Tài liệu Tiểu luận: CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - Pdf 10

CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA
LẦN THỨ HAI VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN
KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ

Đề tài:
TP Hồ Chí Minh tháng 11/2012
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
1
GVHD: Trịnh Thành Công
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang
MSSV: K37.602.104
Lớp: K37_Sử B
Môn: Lịch sử Việt Nam cận đại
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
MỤC LỤC
I. Hoàn cảnh lịch sử 3
1. Tình hình thế giới 3
2. Nước Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất 3
II. Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp 4
1. Mục đích của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân
Pháp 4
2. Nội dung của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân
Pháp 4
III. Những biến đổi trong nền kinh tế-xã hội của Việt Nam từ sau Chiến tranh thế
giới thứ nhất 5
1. Những biến đổi trong nền kinh tế 5
2. Những biến đổi trong xã hội 10

vấn đề lạm phát, tăng giá và đời sống khó khăn của các tầng lớp lao động đã làm trỗi dậy các
phong trào đấu tranh chống chính phủ.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
3
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
II. Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Đông
Dương
1. Mục đích của chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp
Sau chiến tranh thứ nhất, tuy thắng trận nhưng nước Pháp đã chịu nhiều hậu quả hết sức
nặng nề. Do đó, để giải quyết những nhu cầu về kinh tế, chính trị và xã hội nước Pháp sau chiến
tranh, bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra và khôi phục vị thế của Pháp trong thế giới
tư bản, giai cấp tư sản Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa tập trung chủ yếu vào
Đông Dương và Châu Phi nhưng tập trung chủ yếu vào Việt Nam.
2. Nội dung của chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp
Về thời gian, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai được bắt đầu từ sau khi kết thức Chiến
tranh thế giới thứ nhất và chấm dứt trước cuộc tổng khủng hoảng 'kinh tế thế giới, tức là từ năm
1919 đến năm 1929.
Điểm nổi bật của chương trình khai thác thuộc địa lần hai là được tiến hành trên quy mô
lớn gấp nhiều lần so với trước chiến tranh.
Thời kì trước chiến tranh trong vòng 30 năm (1888-1918), tư bản Pháp đầu tư vào Đông
Dương trên dưới 1 tỷ Frang vàng, thì chỉ trong vòng 6 năm (1924-1929), con số đó đã tăng lên
đến 4 tỷ Frang.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
4
Biểu đồ thể hiện sự tập trung đầu tư vốn vào một số ngành kinh
tế chủ yếu của tư bản Pháp trong cuộc khai thác thuộc địa lần 2
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
Như vậy sự đầu tư có xu hướng tập trung vào nông nghiệp, chủ yếu lúa gạo xuất khẩu và
cao su. Trong khi đó vào đầu thế kỉ XX với “Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất”, sự đầu tư
được ưu tiên cho khai thác mỏ, giao thông vận tải và thương mại.

diện tích 10.000 ha, sản lượng từ 2000-3000 tấn/năm.
Nhìn chung, từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nông nghiệp Việt Nam đã có biến đổi
theo chiều hướng phát triển, tuy nhịp độ tăng trưởng vẫn còn tương đối thấp (khoảng 1,4%). Ở
khu vực kinh tế đồn điền, khoa học kỹ thuật đã được áp dụng, công cụ lao động đã được cải tiến,
công tác thủy lợi có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, do phương thức canh tác và trình độ kỹ thuật nông
nghiệp cũng còn rất hạn chế, bên cạnh đó ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt dẫn tới năng suất
không ổn định tuy diện tích và sản lượng vẫn tăng. Cùng với sự gia tăng dân số và tình trạng
mất cân đối giữa xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng (khoảng ¼ sản lượng lúa gaojdanhf cho xuất
khẩu), bình quân lương thực ngày càng giảm, dẫn tới nạn thiếu lương thực thường trực có tính
phổ biến ở nhiều nông thôn. Từ những nguyên nhân trên, đối với nông dân vấn đề ruộng đất đã
trở nên cấp bách, tạo ra tiền đề cho một cuộc cách mạng dân chủ bên cạnh cách mạng dân tộc.
b) Thủ công nghiệp
Đây cũng là thời kì tiểu thủ công nghiệp Việt Nam có những bước phát triển mới, các
ngành nghề thủ công truyền thống đã có sự quan tâm của chính quyền thuộc địa, nhiều hội đoàn
đã ra đời với mục đích bảo vệ quyền lợi người lao động thuộc ngành nghề.
Sự phát triển mới của tiểu thủ công nghiệp Việt Nam vào thời gian này còn có nguyên
nhân từ nhu cầu cao của thị trường trong nước, từ sự mở rộng và phát triển của các đô thị và sự
tập trung dân số ở các thị xã, thị trấn cũng như sự du nhập của các phương tiện máy móc kĩ
thuật từ nước ngoài.
Tiểu thủ công nghiệp phát triển chủ ysud ở Bắc Kì và Trung Kì (khoảng 7% cư dân sống
bằng nghề thủ công). Ngoài các ngành thủ công truyền thống cũng đã xuất hiện thêm một số
ngành mới, như: dệt, gốm sứ, mỹ nghệ, mộc…
Nói chung từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tiểu thủ công nghiệp Việt Nam đã có
những bước phát triển mới cả về số lượng ngành nghề cũng như số lượng người tham gia, ước
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
6
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
tính thời gian này có khoảng 108 nghề thủ công khác nhau, với tổng số thợ thủ công vào năm
1943 là 277.400, riêng Bắc Kì là 171.500 người.
Tuy nhiên tiểu thủ công nghiệp Việt Nam có một số hạn chế trong quá trình phát triển, đó

