giống như Hoàn Long, Phong Vũ cũng dùng “phiếu xuất hàng” với chữ “R” để chứng
minh giao dịch xong, mặc dù giá bán nhiều mặt hàng đã bao gồm thuế VAT.
Không chỉ không giao hóa đơn cho khách khi bán hàng có thuế VAT, nhiều
công ty, cửa hàng còn bán hàng không có thuế VAT. Phổ biến nhất là các nhà hàng,
dù mỗi lần thu vào vài triệu đồng. chính điều này gây nên sự bất công bằng giữa các
doanh nghiệp bán hàng xuất và không xuất hóa đơn.
Các cửa hàng điện máy, điện lạnh, vi tính lớn trên địa bàn TP, dễ thấy họ bán 2
loại hàng: với loại chính hãng của các công ty có thương hiệu thì giá bán đã có VAT,
còn các loại khác thì không có VAT. Nhưng dù có thuế hay chưa thì khách cũng
không được giao hóa đơn theo đúng quy định. Thậm chí tại một số công ty, hầu như
100% hàng hóa được bán với giá không thuế VAT.
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 19

Công ty TNHH TM Vương Quỳnh Trinh bán hàng điện lạnh, điện máy có trị
giá lớn nhưng chứng từ giao dịch chỉ là “phiếu giao hàng” đóng dấu “đã thu tiền” giao
cho khách. Trong phiếu còn ghi rõ “phiếu không có trị giá thay thế hóa đơn” và số
thuế VAT ghi trên phiếu thu bằng “0”, có nghĩa là khách muốn xuất hóa đơn phải
đóng thêm thuế VAT.
Câu hỏi được đặt ra là việc trốn thuế ngang nhiên ở các công ty lớn, ai cũng
thấy, tại sao các cơ quan chức năng không xử lý?
Thử tính, tổng mức bán lẻ trên địa bàn TPHCM trong 6 tháng đầu năm 2009 đạt
125.000 tỷ đồng, cả nước là 547.495 tỷ đồng, trung bình mức thuế là 10% thì số tiền
thu được gần 55.500 tỷ đồng, trong đó TPHCM là 12.500 tỷ đồng. Ước tính, lấy số
thuế này chia cho 6 tháng thì số tiền thuế VAT thu được mỗi ngày là 300 tỷ đồng,
trong đó riêng TPHCM là 68 tỷ đồng/ngày. Với việc nhiều đại gia bán hàng không
xuất hóa đơn như là một cách trốn thuế, rõ ràng số tiền thuế VAT mà nhà nước thất
thu là con số không nhỏ.
2.2. Thực trạng luật thuế và bộ máy

lệ % trên giá mua vào.
 Theo qui định tại công văn số 6615/TC/TCT ngày 16/7/2001 của Bộ Tài
chính: đối với số hàng hoá bán lẻ cho khách hàng không lấy hoá đơn, cuối ngày đơn vị
bán hàng phải lập một hoá đơn chung cho số hàng này và liên 2 (giao cho khách hàng)
được lưu tại quyển. Nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện qui định này và vẫn xé
liên 2, gây thất lạc, mất. Đồng thời một số doanh nghiệp đã lợi dụng việc không phải
giao liên 2 cho khách hàng để báo mất những liên 2 này và dùng để xuất hàng hoá,
dịch vụ cho các đơn vị hoặc bán cho người khác sử dụng.
 Việc xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng hoá đơn hiện nay
không được qui định tại nhiều văn bản khác nhau, không thống nhất hoặc không cụ
thể, gây khó khăn cho việc thực hiện xử lý vi phạm ở các địa phương (Nghị định
49/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, Thông tư 30/2001/TT-BTC ngày 16/5/2001
của BTC sửa đổi Thông tư 128/1998/TT-BTC ngày 22/9/1998 hướng dẫn thực hiện
Nghị định 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ; Quyết định số 31/2001/QĐ-BTC
ngày 13/4/2001 của Bộ trưởng BTC sửa đổi Quyết định 885/1998/QĐ-BTC ngày
16/7/1998 của Bộ trưởng BTC ).
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 21

 Hành vi in ấn, mua bán hoá đơn giả chưa được Bộ Luật hình sự xác định là
tội phạm nên chưa răn đe, ngăn chặn được các hành vi vi phạm này (điều 164 Bộ luật
hình sự chỉ qui định về “tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả”).
 Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa xây dựng các hệ thống chỉ tiêu chí
chuẩn về doanh nghiệp để áp dụng quản lý doanh nghiệp thông qua hệ thống máy tính;
Nhà nước chưa có luật qui định bắt buộc các doanh nghiệp kết nối mạng máy tính của
doanh nghiệp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong đó có nội dung nhận, quản lý,
sử dụng hoá đơn bán hàng); chưa qui định việc khai thác trên mạng về số liệu, thông
tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.


có hoá đơn chứng từ mà chỉ cần bảng kê khai (hầu như không có giá trị pháp lý) thì
được khấu trừ khống theo tỷ lệ nhất định (trừ một số hàng hoá không được khấu trừ
khống theo Nghị định 108/2002/NĐ-CP ngày 25/12/2002 của Chính Phủ). Vì vậy, đưa
đến một mâu thuẫn là trong một số trường hợp số thuế đầu vào không có thật thì được
khấu trừ, một số trường hợp khác là số thuế đầu vào có thật thì không được khấu trừ
hoặc chỉ được khấu trừ một phần. Do đó, để khắc phục tình trạng này cần phải đi đến
một phương pháp tính thuế thống nhất, một loại hoá đơn thống nhất để trả lại đúng bản
chất của thuế GTGT, tức là cần phải tiến đến việc sử dụng phương pháp khấu trừ cho
mọi đối tượng.


