1
LÝ LUẬN HÌNH THI KINH TẾ X HỘI,
THỰC TRẠNG V GIẢI PHP TRONG VẤN ĐỀ ĐO
TẠO NGHỀ Ở NƠNG THƠN VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
(Tiểu luận triết học chương trình CH v NCS khơng chuyn triết)
Học vin thực hiện :
TRẦN THỊ HẠNH THẢO
Chức danh : Gio vin
Học vị : Kỹ sư
Nơi cơng tc : Trung tm KTTH-HN Kin Giang TP.HỒ CHÍ MINH - 2006
Hướng nghiên cứu của đề tài này là trung giải quyết về cách thức và biện
pháp dạy nghề ở nông thôn theo từng đặc thù kinh tế ở từng địa phương, từng
vùng. Một khi người lao động ở nông thôn được đào tạo nghề, nắm bắt được kỹ
thuật hiện đại thì công cuộc cách mạng công nghiệp hóa nông thôn của chúng ta
sẽ thành công.
Tiểu luận này có 3 chương :
Chương 1 : Lý luận Hình thái kinh tế – Xã hội.
Chương 2 : Vai trò và vị trí của việc đào tạo nghề ở nông thôn, thực trạng
về công tác dạy nghề ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
Chương 3 : Cách thức và giải pháp dạy nghề ở nông thôn theo từng đặc
thù kinh tế ở từng địa phương, từng vùng.
Chương 1 : LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI.
1.1. Hình thái kinh tế xã hội là gì ?
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để
chỉ xã hội trong từng giai đọan lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất
Q3
đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ
sản xuất ấy.
Như vậy:Hình thái kinh tế - xã hội là một xã hội trọn vẹn trong tưng giai
đoạn lịch sử nhất định.
Cấu trúc của một hình thái kinh tế - xã hội gồm: Lực lương sản xuất, quan
hệ sản xuất ( mà những quan hệ sản xuất ấy tạo nên kết cấu kinh tế tức cơ sở hạ
tầng của xã hội) và kiến trúc thượng tầng.
Cho đến nay, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua các hình
+ Mức độ hoàn thiện của công cụ lao động.
+ Khả năng khai thác hợp lý đối tượng lao động.
Trình độ của lực lượng sản xuất biến đổi theo chiều hướng ngày càng hoàn
thiện.
* Người lao động : là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo
nên của cải vật chất cho xã hội. Người lao động có những tiêu chuẩn về : sức
4
khoẻ, tuổi tác, trí tuệ và trình độ chuyên môn. Ở những quốc gia khác nhau tiêu
chuẩn về ngươi lao động cũng khác nhau.
* Tư liệu sản xuất : Là phần giới tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất.
- Tư liệu lao động : Phần giới tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất vật
chất gồm: công cụ lao động và phương tiện lao động :
Công cụ lao động là những vật trung gian để truyền sức lực từ người lao
động đến với những vật khác trong quá trình sản xuất.
Phương tiện lao động là những vật hỗ trợ con người vận chuyển, bảo quản
trong quá trình sản xuất. Ví dụ như : xe đưa đón công nhân, hệ thống thông gió,
hệ thống chiếu sáng, trang thiết bị bảo hộ lao động.
- Đối tượng lao động là những vật nhận sự tác động của công cụ lao động
trong quá trình sản xuất vật chất như : đất đai, cây cối,…v.v
Một vật, tuỳ theo trường hợp cụ thể mà nó có thể là đối tượng lao động
hoặc là phương tiện lao động hoặc là công cụ lao động.
Ví dụ :
- Đối với người thợ sửa máy thì chiếc máy cày là đối tượng lao động. Nhưng
đối với người công nhân đang lái máy để cày trên đồng ruộng thì chiếc máy cày
là công cụ lao động. Trong trường hợp dùng máy cày để chuyên chở nông dân
từ nhà ra đồng ruộng để làm thì chiếc máy cày là phương tiện của người nông
dân.
- Sức khoẻ, tuổi tác, trí tuệ và trình độ chuyên môn của người lao động phải
phù hợp với hàm lượng chất xám thể hiện trong công cụ lao động. Nói một cách
sự phát triển của lực lượng sản xuất (thông thường vì yếu tố lợi nhuận ). Để so
sánh 2 nền sản xuất, người ta so sánh phương thức sản xuất.