giai đoạn tiền tư bản để tiến sát gần với chủ nghĩa tư bản thực sự”, nhận xét đó có thể thực sự
chưa đúng với thực tế nhưng trong một chừng mực nào đó nó cũng đã phản ánh được sự phát
triển của công nghiệp Đông Dương cũng như Việt Nam bấy giờ.
d) Giao thông vận tải
Giao thông vận tải là một thành tố trong cơ sở hạ tầng, đã được thực dân Pháp chủ yếu
đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật, hoàn tất những công
trình đang dang dở và nâng cấp một số phương tiện giao thông vận tải mới.
Trên tuyến đường sắt xuyên Việt, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng các đoạn Vinh - Đông
Hà, Đồng Đăng - Na Sầm; đến năm 1931 đã xây dựng được 2389 km đường sắt trên đất Việt
Nam.
Đường bộ tiếp tục được xây dựng, nhiều con đường quốc lộ và liên tỉnh đã được rải đá
cấp phối và tráng nhựa. Đến năm 1930, Pháp đã mở được 15.000 km đường bộ, trong đó có
khoảng 2.000 km đường rải nhựa ,đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối nội.
Đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại. Nó là phương tiện giao thông
duy nhất lúc đó nối nước ta với các nước bên ngoài. Vì thế, cùng với quá trình hiện đại hóa các
hải cảng đã có như cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Pháp cho xây dựng các hải cảng mới
như Hòn Gai, Bến Thủy Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông
Cửu Long cũng được khai thác triệt để.
Như vậy sự phát triển của giao thông vận tải thời kì này đã góp phần thống nhất thị
trường dân tộc, tạo tiền đề phát triển kinh tế hàng hóa.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
8
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
e) Thương nghiệp
Thương nghiệp gồm ngoại thương và nội thương cũng có những bước tiến mới mà chủ
yếu là ngoại thương đã có những bước phát triển mới so với chiến tranh.
Ơ Việt Nam thời gian này xuất hiện các chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ Đông
Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội).
Ngoại thương là lĩnh vực buôn bán mà Pháp độc quyền. Thực dân Pháp dựng hàng rào
thuế quan để bảo hộ hàng hóa chính quốc bằng cách đánh thuế cao hàng hóa nước ngoài, đặc

Trên phương diện xã hội, sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới tác động của cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ hai, xã hội Việt Nam tiếp tục có sự phân hóa giai cấp sâu sắc và cùng
với nó là sự xuất hiện một hệ thống thành phố kiểu phương Tây.
a) Địa chủ phong kiến
Nét đặc trưng của xã hội thuộc địa là sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân và giai cấp địa
chủ phong kiến bản xứ.
Giai cấp địa chủ vì thế, không những không bị thu hẹp lại, mà trái lại được phát triển đủ
mạnh để có thể trở thành nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa. Thế lực này được đo bằng số
ruộng đất tập trung trong tay họ. Ở Nam Kỳ, mức độ tập trung ruộng đất cao hơn Bắc Kỳ và
Trung Kỳ.
Trong giai cấp địa chủ đã xuất hiện sự phân tầng rõ rệt: địa chủ nhỏ, địa chủ vừa và đại
địa chủ. Nam Kỳ là nơi tập trung nhiều đại địa chủ, có 2.449 đại địa chủ sở hữu từ 100 - 500 ha
và 244 đại địa chủ sở hữu trên 500 ha.
Nhìn chung, giai cấp địa chủ thời kỳ này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng đã
nắm trong tay một nửa diện tích canh tác. Đến năm 1939, Việt Nam có khoảng 6.500 địa chủ sở
hữu trên 50 ha ruộng đất, trong đó Nam Kỳ có 6.200, Bắc Kỳ có 200 và Trung Kỳ có 100 người.
Giai cấp “ngồi mát ăn bát vàng" này đã tách khỏi quá trình sản xuất, sống bằng việc phát
canh thu tô (tô tiền, tô hiện vật và tô lao dịch). Do sự nâng đỡ của chính quyền thực dân, giai
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
10
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
cấp địa chủ chiếm đại đa số trong cơ cấu chính quyền làng xã (Hội đồng kỳ mục, Hội đồng tộc
biểu, người đứng đầu các xã, tổng và làng thôn). Đồng thời, giai cấp này còn có đại biểu của
mình ở các cấp chính quyền bên trên như các Viện Dân biểu, Hội đồng quản hạt Rõ ràng,
giai cấp địa chủ trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của chính quyền thực dân.
b) Nông dân
Đây là thành phần chiếm tuyệt đại đa số (khoảng 90% trong xã hội Việt Nam. Trong quá
trình sản xuất, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa, giai cấp này đã chuyến biến
sâu sắc và có sự phân tầng rõ rệt : phú nông, trung nông, bần nông và cố nông.
Giai cấp nông dân là giai cấp bị bóc lột và áp bức nặng nề nhất bởi thuế khóa và phu