Đối với quy trình hoàn thuế.
Việc quy định “hoàn thuế trong trường hợp có quyết định xử lý hoàn thuế của
cơ quan Nhà nước có thầm quyền” là một quy định làm mất đi tính thực thi của Luật
Thuế GTGT. Hơn nữa với quy định này sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng và tuỳ tiện
trong quá trình quyết định hoàn thuế.
Trong trường hợp ngành thuế nghi ngờ doanh nghiệp gian lận thuế GTGT, cần
có thời gian để xác minh thì thời hạn 15 ngày là không đủ, bởi vì việc xác minh các
hóa đơn mất rất nhiều thời gian, thậm chí không được cơ quan thuế các địa phương
phản hồi. Theo báo cáo của cơ quan thuế thì có khoảng 50% số hồ sơ gởi đi xác minh
là được phản hồi. Trong trường hợp này ngành thuế buộc phải hoàn thuế cho doanh
nghiệp. Do bức xúc với tình trạng ngân sách nhà nước bị rút ruột do gian lận thuế
GTGT, hiện nay cơ quan thuế chỉ đảm bảo hoàn thuế theo thời hạn 15 ngày trong
những trường hợp thanh toán qua ngân hàng, những trường hợp xuất khẩu tiểu ngạch
qua biên giới hoặc thanh toán bằng tiền mặt thì ngành thuế không đảm bảo thời hạn 15
ngày. Điều này lại dẫn đến tình trạng vi phạm luật.
GVHD: ThS.Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 23



Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 24

thuộc diện chịu thuế GTGT thì hoàn toàn không có quyền lợi gì trong việc yêu cầu bên
bán phải thực hiện nghĩa vụ lập hoá đơn. Khi bên bán không thực hiện nghĩa vụ lập
hoá đơn thì quyền lợi của Nhà nước bị xâm hại. Vì vậy, Nhà nước cần phải bảo vệ
quyền lợi của mình bằng cách bắt buộc bên bán phải lập hoá đơn.


Thiếu sự quyết liệt trong xử phạt.
Theo lời của Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng, ở Trung Quốc đã xử
tử 60 phạm nhân liên quan đến hoàn thuế. Thế nhưng ở nước ta chưa tử hình tội phạm
nào cả, thậm chí xử tù 20 năm cũng chưa có. Theo Thời báo Tài chính Việt Nam, dẫn
nguồn tin từ Tổng cục thuế, mức phạt cao nhất là 100 triệu đồng đối với các hành vi vi
phạm chế độ sử dụng hoá đơn như: lập hoá đơn chênh lệch giữa các liên; dùng hoá
đơn khống, hoá đơn giả và hoá đơn không còn giá trị; tẩy xoá nội dung các chỉ tiêu của
hoá đơn đã sử dụng. Nếu so sánh số tiền phạt với doanh thu hàng ngày lên đến hàng
trăm triệu của các doanh nghiệp thì số tiền đó chẳng khác gì “muối bỏ bể”. Trên thực
tế, thiệt hại do sử dụng hoá đơn không trung thực khiến Nhà nước thất thoát hàng trăm
tỷ đồng. Nếu không trị quyết liệt thì luật pháp không còn khiến người ta sợ. Do đó,
tình hình phạm tội liên quan đến thuế GTGT, mặc dù đã được công luận cảnh báo cơ
quan chức năng, vẫn tiến triển nhanh, đa dạng, tinh vi và ngày càng lớn về số tiền thuế
chiếm đoạt.


Sự thoái hoá của một số cán bộ thuế.
Không hiếm trường hợp chính cán bộ thuế gợi ý và tiếp tay cho một số cá nhân
ăn cắp tiền thuế. Chủ trương xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới bị lợi dụng với sự tiếp
sức của một vài cán bộ thuế biến chất. Để thu một tỷ đồng thuế, nhiều cán bộ thuế phải
nỗ lực phấn đấu trong thời gian có khi cả năm. Thế nhưng chỉ cần hai ba cán bộ thuế

định về quản lý, sử dụng hoá đơn. Một số người mua hàng thông đồng với người bán
hàng để mua hoá đơn khống chỉ, nâng giá hàng cao hơn thực tế, lập hoá đơn khống
(không có hàng hoá) để trốn thuế, để được khấu trừ, hoàn thuế, hợp lý hoá các khoản
chi bất hợp pháp hoặc thanh toán tài chính trong các doanh nghiệp, các cơ quan thụ
hưởng NSNN.
Một số tổ chức, cá nhân kinh doanh do hiểu biết không đầy đủ các qui định về
quản lý, sử dụng hoá đơn nên đã vô tình có các hành vi vi phạm các qui định về quản
lý, sử dụng hoá đơn trong mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thu tiền.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status