1.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất:
a. Trình độ lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất :
* Trình độ của lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất phải tương
xứng như thế ấy, tức là quan hệ sản xuất phải tương ứng với trình độ của lực
lượng sản xuất.
Ví dụ :
Với người lao động mù chữ, công cụ lao động là cái cày, cái cuốc, phương tiện
lao động là chiếc xe bò, đối tượng lao động là ruộng vườn thì cách quản lý và
phân công cũng như phân phối sản phẩm khác với việc người lao động là một kỹ
sư chế tạo máy, công cụ lao động là những chiếc máy, phương tiện lao động là
chiếc xe con để đi làm và đối tượng lao động là sắt thép.
* Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì
quan hệ sản xuất cũng phai thay đổi theo cho phù hợp với trình độ đang có của
lực lượng sản xuất. Khi đó phương thức sản xuất thay đổi. Ở phương thức sản
xuất mới, trình độ của lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển để đến một lúc
nào đó quan hệ sản xuất lại thay đổi, một phương thức sản xuất mới ra đời.
Như vậy, Trình độ của lực lượng sản xuất quyết định tính chất quan hệ sản xuất,
quyết định sự ra đời và biến đổi của kiểu quan hệ sản xuất, quyết định các hình
thức kinh tế của quan hệ sản xuất.
b. Quan hệ sản xuất tác động ngược lại lực lượng sản xuất :
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất thông qua
việc quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ
chức, quản lý, phân công sản xuất, quy định phương thức phân phối của cải vật
chất.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo
hai hướng:
hệ sản xuất thống trị.
Ví dụ : Trong giai đoạn hiện nay, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã
hình thành và đang hoàn thiện phát triển trong hình thái kinh tế xã hội tư bản
chủ nghĩa.
b. Kiến trúc thượng tầng :
Là hệ tư tưởng xã hội và những thiết chế tương ứng với hệ tư tưởng ấy.
Hệ tư tưởng xã hội được thể hiện qua các học thuyết và lý luận mà xã hội đó sử
dụng. Những thiết chế tương ứng là những tổ chức người và những phương tiện
vật chất mà tổ chức ấy sử dụng để thể hiện tư tưởng .
* Hệ tư tưởng xã hội bao gồm các học thuyết :
- Về chính trị.
- Về pháp quyền.
- Về tôn giáo.
- Các ngành khoa học.
* Những thiết chế tương ứng với các quan điểm, tư tưởng và những phương
tiện vật chất mà họ sử dụng để thực hiện tư tưởng, như:
- Nhà nước.
- Giáo hội.
- Các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học.
- Những phương tiện vật chất như nhà, xưởng, đền đài, xe cộ…
Các học thuyết về chính trị và pháp quyền được thể hiện qua thiết chế nhà nước
và các công sở, học thuyết về tôn giáo thể hiện qua giáo hội và nhà thờ, đền,
chùa…, các học thuyết về khoa học thể hiện qua các viện, các trung tâm nghiên
cứu.
Các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng luôn thay đổi trong vai trò thống trị
theo từng giai đoạn lịch sử.
1.3.2 Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
7
a. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng :
xã hội này đã chuyển sang một xã hội khác cao hơn.
Như vậy, sự phát triển của xã hội loài người là quá trình lịch sử tự nhiên,
tức là nó không theo ý muốn chủ quan của con người mà tuân theo những quy
luật khách quan, trong đó và trước hết và quan trọng nhất là quy luật về: lực
lượng sản xuất – quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng – kiến trúc thượng tầng.
Nói một cách khác là sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình
lịch sử tự nhiên, nó không tuân theo ý muốn chủ quan của con người mà tuân
theo quy luật khách quan.
Như vậy lần đầu tiên trong lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội đã vạch
ra một cách khoa học nguồn gốc, động lực của sự phát triển xã hội, tìm ra những
nguyên nhân và cơ sở của sự xuất hiện và biến đổi của những hiện tượng xã hội,
đặt cơ sỡ khoa học cho các khoa học về xã hội.