Sơn Hà, công ty vận tải sông biển của Bạch Thái Bưởi, xưởng dệt của Lê Phát Vĩnh. Nhiều đồn
điền ở Nam Kỳ rộng hàng nghìn mẫu thu hút hàng trăm công nhân. Sau chiến tranh, xuất hiện
những cơ sở kinh doanh mới như Nhà máy gạch Hưng Ký ở Đáp Cầu (Bắc Ninh), xí nghiệp dệt
Vĩnh An ở Huế. Lợi ích kinh tế của bộ phận tư sản dân tộc không đồng nhất với lợi ích kinh tế
của chính quyền thực dân. Họ bị chèn ép từ nhiều phía, từ tư sản Pháp đến các nhà tư sản ngoại
kiều. Vì thế, để tồn tại và phát triển, bộ phận này đã kết hợp với nhau trong kinh doanh và do đó
ít nhiều họ có tinh thần dân tộc.
Nhìn chung, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sản Việt Nam lớn mạnh và
trưởng thành. Đại diện cho thế lực kinh tế của giai cấp xã hội đang lên này là những nhà doanh
nghiệp sáng giá như Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Lê Phát Vĩnh.
Dẫu vậy, giai cấp tư sản Việt Nam còn rất ít về số lượng cũng như vốn liếng. Tổng số
vốn kinh doanh của họ chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản nước ngoài. Tư sản Việt Nam chủ
yếu kinh doanh trong thương nghiệp, ít kinh doanh trong khu vực sản xuất. Trên thương trường,
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
12
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
giai cấp tư sản Việt Nam lại đụng độ không cân sức với hai đối thủ : tư sản Pháp và tư sản Hoa
kiều.
d) Công nhân
Giai công nhân Việt Nam ngày càng trở nên đông đảo. Đến năm 1929, chỉ tính riêng
công nhân trong các doanh nghiệp của người Pháp đã là 221.050 người. Ngoài ra, có khoảng
vài vạn công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư sản Việt Nam và tư sản ngoại kiều,
chưa kể số công nhân làm theo mùa, theo thời vụ. Về số lượng, giai cấp công nhân Việt Nam
chiếm trên 1 % dân số. Tỷ lệ đó là nhỏ bé, nhưng một nước thuộc địa con số đó cũng rất đáng
kể.
Nhìn trên tổng thể, công nhân được phân bố trên 2 vùng rõ rệt tuỳ theo điều kiện tự
nhiên: miền Bắc tập trung công nhân công nghiệp, miền Nam tập trung công nhân nông nghiệp.
Đại bộ phận công nhân công nghiệp tập trung ở Hòn Gai, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Vinh,
Sài Gòn, Chợ Lớn.
Điều kiện sống và làm việc của công nhân rất cực khổ. Họ phải làm việc trung bình từ 10

chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và giáo dục của thực dân Pháp trong những năm
20 của thế kỉ XX đã du nhập vào nước ta phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thái
thực dân.
Sự có mặt của một phương thức sản xuất hiện đại đã có tác dụng kích thích sự phát triển
kinh tế dân tộc, thu hẹp dần các quan hệ sản xuất phong kiến và tiền tư bản chủ nghĩa ở nước ta.
Có thể nói sự kết hợp, đan xen giữa các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với quan hệ
sản xuất phong kiến, sự thống trị và chi phối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở thành
nhân tố quyết định xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam trong thời điểm này.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
14
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
PHỤ LỤC
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
15
Những nguồn lợi của tư bản Pháp ở Việt Nam trong cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ hai
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
16
Ngân hàng Đông Dương Công nhân đang cạo mủ ở đồn điền cao su
Công nhân đang làm việc trong xưởng cán mủ cao su hãng Michelin
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
17
Cảng Bến Thủy (được xây dựng trong cuộc khai thác thuộc địa lần 2)
thời Pháp thuộc
Chợ Bến Thành (Sài Gòn) Chợ Đông Ba (Huế)
Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 Lịch sử Việt Nam cận đại
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status