1.4. Vận dụng vào xã hội ta hiện nay :
8
Hiểu rõ được lý luận hình thái kinh tế xã hội, từ đó ta có thể hiểu được sự
vận dụng của Đảng và Nhà nước ta đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay :
a. Tập trung phát triển lực lượng sản xuất :
Khoảng 2020 , về cơ bản Việt Nam phải trở thành nước công nghiệp,
Với nhiệm vụ của công nghiệp hóa là vừa chuyển kinh tế nông nghiệp sang kinh
tế công nghiệp, vừa phải đưa một số lĩnh vực sản xuất đi vào kinh tế tri thức.
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế tất dẫn đến thay đổi cơ cấu lao động.Do vậy,
nhiệm vụ nâng cao dân trí lúc này không đơn thuần là việc tăng số năm đi học
trung bình ( tức là mặt bằng dân trí hiểu theo nghĩa thông thường) của người
dân, mà về cơ bản là thay đổi cơ cấu học vấn, cơ cấu tay nghề của đội ngũ lao
động .
Thông qua quan điểm công nghiệp hoá chúng ta lựa chọn những ngành
công nghệ thích hợp, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống thông tin tạo
là yếu tố không thể thiếu trong qúa trình công nghiệp hóa đất nước. Bỡi vì, Đặc
9
thù ở Việt Nam chúng ta nền sản xuất nông nghiệp chiếm một tỷ trọng khá lớn,
mà sản xuất nông nghiệp thì tập trung ở nông thôn. Nông thôn Việt Nam chúng
ta còn quá lạc hậu, trình độ dân trí còn quá thấp.
Tỷ lệ người lao động qua đào tạo ở nước ta còn thấp, chỉ có hơn 10%. Với
xã hội công nghiệp, bất cứ làm nghề gì cũng phải qua đào tạo . Số lao động ở
khu vực nông nghiệp của ta rất lớn, song những người làm nghề nộng hầu hết
không qua đào tạo
Muốn đẩy mạnh được công nghiệp hóa nông thôn thì việc đào tạo nghề
cho người lao đông ở nông thôn là rất cần thiết. Vì lẽ chúng ta có thể xây dựng
và mở rộng đường sá, xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, đưa máy móc, trang
thiết bị kỹ thuật về đến nông thôn và xây dựng ở nông thôn những nhà máy hiện
đại trong một thời gian ngắn. Nhưng để đào tạo được người lao động có đầy đủ
sức khỏe, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng được yêu cầu làm chủ được
những kỹ thuật hiện đại thì cần phải có một qúa trình lâu dài chứ không phải
muốn làm là làm được ngay.
Ngày 26/03/1998 Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 67/1998/QĐ-
TTg về việc chuyển giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo nghề từ Bộ Giáo
dục - Đào tạo sang Bộ Lao động Thương binh và xã hội, ngày 23/05/1998 Thủ
tướng chính phủ đã có thêm nghị định số 33/1998/NĐ-CP về việc tái thành lập
Tổng cục dạy nghề. Điều này nói lên tầm quan trọng của công tác dạy nghề và
sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác dạy nghề. Dạy nghề nông thôn là
một mảng của công tác dạy nghề này.
2.2 Thực trạng về công tác dạy nghề ở nông thôn Việt Nam hiện nay:
Đi đôi với việc tái thành lập Tổng cục dạy nghề, hệ thống các trường dạy
nghề cũng được thành lập trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, công tác đào tạo
nghề còn nhiều bất cập, đặc biệt là công tác đào tạo nghề ở khu vực nông thôn
người lao động theo đặc thù kinh tế của từng địa phương cụ thể, từng vùng kinh
tế cụ thể. Đòi hỏi phải làm được như vậy, có như vậy, mới phù hợp với sự phát
triển kinh tế trong tương lai của từng địa phương, từng vùng.
Chương 3 : CÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP DẠY NGHỀ Ở NÔNG THÔN
THEO TỪNG ĐẶC THÙ KINH TẾ Ở TỪNG ĐỊA PHƯƠNG, TỪNG
VÙNG.
Đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn là nhiệm vụ vừa mang tính
cấp bách và cũng là nhiệm vụ lâu dài để đảm bảo công cuộc công nghiệp hóa
nông thôn thành công.
3.1 Giải pháp lâu dài :
- Xây dựng định hướng phát triển kinh tế cụ thể cho từng địa phương, từng
vùng, sao cho phù hợp với đặc thù của địa phương đó, vùng đó. Việc này đồng
nghĩa với việc sẽ xây dựng những nhà máy, xí nghiệp trong tương lai phù hợp
với đặc thù của địa phương đó, vùng đó . Từ đó xác định được hướng đầu tư cụ
thể cho từng trường dạy nghề ở từng địa phương, từng khu vực. Việc đầu tư
trang thiết bị cho từng trường dạy nghề khác nhau thì khác nhau, sao cho phù
hợp với nhu cầu đào tạo của địa phương mà trường dạy nghề đó đảm trách.
Tránh cách làm cào bằng giống nhau như cách làm lâu nay gây lãng phí và
không hiệu qủa .
- Bước vào thế kỷ XXI, chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định
trong việc phát huy nội lực, phát triển đất nước, hợp tác và cạnh tranh trong hội
nhập khu vực và quốc tế, điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao học vấn của
người lao động. Vì vậy, việc phổ cập trung học cơ sở trong giai đoạn 2006 –
này không cao, rất phù hợp với trình độ văn hóa của người lao động ở nông thơn
hiện nay. Điều này đáp ứng được lượng lao động dôi thừa ở nông thôn.
- Tạo sự thu hút giáo viên dạy nghề về nông thôn công tác bằng những chế độ
ưu đãi đặc biệt . Chính quyền địa phương cần quan tâm sâu sát và tích cực hơn
nữa đối với công tác đào tạo nghề ở địa phương mình, tránh làm qua loa đại khái
.
- Các trường dạy nghề ở các địa phương phải luôn luôn chủ động tích cực
trong công tác đào tạo. Phải thực hiện đúng tiêu chí : Giảng dạy những gì mà
người học cần, xã hội cần chứ không phải giảng dạy những gì mình có. Khi học
nghề xong, người lao động phải áp dụng được những điều đã học vào công việc,
nếu không sẽ xảy ra lãng phí như lâu nay đã xảy ra.
- Đặc biệt có thể phát triển các trường nghề ngay trong các doanh nghiệp và
các cơ sở sản xuất mục đích đào tạo những lao động kỹ thuật chưa lành nghề,
làm việc ở những vị trí lao động phụ trợ hoặc những nghề đơn giản theo nhu
cầu của cơ sở sản xuất đó. Giáo viên là những cán bộ kỹ thuật, công nhân có
trình đô cao được cơ sở sản xuất cử ra trực tiếp tham gia giảng dạy. Quá trình
thực tập của học sinh cũng được tiến hành ngay ở những vị trí lao dộng cụ thể có
nhu cầu đào tạo của cơ sở sản xuất.
- Phải có chính sách khuyến khích học nghề mạnh hơn nữa và tích cực vận
động nhiều hơn nữa. Lâu nay chúng ta có chính sách khuyến khích học nghề
nhưng chưa kích thích được người học bỡi nhiều nguyên do, trong đó có nguyên
do học nghề xong thì người lao động cũng không áp dụng được những điều đã
12
học vào công việc hàng ngày của mình, những điều đã học không phù hợp với
nhu cầu người học.
- Tiếp tục phát huy các trung tâm hướng nghiệp, tìm việc làm, các câu lạc bộ
nghề, mở nhiều lớp ngắn hạn tại các khu dân cư , nhất là các lớp dạy nghề
truyền thống ( có kết hợp hiện đại hóa)
- Hiện nay một số nông thôn đang bị đô thị hóa nên cần xây dựng chương trình
- Chính quyền địa phương cần quan tâm sâu sát và tích cực hơn nữa đối với
công tác đào tạo nghề ở địa phương mình . Phải coi công tác dạy nghề như là
chìa khóa để phát triển kinh tế ở địa phương mình.
13
14
STT ĐỀ MỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 : LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI.
2
Hình thái kinh tế xã hội là gì ?
2
Định nghĩa
2
Phương thức sản xuất
2
Lực lượng sản xuất
2
Quan hệ sản xuất
4
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất
4
Trình độ lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
9
Vai trò vị trí của việc đào tạo nghề ở nông thôn
9
1.
1.1
a
b
c
1.2 a
b
1.3
1.3.1a
b
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
14